www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 


 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

IV


 

Kinh Kim Cương chép: “Như Lai thường dậy rằng các thầy Tỳ Khoe nên biết phép ta nói ra ví như chiếc bè đưa qua sông: pháp c̣n nên bỏ, huống nữa chẳng phải là pháp.”

Trung Bộ Kinh giảng rộng thí dụ trên như sau [1]:

Này các thầy tỳ kheo, lời ta dạy ví như chiếc bè, để đưa qua, không để mang giữ. Hăy nghe kỹ lời ta đây. Ví như có người suốt ngày đi đường mệt nhọc, gặp phải một con sông rộng nước sâu; bờ sông bên này đầy lo sợ và hiểm nghèo, c̣n bờ bên kia th́ yên ổn, không sợ sệt, nhưng không có ghe thuyền đưa qua sông, mà cũng không có cầu bắc nối hai bờ. Ví như người ấy nghĩ bụng như vầy: Quả thật sông rộng nước sâu, bờ bên này đầy lo sợ và hiểm nghèo, c̣n bờ bên kia th́ yên ổn không sợ sệt; nhưng không có thuyền mà cũng không có cầu đưa ta qua bờ bên kia. Sao ta không thử lượm lặt những lau sậy, những que cành chà là, kết lại làm bè coi sao? Rồi ngồi trên bè, ta dùng tay dùng chân làm chèo, chèo êm qua bờ bên kia. Theo đó, này các thầy tỳ kheo, ví như người ấy lượm lặt những lau sậy, những que cành chà là, kết lại làm bè, rồi dùng tay dùng chân làm chèo, chèo êm qua bờ bên kia. Bấy giờ, sông qua rồi, bờ đến rồi, ví như người ấy nói vầy: Quả thật chiếc bè ấy đdă giúp ta nên việc lớn. Nhờ nó chở tôi, và tôi dùng tay dùng chân làm chèo, tôi mới qua êm được đến bờ bên kia; bấy giờ phỏng như tôi đội chiếc bè trên đầu hoặc mang nó trên vai, và cứ thế mà lên đường đi đâu tùy thích? Các thầy tỳ khep nghĩ sao?  Người ấy dùng bè có khôn ngoan không?

Bạch ngài, nhất định là không. 

Vậy, nếu là người khôn ngoan, người ấy phải xửtrí làm sao với chiếc bè? Nay các tỳ kheo, người ấy nghĩ như vầy: Quả thật chiếc bè ấy đă giúp ta nên việc. Nhờ ngồi trên bè, và chèo bằng tay bằng chân, tôi qua êm được bờ bên kia. Giờ đây, nếu tôi bỏ lại chiếc bè ấy bên bờ, hoặc vứt mặc nó ch́m xuống nước, và tôi lại tiếp tục lên đường? Các vị tỳ kheo, nếu làm vậy, người ấy đáng là người khôn ngoan khéo xử trí với chiếc bè. 

 

Cũng như vậy đó, các vị tỳ kheo, giáo pháp tôi dậy các thầy ví như chiếc bè, cột để đưa qua, không phải để mang giữ. Thấu rơ thí dụ ấy, th́ đối với pháp, dharma, các thầy c̣n phải xả thay huống nữa là cái phi pháp, adharma.

 

Thế th́ phải chăng truyện xé kinh đốt sách cũng chẳng khác ǵ truyện chiếc bé pháp: đâu có nhất thiết là những hành động  phạm thánh hay bài ảnh tượng, và đồng thời nhưng hành động xé kinh đốt quyển đó có khả năng tạo nên nụ cười Thiền.

Cơ bản lập giáo của Thiền Tông đặt trên bốn câu thơ sau đây [2]:

 

不  立  文  字

Bất lập văn tự

教  外  別  傳

Giáo ngoại biệt truyền

真  指  人  心

Chân chỉ nhân tâm

見  性  成  佛

Kiến tính thành Phật.

Nghĩa là:

Chẳng lập văn tự

Truyền riêng ngoài giáo

Trỏ thẳng tâm người

Thấy tính thành Phật.

