www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 22:

 

IX

Lên CHÙA

 

 

Tâm cảnh của Nguyễn Khuyến khác với tâm cảnh của Vương Duy và Bạch Cư Dị là ư thơ trong sáu câu : tù câu 5 tới câu 11. Trong hai câu 6 và 7, Nguyễn Khuyến dường như thản nhiên trước cảnh hạn hán làm cạn giếng héo thông. Đó là điểm đáng lưu ư, v́ đối với nhà nho, thường khi có thiên tai, thường coi như ngôi thiên tử có điều ǵ lỗi đạo khiến Trời phạt, nhà vua phải ăn chay nằm mộng th́ dân mới sớm thoát nạn trời.

Hai câu 10 và 11, Nguyễn Khuyến nói rơ là ông không muốn bàn về phép Phật. Liền đó có cơn gió mát đưa người thơ vào giấc ngủ say sưa ngay trên nền gạch điện Phật.

Thái độ này cũa Nguyễn Khuyến qua sáu câu tho trên thu gọn trong một chữ buông bỏ. Chữ buông bỏ này khiến Nguyễn Khuyến đă từ quan về Vườn Bùi, là điều mà ông từng dặn ḍ con ông ghi khắc trên mộ bia cho ông.

Chữ buông bỏ này, hiểu theo nghĩa của Nhất Biến Thượng Nhân, Ippen Shônin, (1239-1289), người sáng lập ra ḍng Thiền Thời Tông, Jôdo, trong Tịnh độ Tông  Nhật Bản, viết trong lá thư quảng bá phép niệm Phật. Suzuki trích dẫn trong Thiền Luận 112 tập trung, và Ḥa Thưọng Tuệ Sĩ dịch là :

 

Ông hỏi tôi phải có thái độ tâm lư nào đối với niệm Phật. Hành giả môn niệm Phật chỉ cần đọc Nam Mô A Di Đà Phật. Tôi chẳng thể chỉ cho ông điều ǵ khác. Do niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tâm ông được b́nh an. [...]

Nhân có kẻ hỏi Không Dă Thượng Nhân, Kuya Shônin (903-972) nên niệm Phật như thế nào? Ngài chỉ đáp buông bỏ,không thêm một lời. Sự kiện này ghi trong thi tuyển của Tây Hành, Saigyo (?-1190) và tôi cho rằng đây là lời vàng ngọc. Buông bỏ tất cả là điểm thiết yếu cho hành giả niệm Phật. Hăy buông bỏ học thức, trí khôn, và cả vô minh nữa; hăy buông bỏ tất cả những khái niệm như thiện và ác, giầu và nghèo, sang và hèn, địa ngục và thiên đàng, và mọi thứ chứng ngộ mà các tông phái đạp Phật giảng dậy và tu tŕ. hầu dứt ḿnh ra khỏi tất cả nhưng vọng tưởng và tham ái này, hoàn toàn chuyên tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật.

Nếu ông c̣n thấy rằng lời của tôi khó hiểu, cũng đừng thắc mắc ǵ hết. Cứ để đó, bỏ hết mọi thứ, không lo âu, không tính toán, hăy phó thác cho bản nguyện  chuyên tâm niệm Phật. Dù niệm với tâm địa nào, thuận ư hay trái ư, câu Nam Mô A Di Đà Phật không trái ngược với bản nguyện của Phật A Di Đà. Ngoài việc đó chẳng có ǵ đáng bận tâm đến.

Trong bài Thanh Giang Gự Tỵ Thử, nguyễn Khuyến buông bỏ, Nguyễn Khuyến phó thác cho bản nguyện, Nguyễn Khuyến không niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nguyễn Khuyến viết:

 

但 求 人 世 憐
Đăn cầu nhân thế liên

 

dịch thơ là

 

Đoái thương thân thế muôn vàn cậy trông

 

Với cây này Nguyễn Khuyến đă ggặp Nguyễn Du qua câu số 19 bài Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh 113:

 

Muôn nhờ Đức Phật từ bi.

 

Chuỗi h́nh ảnh trong bốn câu chót bài Thanh Giang Tự Tỵ Nhiệt: người thơ lên chùa ngủ say sưa trong điện thờ Phật, trở dậy ra về dưới trời đầy trăng là chuỗi h́nh ảnh b́nh đạm tiêu biểu tài thơ của Nguyễn Khuyến. Chuỗi h́nh ảng đó không thấy có trong nhưng bài thơ trích dẫn của Vương Duy và Bạch Cư Dị. Trái lại chuỗi h́nh ảnh đó thường được dùng trong ḍng thơ Việt Âm.

