www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

III


 

Trường hợp 10. Nhiều Thiền sư đồng thời là một thi sĩ đă đạt trọn vẹn hai chữ buông bỏ. Họ không tự tách ḿnh ra khỏi thiên nhiên mà trái lại hoà ḿnh với thiên nhiên. Họ làm thơ không phải để đề cao cái “ngă, của họ. Kỳ thực cái ngă cũa họ hiện ra giữa cái ngă của muôn vật, và b́nh đẳng với mọi cái ngă của muôn vật. Đứng giữa cánh đồng cỏ, tức th́ cái ngă của nhà thơ Thiền trở thành một cọng cỏ; leo lên đỉnh núi Thái Sơn, cái ngă cũa người thơ Thiền cũng trổi cao chẳng khác ǵ những chỏm cao trong Ngũ Nhạc Sơn; cái ngă của nhà thơ Thiền cũng th́ thầm như ḍng suối, cũng gào thét như băo tố trùng dương, mểm mại như khóm trúc, bềnh bồng như một áng mây. Nói về ḍng biến tượng của thiên nhiên trong thế giới Ta Bà này, ư thơ của thi sĩ Thiền không giàng không buộc b́nh thản tự do, đúng như ba chữ

 

   

vô sở trụ.

 

trong kinh Kim Cương.

 

Khi tăng sinh hỏi Hoà Thượng Thiên Y Huệ Thông về cuộc Đông du của Sơ Tổ, nhà thơ Thiền trả lời bằng câu thơ bẩy chữ:

 

           

Thanh tùng đảo ảnh thùy u kính

 

Nghĩa là:

Thông xanh ngả bóng quét đường vắng

 

Tăng môn không hiểu, Thiền sư thêm rằng:

 

           

Lục trúc hàn thanh loạn giáp lưu

 

Nghĩa là:

Trúc biếc th́ thầm gợn suối trôi’

 

Tăng môn bái tạ: “Nhờ lời chỉ giáo của hoà thượng, kẻ học này không c̣n chút ngờ vực nào khác.” Sư Khuyên: “Cứ thong thả đừng vội”.

 

Xét theo nhận xét của Kant, khi tăng môn nghe khẩu quyết của Hoà Thượng Thiên Y huệ Thông, rồi đột nhiên không c̣n chút ngờ vực nào khác, chính là lúc mối tư lự lớn của ông th́nh ĺnh tiêu tan. Và đó là một nụ cười Thiền.

 

Khẩu quyết của Thiên Trụ Sùng Huệ, trả lời tăng môn về ư chỉ Đông du của Sơ tổ cũng bằng hai câu thơ, ngày nay c̣n truyển tụng:

 

           

Bạch viên băo tử lai thanh chướng

         

Phong điệp hàm hoa lục nhụy gian

 

Nghĩa là:

Vượn trắng ôm con lên đỉnh biếc

Ong bướm châm hoa giữa nhị xanh.

 

Thực ra, những thí dụ trong trường hợp 10 này tương tự với những thí dụ trong trường hợp 1 và 2: bởi trong cả ba trường hởp đều có sự giảm giá của câu hỏi đối chiếu với câu giải đáp. Điều khác biệt là về ngôn từ của câu giải đáp: trong nhưng trường hợp 1 và 2, câu giải đáp là những vật thể cụ thể hoặc trừu tượng không có ở thế giới này, và trong trường hợp 10, th́ câu giải đáp là những câu thơ rất giầu khả năng gợi ư, để tạo nên nụ cười.

 

Trường hợp 11.  Theo Suzuky [1] th́ trường hợp dưới đây là trường hợp độc nhất vô nhị, chứng tỏ khát vọng nhiệt thành của Thiền sư muốn truyền kiến giải về Thiền học cho môn đệ.

 

Một thầy tăng đến kiếm Mă Tổ hỏi: “Không luận bằng câu, không nói bằng lời, xin ḥa thượng chỉ thẳng cho biết ư chỉ dông du của Tổ.” Hoà thượng trả lời: “Hôm nay ta mệt, không thể nói cho ông nghe được. Tốt hơn ông hăy đi t́m Trí Tạng mà hỏi.”

 

Thầt tăng theo lời chỉ dạy, đến kiếm Trí Tạng, và nêu câu hỏi:

           - Ư chỉ của Tổ từ Tây đến là ǵ?

           - Sao ông không hỏi thẳng hoà thượng ?

           - Chính Hoà Thượng dậy lại đây kiếm thầy.

Trí Tạng lại thoái thác như sau:

           - Bữa nay tôi đau đầu, nên cảm thấy không thể cắt nghĩa việc đó cho ông được. Tốt hơn ông hăy đến kiến huynh Hải.

Bấy giờ thầy tăng đến kiếm Hải và yêu cầu soi tỏ cho ḿnh. Hải nói:

            - Đến chỗ này tôi chẳng biết ǵ hết.

