www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

I
 

                                         

Đ

ức Phật có cười hay không? Nếu ngài cười th́ cái cười đó có ư nghĩa ra sao? Đó là một đề tài mà nhiều nhà Phật học lưu tâm. Người học Phật công nhận rằng truyện Đức Phật có hay không cười từng ảnh hưởng sâu đậm trên viêc truyền giáo cũng như việc tu tập của chư tăng cùng các cư sĩ.

 

Có phái Phật học chủ trương rằng Đức Phật không bao giờ cười, kể cả sau khi ngài đă thành Phật. Nhiệm vụ giáo hóa và cứu vớt chúng sinh ra khỏi ṿng luân hồi của Đức Phật quả là nghiêm trang nên ngài khó có dịp cười. Có thể Đức Phật đă từng cười khi ngài c̣n là một thái tử, c̣n ở trong hoàng cung, trước ngày xuất gia. Cái cười trờ thành vô nghĩa, hời hợt, trước những đau khổ của loài người, trước cảnh sinh lăo bệnh tử của chúng sinh. Xét về căn nguyên, những truyện làm cho người ta cười không phải là những truyện tâm linh trí thức, mà thông thường là những truyện mang lại cho người kể cũng như người nghe những khoái cảm liên quan tới dạ dầy, ruột non ruột già, cơ quan sinh dục, hay bàng quang, những truyện mà người ta thường gọi là “truyện miệt dưới” theo ngôn ngữ b́nh dân hay truyện “h́nh nhi hạ” theo ngôn ngữ giới nho học. Những người chuyên nghề chọc cười thiên hạ, thường là những vai hề, những vai hài, hay những tên “sỏ lá ba que”. Nhiều truyện cười khác thường hoặc có ư nâng cao một cá nhân, hoặc hạ thấp cả một tầng lớp dân chúng, khiến nhiểu truyện cười thành những truyện mang mầu sắc kỳ thị chủng tộc, phân chia giai cấp.

 

Những nhận xét trên cho thấy không riêng ǵ Phật giáo mà trong mọi sinh hoạt của mọi tôn giáo thường vắng bóng cái cười.  Cái khó là trong kinh sách Phật học, tỷ như trong Kinh Lăng Già, thường có chép rơ ràng rành mạch những trường hợp đức Phật đă cười.

 

Đằng khác, giới nghiên cứu đồng ư rằng Thiền giới là môn phái Phật học thường dùng cái cười làm phương tiện truyền giáo. Nhiều thiền giả, không ngần ngại dùng phương pháp chọc cười của những truyện miệt dưới để diễu cợt thói kiêu ngạo với mục đích giải thoát cái ta; chỉ trích thói chạy theo ham muốn để diệt dục; nhiều khi làm đảo lộn trật tự, vượt qua đối đăi, nhằm buông bỏ để trở về với một, để giải thoát con người.

 

Theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm thứ 25 “Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn” đoạn 5 chép tới 32 thân  Phật dùng để độ thoát. Người dùng thân nào để độ thoát thời Bồ Tát Quán Thế Âm cũng hiện thân nấy để v́ đó nói pháp. Sử Phật học ghi chép rằng có nhiều phương cách gọi chung là upaya, mỗi một phương cách đó đều nhắm sửa lại lời truyền giáo sao cho hợp với nhu cầu của người nghe, và không ra ngoài giới hạn của bài giảng. Như vậy, pháp thuật của ngài Quán Thế Âm cũng không khác ǵ phương pháp upaya: nói với người nghe bằng tiếng nói của người đó. Nếu vậy, giả thử người nghe là một người thường ngày vẫn dùng hoạt kê trong mọi sinh hoạt, thế th́ nói pháp với người này bằng cách hoạt kê chắc chắn là có thể thắt chặt nút truyền thông dễ dàng hơn. Phải chăng v́ vậy, trong kinh sách Thiền Học có nhiều giai thoại đề cao tiếng cười trong những trường hợp truyền giáo hay thành đạo của những bậc chân tu.

 

Từ khi Thiền học lan sang trời Tây, đă có nhiều sách Thiền viết bằng tiếng Âu Mỹ, cộng thêm với sự khác biệt về văn hóa cũng như về truyền thống xă hội, khiến những tác phẩm này đầy rẫy những sai biệt về ngôn ngữ, cũng như về việc dẫn giải. Điều đó đă khiến thiền sư Nhật Bản Nyogen Senzaki phải lên tiếng khuyến cáo hội Thiền Học Hoa Kỳ [1]

 [It] is running sideways writing books, lecturing, referring to theology, psychology, and what not. Some one should stand up and smash the whole thing to pieces …

 

