www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

IV


Thiền sử chép rằng [1]: Đức Sơn (779-865) nghiên cứu tinh thâm kinh Kim Cương. Nghe nói có một môn phái là Thiền gác tất cả kinh điển để nắm thẳng tự nơi tâm, Sư t́m đến ngài Long Đàm tham học. Một đêm kia, Sư ngồi ngoài chùa miên man nghiền ngẫm diệu lư Thiền. Hoà Thượng Long Đàm bảo: “Sao chưa vào đi nghỉ?” Sư bạch: “Trời tối như mực.” Ḥa Thượng Long Đàm đốt lên ngọn đèn cầy trao cho Sư. Sư vừa tiếp lấy th́ Hoà Thượng vụt thổi tắt. Sư liền đại ngộ.[2] Sau khi đại ngộ với Hoà Thượng Long Đàm, Đức Sơn gom tất cả những bài giải luận kinh Kim Cương do ông soạn ra, mà ông hằng quư mến, rồi nổi lửa đốt, và nói: “[…] học với chẳng học, minh ta ta biết.”

 

Từ giă Hoà Thượng Long Đàm, sư Đức Sơn lên núi tổ Qui Sơn. Đến nơi, Sư cắp áo dưới nách đi thẳng vào phương trượng, ngó qua ngó lại hỏi: “Có ǵ? Có ǵ?” Qui Sơn không đáp lời. Sư bỏ ra đi. dến tăng đường, sửa lại uy nghi, trở lại phương trượng. Vừa qua khỏi cửa, Sư đưa cái tọa cụ lên, nói: “Ḥa Thượng!” Qui Sơn vội nắm cái phất trần. Sư hét lớn, tồi rũ tay áo ra đi. Chiều ấy, Hoà Thượng Qui Sơn nói với tăng chúng: “Ông ta sau này lên chót núi cheo leo, kết cỏ làm am, la Phật quở Tổ ở đó vậy.”

 

Giới nghiên cứu đồng ư là, ngoài Thiền Giáo, không có một tôn giáo nào xử dụng phương pháp bài ảnh tượng, iconoclaste, trong việc truyền giáo [3]. Trong Thiền giáo, không có một thần tượng nào không bị hạ bệ, đập nát. Với ư nguyện tự giác, không kể tham dục cá nhân cùng mọi nhân duyên khác đều bị người học Thiền tiêu diệt, mà c̣n cả kinh, sách, đạo lư, truyền thống, và ngay cả các Bồ Tát và cả Phật A Di Đà, Phật Thích Ca cũng bị bài bác. Phần lớn những nụ cười Thiền đều mang mầu sắc bài ảnh tượng, bởi lẽ muốn được giải thoát, người tu tập phải hoặc đánh đổ hoặc lật ngược được mọi thần linh. Mọi thần linh đều biểu thị bằng thần tượng. Thế nên, với người đi t́m giải thoát, không có thần tượng nào không là chủ đề cho cái cười. Quá tôn trọng vào thần linh thường trở thành ỷ lại vào thần linh, là tăng thêm dục vọng, là thắt chặt thêm duyên nghiệp, là  kéo dài thêm ṿng luân hồi.

 

Bức danh họa Huệ Năng Xé Sách của họa sư Lương Khải [4], xem Phụ Bản IV  , cho thấy tinh thần của Thiền giả Nhật Bản trong việc tôn thờ các thần tượng.  Bức tranh gợi ư một cuồng sĩ khinh  thị mọi ước lệ. Dưới mắt Thiền giả, thế giới giả tưởng này chỉ là trở ngại. Muốn tiếp xúc với những sự thực sống động cần phải vứt bỏ mọi sở đắc về kiến văn. Ở điểm này Thiền gặp Lăo giáo. Lăo tử cho rằng học thành th́ mất đạo.

 

 

Phụ bản III.  Huệ Năng xé kinh

 

Giới nghiên cứu cho biết là không có kinh sách nào ghi lại sự tích này, tuy nhiên bức tranh cho thấy truyền thống coi kinh luận chỉ là một mớ giấy lộn. Sống thực là: không bị giàng buộc vào văn tự. Đó là truyền thống của Thiền.