 

Giai thoại trên đây kể chuyện một kẻ cầu đạo nhiệt thành, bị đẩy từ vị thầy này đến vị thầy khác, vị nào cũng viện cớ đang đau ốm và từ chối. Nhưng phải chăng có thể là Thiền được truyền đạt một cách xảo diệu ngay chính trong tính chất tầm thường này?

 

Giai thoại t́m thầy học đạo trên đây tương tự như đoạn mở đầu chương XXII sách Trang Tử Nam Hoa Kinh [2], đoạn mở đầu chưong Trí Du Bắc”

Trí đi chơi phương Bắc, tới Huyền Thủy, lên núi Ẩn Phần, gặp Vô Vi Vị. Trí gọi Vô Vi Vị bảo:

Tôi muốn hỏi ông ít điều. Nghĩ làm sao, lo làm sao mà biết được Đạo ? Dựa vào đâu, làm cách nào mà hiểu được Đạo? Theo vào đâu, đi đường nào mà t́m được Đạo?

 

       Hỏi ba lời Vô Vi Vị không đáp. Chẳng phải không đáp, mà là không biết đáp ra làm sao.

 Hỏi không dược, Trí trở lại Bạch Thủy, ở phương Nam, lên núi Hồ Quyết, gặp Cuồng Khuất. Trí cũng đem ba câu hỏi trước, hỏi Cường Khuất. Cuồng Khuất nói:

     À tôi biết, để tôi nói cho nghe. Nhưng vừa muốn nói, th́ lại quên mất điều muốn nói.

 

Đối chiếu giai thoại trong Truyền Đăng Lục với giai thoại trong Nam Hoa Kinh, người đọc thấy rơ rằng trong cả hai đạo, việc truyền thụ tương tự như nhau: kẻ học đạo phải tự t́m thấy đường lối tu tập cho ḿnh và không hy vọng nhờ cậy được ai khác. Phải chăng bởi đó là điểm mà Lăo Tử đă ghi trong sách Đạo Đức Kinh, chương LVI [3]:

 

    .  

Tri giả bất ngôn. Ngôn  giả bất tri.

 

Nghĩa là:

Người biết không nói. Người nói không biết.

 

Trong cả giai thoại Thiền cũng như Đạo giáo, người có phận sự phân giải cho môn đệ nhiều khi cho môn sinh biết là đă hỏi nhầm người, để tạo nên nụ cười Thiền giải thoát môn sinh khỏi áp lực của công án. Đằng khác, trong giai thoại kế tiếp, Thiền sư cho môn sinh biết là đă đặt hỏi không đúng lúc để tạo nên nụ cười Thiền.

Thanh B́nh Linh Tốn hỏi Thúy Vi Vô Học:

          - Ư chỉ từ Tây tới của Sơ Tổ là ǵ?

 

Thúy Vi Vô Học trả lời:

 

          - Đợi không có ai quanh đây, ta sẽ trả lời cho biết.

Giây lát sau Linh Tốn lại hỏi: “

          - Giờ không có ai hết.”

Thay v́ trả lời, Thúy Vi dẫn vị tăng này đến bên một khóm trúc. Thầy Thiền sư vẫn im lặng, Tốn nhắc  lại câu hỏi và lưu ư Thiền sư là lúc này không có ai quanh đấy.

Thúy vi trỏ vào khóm trúc và thốt lên:

          - Tre này quá dài, tre kia quá ngắn.

Nhờ thế mà Linh Tốn tỏ ngộ đạo Thiền. Về sau, khi Linh Tốn trụ tŕ tại một tăng viện, ngài không c̣n phân biệt cái ǵ tốt cái ǵ không.

 

Trường hợp 12.  13, 14 và 15, là bốn trường hợp không dùng nụ cười Thiền lảm phương tiện trực tiếp truyền thụ giữa Thiền sư và môn sinh. Tóm lại trong 11 trường hợp truyền thụ trực tiếp Thiền học, qúy vị Thiền sư có nhiệm vụ giúp môn sinh trong việc giải đáp một chủ đề công án, thường xử dụng những kỹ thuật chọc cười phần lớn là để giải tỏa áp lực của công án trong đầu môn sinh.  Điểm đáng lưu ư là những kỹ thuật này không khác ǵ những kỹ thuật chọc cười thông thường,với cùng nguyên nhân và thực chất theo phương pháp của Alexander Baine, tu chỉnh theo Spencer và nhiều triết gia khác.

 



[1] Daisetz teitaro Suzuky, Thièn luận tập II, sđd., tr. 352-353

[2] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 536-537.

[3] Lăo TửĐạo Đức Kinh, bản dịch của Nghiêm Toản, Đai Nam Tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 186.

 

 

 

 

oOo

 

Xem Kỳ 9

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com