Tuy nhiên, việc đập phá này cũng chính là một sự việc nằm trong truyền thống bài ảnh tượng, iconoclastic, của Thiền học, một phần quan trọng trong việc truyền giáo của đạo Thiền bằng tiếng cười. Giới thiền học mô tả việc đứng lên bài bác này chẳng khác ǵ thái độ một cậu bé hết co chân này lại co chân kia miệng xít xoa, thay v́ chạy đi kiếm môt pḥng tiểu công cộng. Có một giai thoại kể rằng, có một vị hoà thượng trả lời một môn sinh, lẽo đẽo theo ngài với câu hỏi “t́m Phật ở đâu?” bằng ba chữ “Ở nhà sau!” Câu trả lời này hệt như câu trả lời câu hỏi “Đạo ở đâu?” trong Trang Tử Nam Hoa Kinh, mà người nghe, nếu quen thuộc với lối đối thoại qua tiếng cười, đă hiểu là Phật hay Đạo ở khắp mọi nơi. Trái lại, lối nói qua tiếng cười này nhiều khi bị coi là lối nói vẽ rắn thêm chân, vẽ râu cho quan hoạn. Nhưng lối nói này không v́ thế mà không phổ thông trong Thiền học, và nhiều khi ăn xâu vào vô thức tập thể đi vào văn học.

 

Có một giai thoại kể rằng: có một môn sinh hỏi thầy: “Khi tấm thân này tan ră, mà hồn vẫn c̣n tồn tại, vậy th́ hồn lúc này ở đâu?” Câu thầy trả lời câu hỏi căn bản của mọi tôn giáo đơn giản là: “Sớm nay gió thổi nhè nhẹ.”

 

Câu trả lời này gợi cho người từng đọc Truyện Kiều câu Thuư Kiều dặn ḍ Thúy Vân:

 

Thấy hiu hiu gió th́ hay chị về.

 

Ai ai cũng hiểu là ngón tay chỉ mặt trăng, dầu cho là chỉ thẳng hướng về mặt trăng, th́ hướng đó cũng không phải hướng thẳng tới mặt trăng đối với người muốn nhờ người khác chỉ cho ḿnh hướng tới mặt trăng. Thế nên ứng dụng phương pháp trực truyền, Thiền tông có nhiều nét đặc biệt trong việc truyền thụ Phật pháp. Một trong nhưng nét đạc thù đó là việc trực truyền qua nụ cười.

Giới nghiên cứu quen gọi việc truyền thụ Thiền học qua nụ cười là mặt kia của Thiền học. Trên mặt ngôn ngữ, nhóm chữ này thường it nhiều tương quan với nhiều chữ quen thuộc như: nụ cười mỉm, chuỗi cười ṛn, pha tṛ, làm hề, phi lư, ưu hài [2] humour, điên rồ, bỡn cợt, v.v… Người chọc cười có thể là kẻ thích bày tṛ tàn ác, dễ súc động, thích chọc ghẹo, chối bỏ những quy ước thông thường của xă hội, chua chát. Người th́ch ưu hài thường là những người quay lưng lại sự thực và đôi khi không muốn nhận lănh trách nhiệm.  Kẻ thích pha tṛ thường dùng nụ cười để tự tôn, hay muốn bảo vệ ư riêng trước đám đông. Ngoài ra những điều phi lư, vô nghĩa, bỡn cợt cũng là những phương cách chọc cười thông dụng v́ hữu hiệu.

 

Việc truyền thụ Thiền học bằng nụ cười ở mặt bên kia, hay bằng nét trang nghiêm ở mặt bên này thực ra cũng chỉ là một, miễn hoàn tất được việc truyền thụ. Truyện đó chẳng khác ǵ lời tự thuật của nhà sư Thanh Nguyên Duy Tín, chép trong Truyền Đăng Lục, dưới bút dịch của Trúc Thiên, như sau [3]:

 

Săi tôi, ba mươi năm trước, khi chưa học Thiền, thấy núi là nuí, thấy nước là nước; sau nhân theo học bậc thiện tri thức, được chỉ cho chỗ vào, thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước; rồi nay thể nhập chốn yên vui tĩnh tịch, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước.

 

Học thiền bằng nụ cười hay bằng nét trang nghiêm, ban đầu chắc là có khác nhau, nhưng rồi khi đă hấp thụ được Thiền th́ tại mặt bên này hay ở mặt bên kia cũng chỉ là một.  Lúc đó dù ở mặt bên này hay ở mặt bên kia đâu có ǵ c̣n khác nhau.

 


oOo


[1] Nyogen Senzaki and Ruth S. McCandless, trans with commentary of Genro’s “Solid Iron Flute” The Iron Flute, Ruthland: Tutle, 1961, p.126.

[2] Chữ dịch của Dương Tấn Tươi, Cười Nguyên Nhân và Thực Chất, cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon, 1968, tr. 203.

[3] Daiset teitaro Suzuki, Thiền Luận tập I, bản dịch của Trúc Thiên, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 29-30.

 

 

Xem Kỳ 2

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com