www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 23:

 

X

GOM Ư

 

 

Qua những trang trên, người đọc dường như nh́n thấy nếp sống thường ngày của Nguyễn Khuyến. Dầu đă từ quan về Vườn Bùi, Nguyễn Khuyến vẫn c̣n đối mặt với cái sống hàng ngày: với cái đối đăi giữa sống với chết; cái tương quan giữa con người và thiên nhiên; cái ranh giới giữa ta với tha, ngay cả giữa cha với con, ta với bạn; cái đúng cái sai trong kinh sách; cái say cái tỉnhvới chén rượu câu thơ. Suy tư về những điều xẩy ra, qua đi rồi lại trở lại trong nếp sống thực tế hàng ngày, để rồi t́m ra cho chính ḿnh niềm an lạc trong tâm hồn, cái giao ḥa giữa ḿnh với chính-ḿnh-giữa-người-chung-quanh. Những suy tư này hiện nay đang trở lại với giới triết gia tây phương của thế kỷ XXI dưới một cái tên lạ tai: “koinologie” 118. Người phưng Đông, không bàn luận nhưng t́m ra những nếp sống thực tế để tạo cho ḿnh niềm an lạc.

Nhưng, từ suy tưởng tới thành quả, hỏi mấy ai đạt được những giây phút thanh thản như Nguyễn Khuyến với nụ cựi với mọi người, với thân nhân của ông và với chính ông; hỏi ai có được niềm b́nh lặng trên lá thuyền câu, không phải ở nơi khói sóng chốn lâm tuyền mà ḷng c̣n vướng mắc việc thế gian như Cao Bá Quát, mà ngay trên mảnh ao nhà; hỏi ai có được niềm an lạc khi nh́n thấy trăng sáng đầy trời mà không nh́n thấy ngón tay người chỉ mặt trăng ?

Người đọc thơ liên tưởng tới h́nh ảnh Nguyễn Khuyến, trong những giây phút đó, qua ba chữ ta vói tatrong câu kết bài thơ nôm Bạn Đến Chơi Nhà. Ba chữ ta với ta này là một bút thuật tu từ, rhétorique, có từ thời xa xưa Người đọc thơ mường tượng tới trong giây phút Nguyễn Khuyến đón bạn đến chơi, không bằng câu mở đầu sách Luận Ngữ 119:

 

.


Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ

 

nghĩa là :

 

Có bạn từ phương xa đến, chẳng vui mừng chăng ?

 

cũng chẳng có cơm gà cá gỏi để đăi bạn, ngay cả cơi trầu để mở đầu câu truyện cũng chẳng có. Qua ba chữ ta với ta người đọc thơ phân vân nhớ tới truyện người xưa lấy cái ta định nghĩa cái ta, hoặc truyện người xưa nh́n thấy bản diện của chính ḿnh. Nhưng rồi lại tự hỏi là phải chăng, người bạn tới thăm Nguyễn Khuyến biết đâu chẳng là một chú Đáo làng bên, hoặc một Ông Từ xóm chợ, hoặc một Dương Thượng Thư, nhưng người bạn đó hẳn là một ông bạn, một người bạn thân thiết với Nguyễn Khuyến tựa như ông Lăo Đá, tiêu biểu cho h́nh ảnh của chính Nguyễn-Khuyến-giữa-những-người-chung-quanh, khiến có sự giao ḥa giữa ông và ông bạn, như hai giọt nước ḥa làm một.

Người đọc thơ tự hỏi tiếp: phải chăng Nguyễn Khuyến đạt được niềm thanh thản trong đời sống hàng ngày, ḥa hợp được với mọi người, nhất là ḥa hợp được với chính ḿnh, v́ ông đă thành công trong việc bước ra ngoài ṿng cương tỏa của danh lợi, bước ra ngoài cái g̣ bó của tập tục, cũng như cái tù túng của kinh sách, và làm khán giả ngồi xem diễn tiến cuộc hư trường? Phải chăng đó là h́nh ảnh tư duy biểu thị qua nếp sông trong thơ Nguyễn Khuyến, một nếp sống hiện sinh khác với nếp sống hiện sinh dấy loạn trong cuộc sống vô nghĩa như thuyết của Albert Camus và Jean Paul Sartre, mà là một nếp sống hiện sinh thuận theo con tạo, song hành với nếp sống hiện sinh Ky Tô của Gabriel Marcel, trên nẻo dẫn tới lẽ huyền?

