www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

IV

(tiếp theo)

 

Ngày một vị cao tăng về chủ tŕ một Thiền viện, một học tăng nói:

Con được nghe là ngày đức Phật Thích Ca bắt đầu hành đạo, sen vàng nở rộ ao hồ nơi nơi. Hôm nay Sư phụ về chủ tŕ viện này, xin thầy cho biết có điềm ǵ báo tin tốt lành này không?

Vị cao tăng trả lời:

Sớm nay ta vừa dọn tuyết ngoài cổng chùa.

Có thoại vê Hoà Thượng Bạch Ân (1622-1693), người đă đưa Thiền Tông từ Trung Quốc vào Nhật Bản kể rằng, một bữa nọ, khi Hoà Thượng đang thuyết pháp th́ có một tu sĩ Thần Đạo hỏi rằng: “Giáo chủ của tôi có tài cầm bút, đứng bên này sông, và bên bờ bên kia có một đồ đệ giơ cao một tờ giấy, và thấy viết trên tờ giấy đó câu Nam Vô A Di Đà Phật. Hoà Thượng có làm được phép lạ như vây không?” Hoà Thượng Bạch Ẩn trả lời : “ Giáo chủ của thầy quả là có tài lạ. Nhưng luyện những phép lạ không phải là chủ trương của Thiền. Phép lạ của tôi là đói th́ ăn, khát th́ uống.”

Một Thiền thoại khác kể rằng Hoàng Bá, đi cùng một thầy tăng đến  bên bờ một con sông, và đang t́m cách qua sông. Thầy tăng nọ nhẹ bước trên mặt nước vượt ngang sông. Hoàng Bá thấy vậy nói : “Ta không ngờ thầy tăng đó có phép lạ như vậy, bằng không th́ ta đă d́m thầy đó xuống đáy sông rồi.”

Trong đời sống b́nh thường, người ta thường không nh́n thấy cái như thế là như thế của mọi sự vật. Có một cao tăng đă nói; “Cái đẹp  của núi là núi là núi, cái đẹp của nước là nước là nước. Đó là cái đẹp của mọi sự vật, mà người ta nhận ra chúng, người ta ca tụng chúng, trước khi có ư nghĩ  về sự hữu dụng hay vô dụng, chủ thể hay khách thể, của ta hay không phải của ta, có linh thiêng hay không linh thiêng, tốt hay xấu, tuyệt vời hay tầm thường. Cái như thế là như thế của bông hoa, là lúc nó chưa được chọn để tiêu biểu cho một sự vật nào khác, để đi ra ngoài cái nó là chính nó, để chuyễn biến rồi tiêu biểu cho một sự vật khác, quan trọng hơn chính nó.

Có người hỏi Nam Tuyền

-   Đạo là gi?

Đáp:

-   Đạo là b́nh thường tâm

Nhưng thoại trên đây, đặt những điều siêu việt khúc mắc của Thiền học, cạnh những hành động thông thường cụ thể hàng ngày, tạo lên nét châm biếm, soi sáng cho người nghe, nhận ra những sự vật mới, trong ánh sáng mới, không cần đến bằng cớ, và từ đó nở nụ cười Thiền.

Có ông đạo hỏi Thiền sư Mục Châu, một cao tăng từ hậu bán thế kỷ IX:

-   Suốt ngày ăn cơm mặc áo, làm sao khỏi mặc áo ăn cơm

-   Mặc áo ăn cơm.

Thầy kia trả lời không hiểu; Sư đáp:

-   Mặc áo ăn cơm.

Có một thời, chư tăng tu tập tại thiền viện của Thiền sư Đại Châu, hàng ngày ra đồng làm ruộng. Đến giờ ngọ, nghe tiếng trống báo thụ trai, có một thầy tăng, buông cuốc, ngửa mặt lên trời cười ha hả. Thiền sư Đại Châu nh́n thấy vả khen: “Thật là một con người thông minh! Cứ thế là tới được Phổ Môn của Bồ Tát Quán Thế Âm.” Chiều về Thiền viện, Thiền sư cho gọi thầy tăng lên hầu và hỏi: “ Lúc trống điểm giờ thọ trai, có ǵ làm thầy cười như vậy.” Thầy tăng trả lời: “Bạch sư phụ, có ǵ đâu. Nghe trống điểm giờ thọ trai, th́ con về thọ trai!” Đến lượt Thiền Sư Đại Châu ngửa cổ cười ha hả.