 

Điều đáng để ư là bốn công thức này không phải của Sơ Tổ Đạt Ma, mà do người đời sau đề ra, nay không biết rơ là ai, tuy có người cho là của Ḥa Thương Nam Tuyền. Hai câu đầu định cơ bản lập tông: không y theo kinh điển, không cấu tạo tư tưởng lư luận; Hai câu sau là là phương pháp thể nghiệm: nh́n thẳng vào ḷng người, đến khi nào thấy tính liền thành Phật, thế nên không có ǵ có thể nói thành lời được. Giới Thiền học cho đó là phép trực truyền tựa như trong Thiền thoại trực truyền từ Phật Thích Ca đến Phật Ca Diếp. Đằng khác, ngay trong những giây phút thiêng liêng nhất, người ta vẫn thấy những nét bài ảnh tượng cùng những nét duyên hài, tỷ như lời thư của Đại Huệ, mô tả giây phút giác ngộ của Động Sơn [3]:

Lời cảnh giác bổng làm sáng mắt Động Sơn, rồi th́ chẳng có tiêu tức nào đáng thông qua, chẳng c̣n đạo lư nào đáng nêu lên nữa. Động sơn lậy [sư phụ Vân Môn] rồi nói:

Từ đây về sau, tôi sẽ dựng thảo am ở nơi không có dấu vết người; không cất lấy một hạt cơm, không trồng lấy một cọng rau, để tiếp đăi khách mười phương lui tới; tôi sẽ v́ họ mà nhổ hết những  đinh những móc; tôi sẽ dính đầy mồ hôi, những tấm áo hôi hám, khiến cho họ hoàn toàn sạch sẽ và thành những vị tăng xứng đáng.”    

Vân Môn cười và nói:

    Cái thân không lớn hơn trái dừa mà cái miệng sao mà rộng vậy thay.

Giới nghiên cứu đồng ư là ngôn cú thường phạm thánh, blasphemy, im lăng thường dối trá, Đứng trên ngôn cú và im lặng có một lối thoát [4]. Người đọc tự hỏi rằng lối thoát đó phải chăng là nụ cười Thiền ? Con người ra đời là đối mặt với cái khổ làm người. Bằng nụ cười Thiền, con người có thể chút nhẹ được cái khổ làm người trong giữa biển khổ ở cơi trần này. Nụ cười Thiền bàng bạc trong kinh điển, sách luận. Ai đi t́m ắt cũng thấy.  

Thiền thoại thứ nhất cho thấy nụ cười thiền là Thiền thoại chép cuộc hội kiến giữa Hoà Thượng Chánh Thọ Lăo Ông và học tăng Bạch Ẩn Huệ Hạc (1683-1768), tóm tắt như sau [5]

Một chiều hè, Bạch Ẩn đến tŕnh bày những kiến giải của ông lên sư phụ, lúc đó đang hóng gió trước hiên. Sư bảo: “Tṛ nhảm!”. Bạch Ẩn lập lại trong tiếng cười gằng mỉa mai :”Tṛ nhảm!”. Sư liền nắm lấy học tṛ đánh đá, rồi xô ra ngoài mái hiên. Đang mùa mưa, Bạch Ẩ té xuống một vũng śnh. Lát sau tỉnh dậy, Bạch Ẩn lại vào lậy thầy, vá lại bị thầy mắng: “Đồ súc sinh ở hang động.”

Bữa sau, Bạch Ẩn nghĩ rằng sư phụ không hiểu nổi kiến giải cao thâm của ông nên quyết định bằng mọi cách phải làm cho ra lẽ. Ông vào phương trượng, đem hết tài hùng biện ra tranh luận với sư phụ, và nhất định không chịu nhường một tấc đất. Sư nổi cơn thịnh nộ, chụp lấy Bạch Ẫn, giáng cho mấy bạt tai, rồi xô ra khỏi cửa. Ông rơi từ gác cao xuống chân tường đá, mê man như bất tỉnh. Sư ḍm xuống ông tăng cười ha hả. Tiếng cười đánh thức Bạch Ẩn. Ông ráng ḅ lên, nhưng sư phụ chưa tha c̣n mắng tiếp: “Đồ súc sinh ở hang động.”