 

Người Nhật Bản cho rằng tôn thờ một bức thần tượng lên hàng thần linh, con người bỗng trở thành phụ thuộc vào vị thần linh đó, ỷ lại vào vị thần linh đó, chạy tới vị thần linh đó cầu xin che chở, phù hộ, độ tŕ để may mắn thực hiện được những điều mong ước. Thế nên muốn tiết dục, muốn tự giải thoát phải bắt đầu phải hạ bệ các thần linh. Kỹ thuật hạ bệ thần linh không ǵ hơn là mang những thần linh ra làm đấu đề để pha tṛ để diễu cợt, nói chung là để cựi.

 

Truyền thống hạ bệ thần linh, bắt đầu từ Sơ Tổ. Sách Truyền Đăng Lục chép sự tích cuộc gặp gỡ giữa Sơ Tổ với Lương Vơ Đế, người lănh đạo tối cao của Phật giáo thời đó tại Trung Quốc [5]. Sự tích tóm lược như sau:

Lương Vơ Đế hỏi: Từ ngày tức vị tới nay trẫm cất chùa chép kinh độ tăng, không biết bao nhiêu mà kể, có công đức ǵ không?

Sư đáp: Đều không công đức.

Đế nói: Sao không công đức?

Sư nói: Đó chỉ là nhân hữu lậu, chỉ đem đến quả nhỏ trong cơi trời người, như bóng theo h́nh, tuy có nhưng không thực

Đế hỏi: Vậy công đức chân thực lả ǵ?

Sư nói: Trí phải thanh tịnh, thể phải lắng không, đó là chân công đức, công đức ấy không thể lấy việc thế gian mà cầu được.

Lương Vơ Đế lại hỏi: Chân lư cùng tột của đạo thánh là ǵ?

Sư đáp: Trống rỗng hồn nhiên không ǵ là thánh.

Đế hỏi: Trước mặt trẫm là ai?

Sư đáp: Không biết.

Thiền tông đặt ra ba điều kiện thiết yếu để tham công án. Đó là: đại ư chí, đại tín tâm và đại nghi t́nh. Nghi t́nh là nguồn kích động lực thúc đẩy hành giả từng giây từng phút nhẫy vào hư vô, dầu đó la địa ngục cũng mặc. Dịch giả Trúc Thiên giải thích thêm hai chữ Đại Nghi bằng cách đính kèm chú thích như sau:

Thế nên thiền sư Huệ Khải, trong Vô Môn Quan nói [6]:

“Hăy đem hết ba ngàn sáu trăm khớp xương, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông đúc thành khối nghi t́nh, công phá vào chữ “vô” ấy của Triệu Châu. Ngươi hăy như người nuốt phải viên sắt nóng, trạo trực ói tới oí lui vẫn không mửa ra được, có thế mới gột sạch hết kiến thức chồng chất bấy lâu, để rồi nổ bùng lên như trời long đất lở. Chừng như người vửa đoạt được thanh long đao của Quan Công, cầm tay qua ải, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, được tự tại ngay tại đầu bờ sinh tử, dạo vui du hí qua sáu nẻo luân hồi, bốn đường sanh hóa.”

Qua đoạn trích dẫn trên đây, người đọc không khỏi ngạc nhiên về tám chữ gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ; ngoài ra lời văn trong đoạn trích dịch nghe như lời đối thoại trong một vở tuồng Tầu, khiến người nghe không khỏi muốn cười.

 

Đằng khác, Kinh Trường A Hàm [7], bản dịch của Thích Thiện Siêu chép:

Bồ Tát Tỳ Bà Thi khi sanh do hông tay mặt của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn, liền đi bẩy bước, ngó khắp bốn phương, rồi đưa tay lên nói rằng: “Trên trời dưới đất, duy ta là tôn quư, ta muốn cứu dộ chúng sinh khỏi ṿng sinh già bệnh chết.”

Thiền sư Vân Môn [8], có lần nhắc tới sự tích này, c̣n nói thêm: “Nếu lúc đó ta gặp Phật, th́ ta dùng phương trượng vằm nát ra, rồi vứt thịt cho chó ăn, thế là trên trời dưới đất đều được an lạc.”

 

Hai trích dẫn trên cho thấy nỗi hoang tưởng của những Thiền sư đ̣i giết Phật. Thế nên dường như không có vật ǵ được an toàn với truyền thống bài ảnh tượng của giới Thiền học. Tỷ như giai thoại dưới đây: [9]

Thiền Sư Đơn Hà Thiên Nhiên (738-824) đời nhà Đường, dừng bước vân du ở chùa Huệ Lâm, tại kinh đô. Gặp tiết đại hàn giá buốt, sư rinh một tượng Phật lớn xuống bửa ra đốt sưởi ấm. Ông từ kinh hoảng hỏi: “Sao Ḥa Thượng đốt tượng Phật của Chùa?” Sư đưa gậy bới đống tro lửa như t́m kiếm vật ǵ đáp:

“Tôi đốt Phật để t́m xá lợi”

Ông từ nói: “Phật gỗ mà xá lợi ở đâu?”

