www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

IV

 

 

Hương Nghiêm có hai ông thầy lớn: Bách Trượng và Quy Sơn. Cả hai vị sư phụ và sư huynh cùng không giúp cho ông mở được huệ nhăn. Thế rồi, chỉ v́, tiếng một viên sỏi bắn vào bụi tre đă giúp ông khai ngộ. Việc giác ngộ của Hương Nghiêm không do sư phụ và sư huynh mà do một truyện bất ngờ. Phải chăng chính là nguyên do nụ cười Thiền của thoại về Hương Nghiêm?

Không phải nụ cười Thiển chỉ nở trên môi Thiền giả trong những giây phút trang trọng như khi giác ngộ, nụ cười Thiền c̣n quan trọng hơn đối với ngưới học Thiền, v́ nụ cười Thiền công chính nở trên môi người học Thiền thường thường không phải trong khi ngồi Thiền, mà trong khi họ phải gánh vác những công việc thường ngày.

H́nh ảnh nụ cười Thiền  làm vơi biển khổ này hiển hiện trong hai câu thơ của Bàng Uẩn như sau: [1]

神   通   並   妙  用

Thần thông tịnh diệu dụng

運  水  及  班  柴

Vận thuỷ cập ban sài

Nghĩa là:

Thế nào là thần thông, là diệu dụng

Là gánh nước, là đốn củi.

Giới nghiên cứu Thiền Sử đồng ư là khi : [2] “đạo Bồ Tát đến Trung Quốc và được dân tộc này thâu thái, bèn trở thành một tôn giáo mà ngày nay mang tên là Phật Giáo Thiền Tông. Thiền Tông cởi bỏ trang phục Ấn Độ; những trực giác siêu h́nh ṿi vọi cao được thay thế bằng những khẩu quyết thực tiễn cho đời sống hàng ngày, và những huyễn ảnh muôn mầu phong phú mang mầu sắc Ấn Độ nhường bước cho những hoạt động sống thực tựa như việc đốn củi trồng thông. Tuy vậy. Chẳng có ǵ là phàm tục là thô lậu, mọi sự vật giao tiếp với Thiền Tông đều mang những đường nét huyền ẩn” dưới những mầu sắc châm biếm, duyên hài đưa người học Thiền về cơi b́nh thường.

Trong cơi b́nh thường, người Trung Quốc [3] “mang luôn cả Phật cho tham dự thiết thực trong đời sống cộng đồng của đại chúng. Ngài hết ngồi trên ṭa cao, trang điểm bẩy báu, thuyết pháp về những đề tài trừu tượng như Vô Ngă, Tánh Không, hay Duy Tâm. Trái lại ngài nắm lấy cán cầy, xới đất, gieo mạ và gặt lúa. Xem dáng dấp bên ngoài, ngài chẳng khác ǵ một người như mọi người mà người ta thường gặp trong nông trại, ngoài đường phố. Ngài y hệt một người chăm chỉ như chúng ta. Phật trong sinh hoạt Thiền Trung Quốc của ngài, không khoa trương hoạt cảnh Hoa Nghiêm ra ngoài, mà để nằm trọn vẹn trong ḿnh. Chỉ có Phật mới nhận ra ngài.”

Không riêng ǵ tại Trung Quốc, mà khắp cả vùng Viễn Đông, thiên tài thực tiễn của người Đông Á đă đưa Phật trở lại mặt đất, ngài cũng bán mặt cho đất bán lưng cho trời, làm việc cùng người nông dân, rồi trán cũng đẫm mồ hôi, cũng bết bùn. H́nh ảnh đức Phật, với khuôn mặt lộng lẫy nơi rừng Thệ Đa, có mười phương bồ tát vây quanh chiêm ngưỡng, đă được thay thề bằng bức tranh Thiền Tông số 10: Thơng Tay vào Chợ. (Xem Phụ Bản  VI)

Có nhận thức được sự thay đổi như vậy, người đọc sách Thiền mới có thể thông cảm với Thoại của Trí môn sau đây:

Có người hỏi Trí Môn Quang Tộ: “Phật là ai?”

Đáp: “Sau khi cởi giầy ra, ông ấy chạy chân không.”

Khi các Bồ Tát ở trong cảnh giới tự thọ dụng thân, Sambohogàkaya, các ngài phục sức rất ư tề chỉnh trong tư thế trang trọng. Khi lư tưởng Bồ Tát hạ thấp gần với đời sống con người, tức th́ ngài hiện h́nh bằng Hóa Thân, Nirmanakaya của ḿnh, ngài tham dự công vụ thực tiễn phụng sự chúng sinh, thài độ siêu việt của ngài dần dà trở thành mềm dịu, qua trung gian của sự biến thái thế tục hóa. […] Ngài không chễm trệ trong một thánh đường làm đối tượng sùng bái, nhưng ngài có đó để sống giữa chúng ta là một mẫu người thường như chúng ta [4].

