www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

III


 

Câu tục ngữ nói nào sai, và cái điều không cân xứng giữa mười voi và bát nước sáo đă tạo nên cái cười cho người đọc.

 

Đối nghịch với Alexander Bain, Herbert Spencer (1820-1903) chủ trương rằng hai ư chống trọi nhau có khi không tạo ra được nụ cười, mà trái lại mọi việc cân xứng cũng có thể tạo ra được chuyện buồn cười. Trong tiếng Việt Nam có nhiều từ ngữ mô tả cái cười cân xứng của Herbert Spencer, tỷ như hai trường hợp quen thuộc sau đây: bên tám lạng bên nửa cân, ṿ quít dầy móng tay nhọn.

 

Bắt đầu là truyện:

 

Voi Ngựa Đua Nhau [1]

Xưa con nựa thấy con voi chậm chạp, có y khinh nhờn. Ngựa đ̣i thi tài với voi xem ai chạy giỏi. Lúc thi chạy đường trường, th́ voi chạy không kém ngựa mấy, nhưng lúc thi chạy nhanh th́ ngựa chạy hơn voi nhiều. Voi thua. Ngựa lên mặt.

 

Hôm sau, voi thách ngựa thi chạy đường ṿng, chạy tới ḥn núi xa xa đằng trước mặt. Ngựa cho không vào đâu, chắc ăn đứt voi cả mười phần. Nhưng chạy được một chốc, gặp con sông chắn ngang, ngựa phải dừng bước, chưa biết qua sông cách nào th́ đă thấy voi chạy tới nơi. Voi lôi xuống sông sang được tới núi bên bờ bên kia. Ngựa đành phải chịu thua, và từ đấy không dám khinh thường voi nữa.

 

Ngựa với voi hai bên cùng có tài riêng. Chuyện đáng buồn cười là việc mang hai vật tương đương so sánh với nhau.

 

Truyện thứ hai là:

 

Anh Nói Khoác [2]

Tư và Sửu đi qua một đám ruộng bí. Tư chợt trông thấy quả bi to, nói rằng: “Chà! quả bí đâu mà to như thế kia!” Sửu có tính nói khoác, cười mà bảo rằng: “Thế đă lấy ǵ làm to. Tôi đă từng thấy những quả bí to hơn nhiều. Có một bận, thật mắt tôi trông thấy một quả bí to bằng cả cái nhà ở trước mặt ta kia ḱa.” Tư nói: “Thế đă lấy ǵ làm lạ, tôi c̣n nhớ một bận trông thấy cái xanh đồng to vừa bằng cái đ́nh làng ta ấy.” Sửu hỏi: “Cái xanh ấy để làm ǵ mà to quá như thế?”. “Ả, thế bác không biết cái xanh ấy dùng để luộc quả bí bác vừa nói ấy mà.”

 

Không có sự thiếu cân xứng trong truyện trích dẫn trên đây. Trái lại, nếu tính nói khoác cũa Sửu chỉ bằng cái nhà, th́ tính nói khoác của Tư bằng cái đ́nh. Thế nên vỏ quít dầy gặp móng tay nhọn là động cơ chọc cười trong giai thoại trên đây.

 

Hai thí dụ trên đây cho thấy không nhất thiết phải có sự thiếu cân xứng mới tạo nên được nụ cười. Ngoài ra, nụ cười già được bát canh, trẻ được manh áo mới, hay nụ cười của một đấu thủ vừa thắng cuộc đua cũng không cần tới sự thiếu cân xứng.

 

Chính Alexander Bain cũng nhận thấy như trên, nên ông c̣n chủ trương thuyết thứ hai, quen gọi là thuyết xuống chức hay thuyết giảm giá [3].

 

Thuyết này bắt nguồn từ một nhận xét của Aristote:  “Điều lố bịch làm cho người ta cười bao giờ cũng liên quan tới một tật xấu …” Những hài kịch, những truyện cười thường thường mô phỏng một thói tật xấu, thấp kém của con người, tỷ như tính hà tiện, cờ bạc, tự đắc, khoác lác v.v…” Có người lại nói thêm rằng: “một lời nói gây được một nụ cười thường thường không bao giờ mang lại vinh hạnh cho người bị lấy làm đầu đề truyện cười.” Trái lại, tác giả một truyện cười, một khi đă làm nở được nụ cười trên môi người nghe, thường thường t́m được niềm khoan khoái, v́ ḷng tự ái, tự tôn tự đại đều được vuốt ve.

 

Thế nên, những nhà văn hoạt kê, trào phúng, hay châm biếm, cũng như các họa sĩ chuyên vẽ hí họa thẩy đều là nhưng nhà chuyên môn hạ bệ thiên hạ.  Nói một cách tổng quát, buồn cười là những điều ǵ đang biến h́nh để đưa đến sự giảm giá trị, nhưng không quá giới hạn để gây ra khó chịu cho người nghe, hay làm tai hại cho người bị lấy làm đầu đề câu chuyện. Giáng chức những nhân vật có chút uy quyền, tước vị, cũng như hạ thấp những ǵ quá quan trọng hay quá trang nghiêm, nhưng tránh không gây ra những cảm xúc mạnh.

