www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

II

 

Tiếp theo Trần Tung lập thoại cuồng ngôn, Lời thơ là chuỗi h́nh ảnh: đói ăn, khát uống, mệt ngủ, mỏi nghỉ, vui thổi sáo, tĩnh niệm hưong. Nhưng trong những h́nh ảnh đó Hà La Phạn đâu có phải là cơm, mà là tiếng phiên âm chữ Phạn pravanara, chỉ việc chúng tăng, tự do tự kể tội ḿnh với sư phụ để sám hối vào dịp cuối khóa hạ; Hà Hữu Hương đâu phải là quê hương xưa, mà là thuật ngữ của Đạo Lăo, chỉ cơi Đạo; hoan hỉ địa chẳng ai biết ở nơi nào, bởi đó là một trong mười hạnh mà Bồ Tát nào cũng phải đạt tới để lợi tha; giải thoát hương chưa ai từng được thưởng thức, v́ theo Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ th́ giải thoát hương là khi tự tâm thiền giả không c̣n bấu vứu vào một chỗ nào, không suy điều thiện, không nghĩ điều ác; ống sáo không lỗ là một h́nh ảnh trong thơ Ngu Tập gửi trường Trạm Đường:

寄  到  西  竹  無  孔  笛

Kư đáo Tây Trúc vô khổng địch

吹  成  動  地  太  平  歌

Xuy thành động địa thái b́nh ca

Nghĩa là:

Gửi về Tây Trúc sáo không lỗ

Thổi khúc Thái B́nh rung đất động trời.

Ống sáo không lỗ này gợi cho người dọc nhớ tới cây đàn không dây của Đào Tiềm, người chỉ muốn nghe nhạc mà không thiết nghe dao động của dây tơ: tiếng sáo không lỗ như vậy là tiếng nhạc trực truyền từ người thổi sáo tới người nghe, không cần đến dao động của không khí ra khỏi ống sao.

Sau hết, để kết thúc chuỗi h́nh ảnh cuồng phóng, tiêu giao thang chưa ai từng được uống v́ hai chữ tiêu dao trong bài Phóng Cuồng Ngâm này chính là hai chử đầu chương mở sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử.

Bài Phóng Cuồng Ngâm trên đây của Trần Tung, nhắc người đọc nhớ tới giai thoại Thiền sau đây [1].

Đặng Ẩn Phong khi sắp thị tịch ở Đông Kim Cang, núi Ngũ Đài, nói: “Ta đă từng thấy các vị sư nằm mà chết, hay ngồi mà chết. Đây có ai thấy có vị nào đứng mà chết chưa?” Chư tăng đáp: “Bẩm có nghe như thế”. “Vậy có ai trồng cây chuối mà chết không?”. “Dạ chưa hề có.” Sư bèn trồng cây chuối mà chết. Y phục vẫn dính liền với thân thể. Khi người ta mang hài cốt làm lễ táng, vẫn để y tư thế. Xa gần đến chiêm ngưỡng và khen lạ. Sư có môt người em làm ni cô, có mặt giữa đám đông hiếu kỳ. Bà đến bên hài cốt của ông anh và trách: “Khi c̣n sống, anh không tuân theo pháp luật, nay chết c̣n làm tṛ hề.” Rồi lấy tay xô, xác chết ngă xuống đất kêu cái đụi, đoạn cho gia nhân khiêng đi hỏa táng.

Căn cứ vào lời ni cô, em gái của Đặng Phong Ẩn, giới nghiên cứu cho là Đặng Phong Ẩn suốt đời không chỉ làm tṛ hề trước thiên hạ, mà thực sự là ông muốn giăi bày nếp sống tự do của ông, không muốn bị giàng buộc vào những lề thói của xă hội, và như trong giai thoại trên đây ông bỡn cợt cả với thần Chết. Thái độ của Đặng Ẩn Phong làm hề suốt đời, đến chết c̣n rỡn với thần Chết, để tỏ bày nếp sống tự do, ở ngoài mọi giàng buộc của cuộc sống, như vậy chẳng khác ǵ bài Phóng Cuồng Ngâm trên đây của Trần Tung.

