www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

II
 

Trong đời sống nụ cựi có muôn vàn ư nghĩa. Trong cơi tục, nụ cười biểu lộ khoái cảm, cũng như là bằng chứng của sự vừa ḷng đẹp ư. Trong cơi thiêng liêng, hay trong chốn thần bí, nơi luận bàn triết lư, nụ cười có thể là ngả tháo thoát khỏi bầu không khí trang nghiêm, để trở về với thuần phác, nụ cười của hiển giả lúc này tựa như nụ cười của trẻ thơ nằm nôi.

Nụ cười của Thiền giả, tương tự như một bông sen, nẩy mầm từ chiếc ngó sen mọc trong ḷng bùn sâu đáy nước. Truyền thuyết [1] Thế Tôn niêm hoa Ca Diếp vi tiếu, kể rằng Thiền được Phật Thích Ca tâm truyền cho đại đệ tử Ca Diếp, khi Phật giơ lên một cành hoa trước hội trường, một cử chỉ mà riêng chỉ một ḿnh Ca Diếp nhận ra thâm ư và đáp lại bằng một cái mỉm cười. Truyền thuyết này được coi là khởi điểm của Thiền học.

Nụ cười của Ca Diếp này là biểu tượng cho phép tâm truyền hay trực truyền của Phật Học. Một ngàn năm sau Mă Tổ vào Trung Nguyên truyển bá Thiền học vẫn chủ trương Bất Lập Văn Tự, không dùng chữ, khiến qua sáu đời Tổ, việc truyền thụ Thiền học đều bằng phương cách trực truyền.

H́nh ảnh tiêu biểu của Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma là một h́nh ảnh trang nghiêm, một h́nh ảnh ở bờ bên này của Thiền học, đó là h́nh ảnh của Sơ Tổ ngồi diện bích, suốt chín năm để tham thiền. Kỳ diện bích này đă làm hỏng đôi chân của ngài.

Nhị Tổ Huệ Khả, tên là Thần Quang đến ra mắt Sơ Tổ, để cầu được khai ngộ pháp Thiền. Nhưng Sơ Tổ lạnh nhạt không nh́n tới. Một đêm nọ, Thần Quang đứng dầm ḿnh trong tuyết chờ Đạt Ma lưu ư tới, cho đến khi tuyết lên cao tới đầu gối, bấy giờ Sơ Tổ mới quay đầu lại hỏi:

Ông muốn cầu xin ǵ?

Ngưỡng mong ḥa thượng tử bi, mở cửa cam lộ, rộng độ chúng sinh.

Diệu đạo vô thường của chư Phật phải nhiều kiếp tinh cần, khó làm làm được, khó nhịn nhịn được, hạng đức nhỏ trí cùn, ḷng đầy khinh mạn, há có thể chịu nổi nhọc nhằn lao khổ cầu pháp chân thừa sao?

Thần Quang, nghe quở, bèn rút dao bén đoạn ĺa cành tay trái đưa lên trước mặt Sơ Tổ. Sơ Tổ biết gặp được pháp khí bèn nói:

Chư Phật lúc phát tâm cầu đạo v́ pháp bỏ thân, nay ông chặt tay trước mặt tôi, vậy muốn cầu ǵ?

Nói xong Sơ Tổ đặt pháp danh cho Thần Quang là Huệ Khả. Khả bạch:

   - Pháp ấn của chư Phật có thể nghe được chăng?

Sơ Tổ nói:

   - Pháp ấn của chư Phật không thể nhờ vào người khác.

Khả bạch:

   - Như tâm con không an, thỉnh sư an tâm cho con.

Sơ Tổ nói:

   - Đưa tâm ngươi đây ta an cho.

Khả bạch:

   - Con kiếm măi chẳng thấy tâm ở đâu cả.

Sơ Tổ nói:

   - Thế là ta đă an cái tâm ngươi rồi đó.

H́nh ảnh Thiền ở bờ bên kia là h́nh ảnh của Bố Đại. Đó là h́nh ảnh của một cư sĩ, sống vào khoảng thế kỷ thứ X, với một thân h́nh to lớn, nhưng có một lối sống chẳng khác ǵ một thiếu nhi, và một cái bụng phệ vĩ đại, cùng một nụ cười đôn hậu, nên có hỗn danh là ông Bụt Cười. Bố Đại không chịu về ở thường xuyên tại bất kỳ tu viện nào, mà đi lang thang không chủ đích, không có một mảy may an ninh ngoài bốn bức tường của tu viện, và ông cũng không chịu ép ḿnh theo kỷ luật của bất kỳ môn phái nào.  Bố Đại mang trên vai một chiếc đẫy vải lớn, đi nhận của bố thí khắp nơi rồi mang về phân phát cho con nít, khiến ông đi tới đâu cũng có một bầy trẻ chạy theo. Ông sống như hiện thân của một câu trong chương Ứng Đế Vương sách Trang Tử Nam Hoa Kinh [2]:

Nhận tất cả mọi thứ thụ lănh từ trời mà chẳng giữ ǵ riêng cho ḿnh.