 

 

 

HẾT

 



[118] Therry Paquot, La Philo, sous un autre jour, Magazine Litéraire, no. 448, Dec. 2005, Paris, France, p.78.
[119] Luận Ngữ, bản dịch của Lê Phục Thiện, sách đă dẫn, tr. 1.


 


[106] Lục Tổ Huệ Năng
[107] Suzuki, Thiền Luận, bản dịch của Tuệ Sĩ
[108] Vương Duy Thi Tuyển, Truyền Đông Hoa tuyển chú, Đại Quang xuất bản xả, Hương Cảng 1976, tr. 22.
[109] Martha L. Wagner, Wang Wei, Columbia University, Tayne Publishers, Boston 1981, p. 13
[110] Tony Barnstone and Willis Barnstone, Laughing Lost in The Mountain by Poems of Wang Wei, University of New England, Hanover, New Hamshire, 1991, p.15.
[111] Bạch Cư Dị, Toàn Đựng Thi, tập thư XIV, Trung Hoa Thư Cục, Bắc Kinh 1985, tr. 5169.
[112] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập trung, sách đă dẫn trang 253-254.
[113] Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du Toàn Tập, tập 2, một nhóm tác giả, Văn Học xuất bản, Hà Nội 1996, tr. 402
[114] Vĩ Bách Lợi Tri, Basho Haiku, Tokyo 1990, p.67
[115] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập hạ, bản dịch của Ḥa Thượng Tụệ Sĩ, sách đă dẫn, tr. 270.
[116] Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, quyển dệ thất thập bát, tr. 429-430.
[117] Kinh Hoa Nghiêm, tập 3, bản dịch của Thượng Tọa Thích trí Tịnh, Chùa Khánh Anh, Bagneux, Pháp, phát hành, tr. 2171-2176.


 



[78] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 20.
[79] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 274
[80] Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, sách đă dẫn, tr. 361.
[81] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dân, tr. 330.
[82] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 420-421.
[83] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương Tống, tr. 480-487.
[84] Trương Chí Ḥa, Điền Ca Tử, Cent Poèmes Lyriques des Tang et des Song, Editions en Langues Etrangères. Bejing, Chine, 1987, p.6
[85] Liễu Tôn Nguyên, Đường thi Tam Bách Thủ, Thối Sĩ biên giả, Hương Cảng, 1989, tr. 221.
[86] Liễu Tôn Nguyên, Đường Thi Tam Bách Thủ, sách đă dẫn, tr.89.
[87] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng tống, sách đă dẫn, tr. 220.
[88] Vương Duy Thi Tuyển, Phó Trần Hoa tuyển chú, Đại Quan Xuất Bản Xă, Hương Cảng, 1976, tr.40.
[89] Ngô Sư Đạo, trích Chân Trời Tứ Tuyệt, Nguyễn Đức Hiển, Tác giả tự xuất bản, tr.
[90] Tư Không Thự, Toàn Đường Thi, tập 1, quyển 292-293, sách đă dẫn, tr.18
[91] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 357.
[92] Thơ văn Cao Bá Quát, tác phẩm tập thể, Văn Học Hà nội 1984, tr.240-241 (không có bản chữ nho)
[93] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 53.
[94] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhưọng Tống, sách đă dẫn, tr. 66.
[95] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr.238.
[96] N.I. Nikulin, Bài Thơ Than Mùa Hè, bản dịch của Ngân Xuyên, trong Thi Hào Nguyễn Khuyến đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội 1994, tr.246-247
[97] Trang tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 255.
[98] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 220..
[99] The Saying of Chuang Tzu, Confucius Publishing Co., A new traduction of James R. Ware, 1959, p.179-180
[100] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 254.
[101] Trang Tủ Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 54.
[102] Cổ Học Tinh Hoa, Trần Lê Nhân và Nguyễn Văn Ngọc, sách đă dẫn, tr. 312
[103] James R. Ware, The saying of Chuang Chou, sách đă dẫn, tr.207.
[104] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 504
[105] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương tống, sách đă dẫn, tr. 344-345

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com