Trần Tung khước từ danh vọng, không sống đời hoàng tử, không sống đời đại tướng từng cầm quân chiến thắng lừng lẫy, mà tự xưng là lân bang của Quy Sơn, bạn bè với Tạ Tam, làm môn đệ của Lục Tổ, làm anh em với Bố Đại với Phổ Hóa. Tất cả chỉ c̣n mong được thỏa nguyện, đứng đúng chỗ của ḿnh, để không mảy may bận ḷng về chuyện sống chết. Đúng như nhận xét của Conrad Hyers [2]:

The realization of an authentic liberation, as in so much of the Zen traditions, is attested by humour; and the symbol of that liberation is the paradoxical figure of the clown.

Vai hề trên sân khấu, cũng như kẻ điên người cuồng ngoài đời là những tiêu biểu của nếp sống tự do, ngoài những trói buộc của lề thói, luật lệ của xă hội. Đi xa hơn nữa, là làm đảo lộn thang giá trị của người đời, đồng thời sống theo một nếp sống ngược lại với người chung quanh. Sống theo nếp sống của một vai hề th́ không c̣n ai có địa vi cao hơn người khác, không c̣n ai sống khác ai nữa. Có giai thoại về Thiền sư Triệu Châu giải thích nhận xét trên đây. Thế Tử một hôm tới chùa thăm hoà thượng Triệu Châu. Hoà Thượng ngôi yên trên bồ đoàn, không đứng dậy thi lễ, thoái thác v́ già yếu, lại ăn chay lâu ngày, đứng lên ngồi xuống rất khó khăn. Ngày hôm sau, Thế Tử cho một thuộc quan làm sứ giả mang thư tới cho Ḥa Thượng. Lần này Hoà Thượng đứng lên, bước ra tận cửa tăng thất đón sứ giả. Có người hỏi lư do khiến Hoà Thượng tiếp đó vị sứ giả của Thế Tử trịnh trong như vậy mà sao khi Thế Tử tới thăm thỉ Ḥa Thượng ngồi yên trên bồ đoàn? Triệu Châu trả lời: “Khi có người cao trọng tới chùa, ta phải tiếp đón người ấy với tư cách là một thiền sư; khi một người ở địa vị trung cấp tới chùa, ta phải đứng dậy để tiếp đón người ấy; và với người hạ cấp th́ ta phải ra ngoài tam quan đề tiếp đón.”

 Không phải nụ cười Thiền chỉ nở trên môi thiền giả trong những hoạt động thường ngày, mà nụ cười Thiền nhiều khi biến đổi thành một chuỗi cười ṛn trong việc truyền thụ Thiền học. Trong số trong ngoài 1700 công án thiền c̣n lưu truyền tới nay, tiếng cười ṛn trong việc truyền thụ c̣n vang vang trong giai thoại sau đây.

Dưới triều nhà Đường, Hương Nghiêm là một cao đồ của cao tăng Quy Sơn (771-853), trong một bài pháp có nói:

Ví như có ngựi lơ lửng trên miệng vực sâu muôn trượng, răng cắn vào một cành cây, chân thơng giữa hư không, hai tay không níu vào đâu được. Ví lúc ấy có người qua đấy hỏi vọng lên : “Tổ Đạt Ma qua Tầu có ư nghĩa ǵ?” Nếu người trên cây mở miệng trả lời th́ rơi mất mạng trong vực sâu. Nếu không trả lời th́ phụ ḷng người hỏi. Trong giây phút nguy kịch khó xử đó, người ấy phải làm ǵ?

Vô Môn trả lời như sau:

Bàn về Phật pháp đâu có cần phải ăn nói hoạt bát. Ai trả lời được câu hỏi này là người có tài cướp cái sống của người sống rối ném cái sống vào miệng thần chết. Ai không trả lời nổi th́ cố đợi khi nào gặp được đức Thế Tôn th́ hỏi thẳng ngài.

Trúc Thiên [3] kể lại truyện tương truyền dưới đây, dựa theo kinh Đại Bát Niết Bàn:

Qủy la sát đọc cho Phật nghe hai câu kệ: “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp. Phật xin nghe hai câu chót, quỷ ra điều kiện nghe rồi phải hiến thân cho qủy ăn thịt. Phật nhân lời. Quỷ đọc tiếp : “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”. Phật nghe xong từ cây cao rơi xuống miệng quỷ. Giai thoại này trong Phật học gọi là Tuyết Sơ Bán Kệ.