 Ông có một khuôn mặt đẫy đà, một cái bụng phệ quá khổ, khiến ông được bọn trẻ nhỏ khắp nơi yêu quư, như dường cuộc sống của ông đă tới khúc cuối để bắt đầu sang một cuộc đời mới, và cũng như dường không có ai ngoài  bọn trẻ nhỏ hay những cuồng giả mới hiểu được người tu hành như ông.

Sau Bố Đại, trong ḍng văn học Thiền tại Trung Quốc có h́nh ảnh Hàn Sơn và Thập Đắc, một cặp thi nhân ẩn sĩ sống như hai cuồng phóng vào thế kỷ VII, trong vùng Tô Châu, quanh ngôi chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô. Ngôi chùa này nổi tiếng qua bài Phong Kiều Dạ Bạc, của nhà thơTrương Kế. Tiêu biểu cho hai hai ẩn sĩ này là nụ cười thiền. Nụ Cười này ghi lại trong lịch sử hội họa Thiền Nhật Bản dưới nét vẽ của những danh sư như Kaihoku Yusho hay Yen Hui, (xem Phụ Bản I ).

Phụ bản I. Hàn Sơn và Thập Đắc

Một bức tranh ghi lại những tràng cười rất Thiền khác là bức Tam Tiếu Hổ Khê của hoạ sư Soga Shohaku. Và một bức khác của Tiên Nhai cũng khai thác chủ đề này. Bức họa này có một lai lịch hy hữu. Trên bức họa, xem Phụ Bản II, có ba nhân vật, ngựi ở mé bên trái là Hoà Thượng Huệ Viễn, người đứng giữa là Đào Tiểm, nhận ra bởi chiếc khăn ông quấn trên đầu, mà đă nhiều lần ông dùng để lọc rượu, và người thứ ba là phuơng sĩ Đạo Giáo Lục Tu Tĩnh. Theo truyền thuyết,  

Phụ bản II Tam Tiếu Hổ Khê

Lúc này Đào Tiềm đă từ quan về sống tại Lư Lật, ông thường lên thăm chùa Đông Lâm do hoà thượng Huệ Viễn chủ tŕ. Hoà thượng rất kính trọng Đào Tiềm, muốn giữ ông lại tṛ truyện mà không được. Sau có người cho hoà thượng biết nết hay rượu của Đào Tiềm, bèn sai ngựi đi mua rưọu để tiếp Đào Tiềm. Phương sĩ Đạo Giáo Lục Tu Tĩnh (406-477) cũng thường tới thăm chùa Đồng Lâm đàm dạo với hoà thượng Huê Viễn. Một bữa nọ, hoà thượng tiễn hai người bạn ra về, mải vui câu chuyện, vượt qua suối Hổ Khê mà không hay. Bầy hổ năm bên suối gầm to khiến ba người phá lên cựi. Hoà thương Huệ Viễn là một trong những vị tổ sáng lập ra Bạch Liên Giáo, một đoàn thể chính trị rất mạnh tại Trung Quốc, và c̣n truyền tới ngày nay. Tuy nhiên và về tôn giáo Ngài c̣n là người sáng lập ra thuyết Niệm Phật, trong những thời kỳ đầu tiên của đạo Phật ở xứ Ấn Độ.  Giới sử gia nhận thấy có một điểm khó tin trong truyền thuyết này, mặc dầu truyền thuyết được chép trong nhiều tập sử họa giá trị. Đó là điểm khi hoà thượng Huệ Viễn viên tịch, th́ Lục Tu Tĩnh hay c̣n là một cậu bé mười tuổi, và tới năm ngoài 40 phương sĩ này mới về Lư Lật.

Giới nghiên cứu c̣n cho rẳng truyện Tam Tiếu Hổ Khê xẩy ra từ thời nhà Đường. Lập luận này căn cứ trên một bài tứ tuyệt ngũ ngôn của Lư Bạch [3]:

       

Biệt Đông Lâm Tự Tăng

       

Đông Lâm Tống khách xứ

月  出  白  猿  啼

Nguyệt xuất bạch viên đề

笑  別  廬  山  遠

Tiếu biệt Lư Sơn viễn

何  煩  過  虎  谿

Hà phiền quá Hổ Khê 

dịch là:

Từ Biệt Sư Tăng Chùa Đồng Lâm

Đồng Lâm tiễn khách về

Vượn trắng kêu trăng xế

Tiếng cười vang Lư Sơn

Cớ sao qua Hổ Khê.