Sách Truyền Đăng Lục, tập XI chép Thiền thoại về tôn giả Nghiêm Dương ở Tân Hưng như sau:

Có thầy tăng hỏi:

Phật là ǵ?

Cục đất

Pháp là gi?

Đất lăn

Tăng là ǵ?

Ăn cháo ăn cơm.

Trái lại, Ḥa Thượng Viên Ngộ đưa người học thiền về cơi b́nh thường này bằng nhửng h́nh ảnh rất thơ mộng, như sau:

一  塵  舉  大  地  收

Nhất trần cử đại địa thâu

一  花  開  世  界  起

Nhất hoa khai thế giới khởi

Dịch là:

Một mảy bụi dấy lên là một đại đia thâu trọn

Một đoá hoa nở là cả thế giới bừng dậy.

Giới nghiên cứu cho rằng Hoà Thượng Viên Ngộ đă khởi hứng từ đoạn kinh Hoa Nghiêm sau đây:

Tất cả [..] do v́ Như Lai có uy lực thần thông biến một thân ngài đầy khắp cả hư không; do v́ ngài có thần lực làm cho hết thẩy chư Phật, hết thẩy quốc độ huy hoàng nhập vào trong thân thể Như Lai; do v́ Như Lai có thần lực thị hiện tất cả sắc tướng của Pháp giới ngay trong một vi trần; do v́ Như Lai có thần lực có thần lực thị hiện tất cả chư Phật trong quá khứ với tất cả những hành động của quư ngài trong một lỗ chân lông.

Người đọc thơ Ḥa Thượng Viên Ngộ, không khỏi nhớ tới một câu hát nói của Nguyễn Công Trứ:

Nhỏ không trong và lớn cũng không ngoài

Hạt bụi đây là h́nh ảnh của cái nhỏ không trong; đại địa đây là h́nh ảnh cái lớn không ngoài. Nay hạt bụi thâu trọn đại địa là h́nh ảnh của cái nhỏ không trong chứa đựng cả cái lớn không ngoài; vậy hạt bụi vừa nhỏ hơn vừa lớn hơn đại địa, tất nhiên hạt bụi phải bằng đại địa, hay nói một cách khác hạt bụi và đại địa đổng nhất với nhau. Đó là h́nh ảnh của cái Một. Với cái Một đó, một bông hoa dại nở bên đường nào có khác chi cả thế giới, cả vũ trụ.

Cái nh́n sự vật như Hoà Thượng Viên Ngô, trong hai câu thơ trên đây, chính là phong thái huyền bí và tâm linh của Thiền, cũng như của mọi người Đông Á với quan niệm dương sao âm vậy, quy chiếu những ǵ là siêu nhiên vào những mầu sắc của cơi thế gian. Có người c̣n coi phong thái huyền bí và tâm linh này là phản ảnh của quan điểm thần bí duy nhiên, của phái Thiền Tông. Nhà học giả Hồ Thích cho đó là sự nổi loạn tâm lư của người Trung Quốc chống lại những siêu h́nh khúc mắc của Phật giáo. Nhưng gần đây có người lại cho đó là một lối định giá sâu sắc của người Trung Quốc. Lối định giá này đặt những ǵ thần bí thần linh vào trong những hoạt động b́nh thường hàng ngày, đo đó nầy sinh ra nét châm biếm, tỷ như trong Thiền thoại dưới đây [5]:

Ngũ Tổ quở nhẹ đệ tử Viên Ngộ của ngài:

-   Được lắm, nhưng có chút chưa ổn.

Viên Ngộ gạn hỏi hai ba lần chút ấy lả ǵ, rốt cùng Ngũ Tổ nói: 

-   Ông nói đến Thiền nhiều quá.

  Viên Ngộ phản ứng:

-   Sao vậy? Học Thiền th́ tự nhiên phải nói Thiền, Sư phụ ghét là tại sao? 

Ngũ Tổ nói: 

-   Như một buổi nói chuyện thường ngày vậy, th́ tốt hơn.

      Một ông tăng có mặt lúc đó hỏi:

-   Sao Hoà Thượng ghét người ta nói tới Thiền? 

-   V́ nó làm cho ta bợn dạ.

 

 

[1] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập III, Sđd., tr. 114

[2] Daisetz teitaro Suzuki, ibid.,tr. 598.

[3] Ibid. tr. 107.

[4] Ibid. tr. 602-603

[5] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập I, Sđd., tr. 570

 

 

 

 

oOo

 

Xem Kỳ 14

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com