 

Tóm lại, buồn cười là sự giải thoát, kết hợp giáng cấp với thoát ly,  những trói buộc về thể chất hay tinh thần, đó cũng là phản ứng đối với sự quá trang nghiêm quá trịnh trọng. Nếu th́nh ĺnh thoát được sự câu thúc, hay kiềm chế th́ phản ứng của cơ thể là một chuỗi cười, tựa như tiếng cười của lũ trẻ lúc tan học ra về.

Không phải chỉ riêng có triết gia nói tiếng Anh nghiên cứu về nguyên nhân và thực chất của cái cười. Người Pháp có hai nhà toán học cũng bận tâm về cái cười. Đó là Réné Descartes (1596-1650) và Blaise Pascal (1623-1662). Réné Descartes đưa ra hai nhận xét về cái cười. Một là nhận xét về mặt sinh lư mà ngày nay với những tiến bộ của khoa học này đă trở thành lỗi thời, và hai là nhận xét về mặt luân kư. Về mặt luân lư Réné Descartes chủ trương là “bỡn cợt hay chế nhạo là kết hợp bất th́nh ĺnh của thú vui và ghét bỏ. Kết hợp này nẩy sinh khi người ta bất th́nh ĺnh  ngạc nhiên nhận ra một tệ đoan nhỏ của một người mà ta không có cảm t́nh. Ngạc nhiên đó là nguyên do của cái cười [4]. Với Blaise Pascal, “không có ǵ đưa đến cái cười bằng sự bất đồng giữa các điều nghe và các điểm thấy.” [5]. Người Đức có triết gia Kant, theo ông th́ : “cái cười sinh ra khi một tư lự th́nh ĺnh tiêu tan.” [6]  

 

Ứng dụng những kết luận trên đây, trong mọi trường hợp thực tế, để đi t́m ư nghĩa nụ cười Thiền, không phải là một việc dễ dàng. Để giản dị vấn đề, người viết đề nghị thu hẹp việc t́m ư nghĩa nụ cười Thiền qua những lời giải đáp của các Thiền sư về câu hỏi “Ư chỉ của Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn sang Trung Quốc là ǵ?” Những lời giải đáp này thường được ghi chép tường tận trong sách luận Thiền học, và Suzuki đă sắp hạng thành 14 trường hợp [7]. Cảo luận này không xét chi tiết toàn thể cả 14 trường hợp mà chỉ xét tới những trường hợp tiêu biểu dưới đây:

 

Trường hợp 1. Các Thiền sư lấy một vật gần đó dể trả lời câu hỏi:

Ngưỡng Sơn hỏi, Quy Sơn đáp: “Cái lồng đèn đẹp quá ha!”

Triệu Câu trả lời: “Cây Bách trước sân”.

Phần Dương Thiện Chiểu trả lời: “Cây quạt lụa xanh quạt mát quá chừng”.

 

Theo Suzuki th́ tương quan giữa việc Sơ Tổ Thiền Đông du với những vật như lồng đèn, cây bách, cái quạt lụa xanh xem chừng rất xa vời và nhưng giải đáp này gây khả năng tưởng tượng của người học Thiền làm việc tới mức chót. Đây là điều các sư tổ đ̣i hỏi kẻ học Thiền phải tự t́m thấy bởi khi hiểu được cây bách trước sân, th́ hiểu được lư tánh của Phật giáo Thiền Tông, và khi đó sẽ hiểu ra được mọi cái khác.

 

Trên hướng đi t́m mối tương quan giữa nụ cười Thiền và cách truyền thụ Thiền học, người đọc nhận thấy có sự xuống cấp giữa câu hỏi về truyện Đông Du của Sơ Tổ và cái lồng đèn, cây bách hay cái quạt xanh. Phải chẳng, sự không cân xứng này chính là chủ ư chọc cười của các vị sư tổ, muốn giải thoát cho môn đệ khỏi áp lực của công án. Phải chăng bởi Thiền học chủ trương bất lập văn tự, nên không thể giải thích bằng lời, mà phải dùng một hành vi, để mang chân lư tới tay người đọc. Trong trường hợp này, hành vi đó phải chăng là tạo ra nụ cười Thiền?

 


  

[1] Nguyễn Văn Ngọc tập I, sđd. tr.9-10

[2] Quốc Văn Giáo Khoa Thư, lớp Sơ Đẳng, Rectorat de l’Université indochine, Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư, tr. 9-10.

[3] Trích theo Dương Tấn Tươi, sđd. tr. 47-48

[4] Dương Tấn Tươi, sđd., tr. 58.

[5] Dương Tấn Tươi, sđd. tr. 57.

[6] Dương Tấn Tươi, sđd. tr. 59.
 

[7] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận, tập II, bản dịch của Tuệ Sỹ, Saigon 1971. Tr. 331-362.

 

 

 

oOo

 

Xem Kỳ 7

 

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com