Dầu có điều đáng ngờ về xuất xứ của bức tranh Tam Tiếu Hổ Khê, bức tranh vẫn có đủ những đặc tính của một bức tranh biểu thị nụ cười Thiền. Đào Tiềm nổi tiếng hay rượu, vậy mà hoà thượng Huệ Viễn vẫn cho phép lui tới thăm chùa, rồi c̣n cho đi mua rượu về tiếp Đào Tiềm, lưu Đào Tiềm ở lại trong chùa lâu hơn. Việc phạm luật chùa này là một nét ưu hài sâu đậm. Mải vui câu chuyện, cả ba ẩn sĩ ḥa thượng Huệ Viễn, Đào Tiềm, và Lục Tu Tĩnh quên cả lời nguyền không vượt qua Khe Hổ, khiến bày hổ bên khe phải gầm lên nhắc nhở, nhưng tiếng hổ gầm cũng vẫn bị ch́m trong tiếng cười của ba ẩn sĩ.  Đó là nét ưu hài thứ hai của bức tranh, với hai nét ưu hài đó, ngựi xem tranh dường như c̣n nghe thấy tiếng cười của ḥa thưọng Huệ Viễn, của Đào Tiềm và của phương sĩ Lục Tu Tĩnh vang dội ắt cả tiếng hổ gầm.

Sau tiếng cười của Tam Tiếu Hổ Khê, thiền giả thường nhắc nhở đến h́nh ảnh phóng cuồng của Phổ Hóa. Phổ Hoá là h́nh ảnh của một người cuồng phóng lúc c̣n sống và cuồng phóng cả lúc đi sang cỏi chết. Khi c̣n khỏe mạnh, hàng ngày Phổ Hóa đánh mơ rao : “sớm mai đánh mơ, đầu hôm đánh mơ”, khiến Thiền tổ Lâm Tế gọi ông là con lừa. Nghe vậy Phổ Hóa hư lên như một con lừa. Tiếng hư của Phổ Hoá chẳng khác ǵ câu của Lăo Tử trả lời Sỉ Thành Ư, trong chương Thiên Đạo sách Trang Tử Nam Hoa Kinh [4]:

Kẻ gọi ta là trâu, th́ ta nhận làm trâu, kẻ gọi ta là ngựa th́ ta nhận là ngựa … Ta phục là thường phục, Ta không có ư phục để phục …

Lúc sắp chết, Phổ Hóa c̣n cuồng hơn. Một hôm Phổ Hóa đánh mơ rao ḿnh sắp chết. Thiền Tổ Lâm Tế cho người khiêng tặng một cỗ quan tài. Phổ Hóa đánh mơ rao mời làng nước hôm sau ra cửa Đông xem ông chết. Nhưng hôm đó Phổ Hóa không chết. Phổ Hóa lại hẹn hôm sau nữa ở cửa Tây, truyện cũng lại như vậy. Rồi Phổ Hóa lại hẹn một hôm khác ở cửa Nam, truyện vẫn như hai lần trước. Rồi Phổ Hóa hẹn hôm sao ở cửa Bắc. Sáng hôm đó, Phổ Hóa đánh mơ rồi chui vào áo quan, đậy nắp lại.Làng nước kéo tới, mở nắp áo quan ra th́ không thấy Phổ Hóa đâu nữa, chỉ c̣n nghe văng vẳng tiếng mơ mỗi lúc một xa. Một lần nữa truyện cuồng cũa Phổ Hóa biểu thị lời Trang Tử trong chương Đại Tông Sư [5]:

Thích chí mà không kịp cười.Cười mà không kịp sắp đặt. Sắp đặt sẵn sàng rồi mà quên cả sự hóa sinh th́ mới vào được cơi trời vắng lặng.

Cơi trời vắng lặng này, phải chăng là cơi trời trong đó tiếng mơ tắt dần và xác của Phổ Hóa trong cỗ áo quan cũng biến mất.

Phụ Bản III. Vô đề

Thiền giả Nhật Bản cũng có hai tác giả góp tiếng cười vào ḍng cười Thiền. Một là thiền sư Tiên Nhai Nghĩa Phạm, Sengai Gibon (1750-1837) và hai là thiền sư  Lương Khoan, Taigu Ryokan (1758-1851).