Câu trả lời của thầy tăng là tia sáng rạng soi cho nhiều điều bí ẩn, siêu việt mà người nghe, tuy là sư phụ của thầy tăng, bỗng chợt nh́n ra. Tiếng cười của thầy tăng khi nghe tiếng trống báo giờ thọ trai và tiếng cựi của Thiền sư Đại Châu lúc này là tiếng cười khi thiền giả  nh́n thấy và thấu hiểu tính nó là nó của sự vật. Đó là tiếng cười đón nhận, tiếng cười đồng ư, tiếng cười tán thưởng, tiếng cười ngạc nhiên đầy thông cảm.

Thế kỷ XX, ở Nhật Bản có Thiền sư  Taji, hấp hối trên giường bệnh. Các cao đồ của Thiền sư lũ lượt về thăm, túc trực quanh giường bệnh của thầy, hy vọng được nghe những lời khẩu quyết cuối cùng của Thiền sư. Một người trong đám cao đồ đó biết là sư phụ thích ăn một loại bánh ngọt b́nh dân, bèn sai người ra chợ mua. Thiền sư nhấm miếng bánh ngon lành. Có một cao đồ lên tiếng hỏi Thiền sư có điều ǵ dậy dỗ cho đám đệ tử. Thiền sư Taji, thều thào:

-  Chiếc bánh ngon quá!”

 

Một Thiền thoại tương tự như thiền thoại Nhật Bản trên đây chép rằng:

Sư tổ đang hấp hối. Cả tổ đường từ vị cao tăng trọng tuổi nhất cho tới chú tiểu nhỏ tuổi nhất đều đứng quanh giường tụng kinh cho sư Tổ. Vị cao tăng trọng tuổi nhất nghiêng người xuống Tổ để chờ nghe nhưng khẩu quyết cuối cùng của Tổ. Sư Tổ từ từ mở mắt, và thềo thào nói vào tai vị cao tăng: “Bảo cho họ biết là Sụ Thật tựa như một ḍng sông.” Chúng tăng truyền miệng từ người này qua người đứng kế bên, và lời khẫu quyết truyền quanh pḥng tới chú tiểu trẻ nhất ở cuối pḥng. Chú tiểu lập lại :”Sự thật tựa như một ḍng sông. Sư Tổ dậy vậy nghĩa là ǵ?”. Câu hỏi này lại truyền quanh pḥng, theo chiều ngược lại cho tới tai vị cao tăng trọng tuổi nhất chùa. Ngài cúi xuống nói bên tai Sư Tổ, hỏi: “Sự thât tựa như một ḍng sông. Sư phụ dậy vậy ư ra sao?” Sư tổ chậm chạp mở mắt rồi thều thào nói: “Thế th́ sự thật chẳng giống một ḍng sông.”

Giới nghiên cứu cho rằng có sự tương đồng giữa Thiền thoại trên đây với triết thuyết của ngài Long Thọ, Nagarjuna, một đệ tử chân truyền của Phật Thích Ca. Theo ngài Long Thọ thời bất kỳ ư niệm nào cũng có thể có song đề, alternative, đối lập với nhau. Cả hai có thể cùng đúng, cả hai có thể cùng không đúng. Điều này cho thấy sự vô ích của những lư luận chỉ dựa trên những triết thuyết cao xa.

Song đề, như vậy cũng là một căn nguyên của nụ cười Thiền, như kể trong thoại kế tiếp:

Có Thiền thoại kể rằng, có một thầy tăng được Mă Tổ sai mang một lá thư tới ngài Huệ Trung. Nhận thư, rồi ngài Huệ Trung hỏi thầy tăng là Mă Tổ dậy những ǵ cho thiền sinh. Thầy tăng đáp: “Tâm là Phật”. Huệ Trung hỏi tiếp: “ ngoài ra c̣n gi khác”. Thầy tăng đáp: “Vô Phật vô tâm”.

Phải chăng đây là cái cười của Thiền giả khi vào tới cảnh giới Bát Nhă để thấy trước mắt cái ǵ có, là có v́ cái ǵ không; và cái ǵ không là không v́ cái ǵ có?  Phải chăng ở cảnh giới này trực giác Bát Nhă đă thay thế cho luận lư học? 

 

 

 

 

Xem Kỳ 15

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com