Sang thế kỷ XVIII, hơn một ngh́n năm sau, trong thiền giới lại có giai thoại dưới đây:

Tiếp theo lời giảng của Hương Nghiêm,  một nhà sư thuộc một môn phái khác xin hỏi: “Tôi không đặt câu hỏi này khi người trong truyện đă leo lên cây, mà xin hỏi lúc người đó chưa leo lên cây. Vậy xin cao tăng người ấy trả lời ra sao?”.

 Hương Nghiêm trả lời bằng một chuỗi cười ṛn. 

Người Âu Mỷ đọc sách Thiền gặp những giai thoại như trên thường dẫn lời Kinh Thánh và nói rằng [Thiền cũng]  có lúc để cười, lúc để nhẩy múa cũng như có lúc để than khóc để chịu tang. (Ecc.3.4).

Suzuki [4] viết:

“Thiền là tôn giáo độc nhất đă dành chỗ cho tiếng cười [trong việc truyền thụ]”.

Chuỗi cười ṛn cũng là chuỗi cười của Triệu Châu ngày ngài c̣n rong ruổi trên đường hành cước. Một ngày nọ ngài tham kiến Đại Từ Hoàng Trung và hỏi:

-  Thể của Bát Nhă là ǵ?

-  Đại Từ lập lại:

-  Thể của Bát Nhă là ǵ?

Tức th́ Triệu Châu cười thành chuỗi và bỏ đi. Một thời gian sau, Đại Từ thấy Triệu Châu đang quét sân. Đại Từ hỏi:

-  Thể của Bát Nhă là ǵ?

Triệu Châu liệng cây chổi, cười thành chuỗi và bỏ đi.

Tiếp theo chuỗi cười ṛn, trong các giai thoại thường có nói tới những trận cười, vỗ đùi ha hả hay đau quặn bụng. Giới Phật học Ấn Độ, sắp hạng cái cười thành sáu hạng như sau:

nụ cười sita, tiếng Việt Nam là nụ cười tủm tỉm, người cười không mở miệng, chỉ thấy kín đáo cử động đôi môi;

nụ cười hasita, tiếng Việt Nam là nụ cười mỉm, môi chúm lại để thoáng lộ hàm răng;

nụ cười vihasita, tiếng Việt Nam là nụ cười nhếch mép thành tiếng nhè nhẹ;

nụ cười upahasita,  tiếng Việt Nam là nụ cười nghiêng ngả cả ngựi ;

nụ cười apahasita, tiếng Việt Nam là nụ cười ngặt ngặt nghẽo, có lúc như đứt hơi chẩy nước mắt;

nụ cười atihasita, là nụ cưới có cường độ mạnh nhất, tiếng Việt Nam là nụ cười gập đôi người, vỗ đùi, lăn lộn, đến đau bụng.

Theo bảng sắp hạng cái cười trên đây, người đọc thấy hạng thứ nhất là cái cựi của Ca Diếp khi đức Phật do cao cành hoa. Hạng thứ hai và hạng thứ ba là nụ cười của những người b́nh thường, bắt đầu là cái cười những người kín đáo tế nhị, như cái cười của Hàn Sơn và Thập Đặc sau đó là cái cười của những người dễ dăi cới mở như tiếng cười của Bố Đại cũng như nụ cười của các thiền sư Tiên Nhai và Lương Khoan. Rồi tới cái cười ṛn bên Hổ Khê của nhà sư Huệ Viễn tiễn hai người bạn. Hạng chót là cái cười của những người quá chén quá vui, nơi chiếu rượu hay chiếu bạc. Cả sáu cái cười trên đây đều được ghi chép trong sách truyện Thiền học, tỷ như tâp Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, cùng tập Bích Nham Tâp.

 

  

 

[1] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập II, sđd., tr. 113, ct.1

[2] Corad Hyers, The Laughing Buddha, Zen and the Comic Spirit,

 Wipf & Stock Publishers Eugene Oregon 2004

[3] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập I, sđd. Tr.453-454.

 

[4] Suzuki, Sengai the Zen Master, Faber & Faber, London, 1971, p. 147

 

 

 

 

oOo

 

Xem Kỳ 5

 

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com