Bạch Ẩn tuyệt vọng, tính chuyện bỏ thầy ra đi. Một ngày nọ, trên đường khất thực, ông dùng bước trước nhà một bà lăo, bà không cho cơm, ông đứng yên trước cửa như không biết ǵ đến sữ khước từ của bà ta. Tâm thần ông đang tập trung cao độ vào câu hỏi làm ông bận tâm. Bà lảo nổi giận, tưởng ông không đếm xỉa ǵ tới lời bà nói. Sẵn cây chổi trong tay, bà đập lên đầu ông bảo phải cút đi ngay. Cây chổi đập mạnh làm bẹp nón t́ lư của ông, c̣n ông th́ ngă xỉu xuống đất. Giâu lâu ông tỉnh dậy, và bỗng nhiên dưới mắt ông tất cả hiện ra sáng rơ thông suốt. Trân đ̣n t́nh cờ hốt nhiên mở mắt cho ông trước chân lư Thiền, từ trước hoàn toàn bị khuất lấp ở ông. Ông mừng không kể xiết, vội quay về chùa với sư phụ. Vừa đặt chân tới cổng ngoài th́ sư phụ ông đă nói: “Bữa nay đem tin vui ǵ về đây? Vào đây mau!”. Bạch Ẩn thuật lại sự việc vừa qua. Sư phụ ông vỗ vai ông nói: “Được rồi đấy! Được rồi đấy.”

Thiền thoại thứ hai cho thấy nụ cười Thiền là thoại về bữa điểm tâm của Đức Sơn Tuyên Giám (780-865). Thoại kể rằng [6]:

Đức Sơn Tuyên Giám nổi tiếng là một người khảo luận sâu sắc về kinh Kim Cương. Khi đó chủ đích của Đức Sơn là đi tới Long Đàm t́n gặp Thiền Sư Sùng Tín. Trên đường leo núi, ngài dừng chân tại một quán trà, và hỏi bà chủ quán có ǵ để điểm tâm.. Trong tiếng Hán, chữ điểm tâm c̣n có nghĩa là chấm điểm tâm linh. Thay v́ dọn cho du tăng một bữa điểm tâm, bà chủ quán hỏi:

Thầy mang cái ǵ trên lưng vậy?

Những bản sớ giải Kinh Kim Cương

 

Th́ ra thế! Thầy cho tôi hỏi một câu có được không? Nếu thầy trả lời trúng ư tôi th́ xin đăi thầy một bữa điểm tâm; nếu thầy chịu, xin mời thầy sang quán khác.

 

Đức Sơn Đồng ư. Bà chủ quán trà hỏi như sau:

 

Trong kinh Kim Cương tôi đọc thấy câu này : quá khứ tâm bất khả đác, vị lai tâm bất khả đắc. Vậy thầy muốn điểm cái tâm nào?

Câu hỏi bất ngờ từ một người đàn bà quê mùa có vẻ tầm thường ấy đă hoàn toàn đảo lộn tài đa văn quảng kiến của Đức Sơn. Tất cả kiến thức của ngài về kinh Kim Cương cùng những sớ giải ngài đă viết ra không giúp ngài trả lời câu hỏi của bà chủ quán. Nhà học giả này phải ra đ́ t́m quán khác. Không những thế ngài c̣n vứt bỏ cái xí đồ táo bạo là khuất phục các Thiền sư, bởi lẽ khi mà chẳng trả lời nổi câu hỏi của bà chủ quán nước bên đường, th́ mong ǵ khuất phục nổi một thiền sư thực thụ. Cuối cùng, tới Long Đàm, ngài đem tất cả những sớ giải vê kinh Kim Cương, mà ngài từng coi trọng, đi đâu cũng mang theo, ném hết vào lửa đốt thành tro.

 

 


[1] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập I, Sđd. tr.235-236.

[2] Daisetz teitaro Suzuky,Thiền Luận Tập I, Sđd., tr. 279.

[3] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập II, Sđd., tr. 35-36

[4] Conrad Hyers, The Laughing Buddha, Zen and the Comic Spirit, ibid., p. 62

[5] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập I, Sđd., tr.559-560.

[6] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập II, Sđd., tr. 66-67.

 

 

 

 

oOo

 

Xem Kỳ 12

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com