Thiền sư Tiên Nhai Nghĩa Phạm người ở vủng Mino, xuất gia khi mới 11 tuổi, làm du tăng khi 19 tuổi. Sau một thời gian tu tập tại nhiều nơi, ngài về chùa Shofukiji ở miền nam Nhật Bản năm ngài tṛn 40 tuổi và chủ tŕ tại đó cho tới ngày viên măn. Ngài là một họa sĩ và một cây bút thư pháp nổi tiếng. Ai tới xin tranh xin chữ ngài cũng cho. Số người kéo tới chùa mong xin được tác phẩm của ngài đông như ḍng nước lũ. Một hôm, ngài hé cửa chùa, tḥ đầu ra ngoài cửa và thông báo: “Bữa nay Tiên Nhai đi vắng.” Lời đó biểu thị nụ cười Thiền của người nghệ sĩ kiêm thiền sư Tiên Nhai. Bức tranh nổi tiếng nhất của Tiên Nhai là bức chỉ gồm có ba h́nh kỷ hà: một ṿng tṛn lồng với một h́nh tam giác và lồng với một h́nh vuông (xem Phụ Bản III). Đă có rất nhiều người bàn luận về bức họa này.

H́nh tam giác tiêu biểu cho Ngựi hợp bởi ba phần: thân thể, xă hội và tinh thần. H́nh vuông tiêu biểu cho muôn vật tạo nên bởi đất, nưóc, lửa và không khí. H́nh tṛn biểu thị cho mọi h́nh thể vô h́nh. Xét theo văn hóa Việt Nam, h́nh tṛn tượng trưng Trời, h́nh vuông biểu thị đất và h́nh tam giác ở giữa chỉ con người, nên bức họa có thể coi như tượng trưng thuyết Thiên Địa Nhân, thuyết mà Trạng Tŕnh nước nhà đeo đuổi suốt đời dưới   thời  vua Lê Chúa Trịnh. Tuy nhiên, giới nghiên cứu Thiền Học không công nhận ư nghĩa trên đây của bức tranh, bởi lẽ mọi h́nh đều vô h́nh và đồng nhất với không,nên mọi h́nh đều đồng nhất với nhau.

Về thư pháp, nét chữ thảo của thiền sư Tiên Nhai rất rơ ràng, như tính t́nh tự nhiên không thích phô trương của người viết. Có giai thoại kể rằng một phú thương tới chùa xin thầy Tiên Nhai viết cho mấy chữ để làm bức hoành treo giữa nhà. Thầy phóng bút viết sáu chữ:

父  死  子  死   孫  死

Phụ tử tử tử tôn tử

Nghĩa là:

Cha chết con chết cháu chết.

Nhà phú thương không đẹp ư xin thầy giải nghĩa sáu chữ này. Thầy giảng:

Đây là sáu chữ biểu thị cho mong ước tốt lành cho toàn gia. Nếu con chết trước cha, th́ cha buồn đứt ruột, nếu cháu chết trước cha th́ cả cha cả ông c̣n buồn khổ hơn. Làm người ai không chết? Nhưng cái chết phải đến tuần tự như sáu chữ trên đây, đó là thuận lẽ trời. Đó có phải là niềm vui đáng ước mong không?

Taigu Ryokan là một thiền sư và cũng là một nhà thơ, một nhà thư pháp được quần chúng Nhật Bản đặc biệt sùng phụng. Nhưng điều làm ông nổi tiếng nhất là nụ cười của ông. Ông khước từ tất cả những nghi thức người đời vinh danh ông và suốt đời ông không cho xuất bản một câu thơ nào của ông. Ông ngồi thiền, và đi bộ vào rừng, hay đi khất thực. Gặp ông, ai ai cũng đều như cảm thấy như: “ngày xuân trong sáng đă tới thay thế cho những ngày đông ảm đạm.” Cuộc sống của ông có nhiều điểm giống như cuộc sống của hai ẩn sĩ Hàn Sơn và Thập Đặc. Hơn nữa ông c̣n giống Bố Đại về điểm thích chơi với bọn trẻ con.

Một đêm có trăng muộn, trộm vào lều của ông lấy của ông một số vật dụng. Ông viết bài hài cú như sau:

Chú Chích chuồn đi rồi mà c̣n quên:

liềm trăng

trên của sổ.

Có giai thoại kể rằng bài hài cú trên ông làm trong đêm một tên trộm tới viếng căn lều của ông, tên trộm t́m măi không có ǵ đáng lấy, th́ bị ông bắt gặp. Ông cởi chiếc áo mới mặc trên người biếu tên trôm cùng với bài hài cú trên đây.


 

oOo


[1] Daiset teitaro Suzuki, Thiền Luận tập I, sđd, tr. 90.

[2]  Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, Đại Nam tái bản tại Hoa kỳ, tr. 435.

[3] 李 太 白 全 集,中 冊 清 王 注 琦,中 華    , 728

[4] Trang Tử Nam Hoa Kinh, sđd, tr. 227

[5] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bàn dịch của Nguyễn Duy Cần, sđd, tr. 384-385.

 

 

 

 

 

Xem Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG

 

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com