Sư bảo: “ Thế sao ông trách tôi? Ông cho tôi xin nốt hai hai pho kia để sưởi cho đỡ lạnh”.

Người chép truyện ghi chú thêm: “Sau đó ông từ rụng hết lông mi, v́ lời quở trách Đơn Hà tội phạm thánh, c̣n Đơn Hà không bao giờ bị Phật thịnh nộ qưở trách.”

Nhóm chữ rụng hết lông mi, là điển rút từ thoâi của Thúy Nham, như sau [10]:

Nhân ngày hạ mạt, Thúy Nham nói với tăng chúng: “Từ đầu mùa an cư đến nay, tôi v́ chư huynh đệ nói khá nhiều. Coi thử lông mi tôi c̣n không?”. Đó là Thúy Nham nhắc đến truyền thuyết cho rằng người nào giảng sai giáo pháp của Phật sẽ rụng hết lông mi lông mày.

Giai thoại Đơn Hà và Thuư Nham trên đây đă gợi hứng cho Thiền sư Tiên Nhai sáng tác bức họa Đơn Hà Đốt Tượng Phật (Xin xem Phụ Bản  V ). Bốn câu thơ đề trên bức họa như sau:

 

寒   高   風   烈 .

Hàn cao phong liệt

宜   擁   火   爐

Nghi ủng hoả lô

若   言   燒   佛

Nhược ngôn thiêu Phật

墮   落   眉   鬚

Đọa lạc mi tu

dịch là:

Rét buốt gió gào

Ước ôm  lồng ấp

Bảo rằng thiêu Phật

Rơi rụng râu mày.

 

Ư định giết Phật như trong hai trích dẫn trên đây dường như chỉ là nỗi hoang tưởng của một số Thiền sư. Tiếp theo những hoang tưởng này là những lời phàm tục xúc phạm đến đức Phật. Có thoai kể rằng: có một tăng sinh hỏi Hoà Thượng Vân Môn rằng: “Phật là ǵ?”. Ḥa Thượng trả lời: “Một cục phân khô.” Tương tự, trước Vân Môn, Đức Sơn cũng gọi Phật là cục phân khô.

 

Lời của Đức Sơn và Vân Môn trên đây nhắc cho người đọc nhớ tới một đoạn trong sách Trang Tử Nam Hoa Kinh[11]:

Thầy Đông Quách hỏi thầy Trang:

Cái gọi là Đạo ở chỗ nào?

               Thầy Trang đáp:

Không chỗ nào là nó không ở.

Thầy Đông Quách bảo:

Phải chỉ ra mới được.

Thầy Trang nói:

Ở con mối con kiến

- Sao mà thấp vậy?

Ở cổ lồng, vực …

Sao lại thấp hơn nữa ?

Ở chĩnh sành …

- Sao lại cong quá vậy ?

Ở cứt, đái …

            Thầy Đông Quách không tiếp lời nữa.

 

 

Phụ bản V.  Đơn Hà đốt tượng Phật

 

 

 


 

[1] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập I, sđd. tr.381.

[2] Daisetz toteiro Suzuki, Thiền Luận tập I,sđd. tr. 395-396.

[3] Conrad Hyers, The Laughing Buddha, Zen and the Comic Spirit, ibid. p. 55

[4] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận, Tập II,  sđd. tr.405

[5] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền luận, Tập I, sđd. tr. 296.

[6] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận, Tập I, sđd. tr. 412-413, ct.

[7] Kinh Trường A Hàm, bản dịch của Thích Thiện Siêum Phật học viện quốc tế xuất bản, 1986.

[8] Conrad Hyers, The Laughing Buddha, Ibid., p.93.

[9] Daiset teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập I,Sđd., tr. 545-546.

[10] Daiset teitaro Suzuki, ibid. tr. 482.

[11] Trang Tử Nam Hoa Kinh, Sđd., tr. 344-345

 

 

 

 

oOo

 

Xem Kỳ 10

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com