Trong bài Thu Dạ Thụ Hạ Nạp Lương, Đêm Thu Bên Gốc Cây Hóng Mát,  Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng cơn gió mát làm h́nh ảnh niềm tục tan biến và ánh trăng biểu thị đạo tâm :

 

清 風 颯 颯 消 塵 想
Thanh phong táp táp tiêu trần tưởng
明 月 涓 涓 會 道 心
Minh nguyệt quyên quyên hội đạo tâm

 

dịch là

 

Gió vi vu niềm tục tan
Trăng trong bừng tỏ ngập tràn đạo tâm.

 

Ngược lên tới ḍng thơ Thiền Trúc Lâm, h́nh ảnh cơn gió mát đến với Nguyễn Khuyến, đánh tan cái nóng nực của ngày hè hạn hán, dẫn Nguyễn Khuyến vào giấc ngủ ngày trên nền gạch điện Phật, cũng là h́nh ảnh giấc ngủ trưa của vua Trần Minh Tông (1300-1357) trong hai câu dưới đây, trong bài Giới Am Ngâm :

 

藤 床 枕 上 卓 午 眠
Đàng sàng chẩm thượng trác ngọ miên
正 是 箇 中 真 快 活
Chính thị cá trung chân khoái hoạt

 

dịch là

 

Giấc trưa trơng trúc gối cao
Sống trong cảnh đó hỏi đâu cho bằng

 

Chẳng khác ǵ Nguyễn Khuyến, phó thác trọn vẹn cho bản nguyện rồi ngủ say sưa trên nền gạch trong chủa Thanh Giang, giấc trưa trên trơng tre đưa vua Trần Minh Tôn với việc buông bỏ như viết trong hai câu tiếp :

 

經 也 不 看 佛 不 擬
Kinh dă bất khan Phật bất nghĩ
醫 眼 何 為 金 屑 貴
Y nhăn hà vi kim tiết quư

 

dịch là

 

Phật chẳng nghĩ kinh chẳng màng
Mắt đau chẳng chữa bột vàng chẳng mua

 

Trước vua Trần Minh Tôn, Tam Tổ Huyền Quang Lư Đạo Tái (1254-1334), ḍng thơ Trúc Lâm, cũng dùng nhiều h́nh ảnh thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến. Cơn gió mát đưa ngựi thơ vào giấc ngủ ngày, để rồi khi mở mắt dậy thấy ḿnh như tách khỏi chốn bụi trần là nét chính trong bài :

 

午 睡
Ngọ Thụy

雨 過 溪 山 淨
Vũ quá khê sơn tịnh
楓 林 一 夢 涼
Phong lâm nhất mộng lương
反 觀 塵 世 界
Phản quan trần thế giới
開 眼 醉 茫 茫
Khai nhăn túy mang mang.

 

dịch là

 

Giấc Trưa

Tạnh mưa núi sạch suối trong
Gió đưa dỗ giấc rừng phong lặng lờ
Ngoái nh́n thế giới bụi mờ
Mở to đôi mắt vẫn ngờ ḿnh say.

 

H́nh ảnh làn gió mát giấc ngủ ngày c̣n là thi liệu trong hai bài dưới đây của Tam Tổ Huyền Quang. Một là bài:

 

晝 眠
Trú Miên

祖 父 田 園 任 自 鋤
Tổ phụ điền viên nhậm tự sừ
千 青 盤 屈 繞 吾 盧
Thiên thanh bàn khuất nhiễu ngô lư
木 犀 囪 外 千 鳩 寂
Mộc tê song ngoại thiên cưu tịch
一 枕 清 風 晝 夢 餘
Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư.

 

dịch là

 

Giấc Trưa

Ruộng vườn nhà ta ta cày
Quanh lều quấn quưt ngàn cây xanh rờn
Ngàn cưu lặng tiếng ngoài song
Gối cao gió mát thong dong giấc ngày.

 

Hai là bài:

 

題 洞 軒 檀 越 假 山
Đề Động Hiên Đàn Việt Giả Sơn

花 木 寅 緣 種 作 山
Hoa mộc di duyên chủng tac sơn
籠 煙 罩 月 落 花 寒
Lung yên trạo nguyệt lạc hoa hàn
從 茲 念 慮 都 無 俗
Ṭng tư niệm lự đô vô tục
贏 得 清 風 一 枕 安
Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an.

 

dịch là

 

Đề Ḥn Non Bộ Tại Động Hiên 

Cây hoa non bộ tay trồng
Hoa rơi tuyết lạnh khói lồng trăng soi
Từ nay tục lụy sạch rồi
Giấc nhàn gió mát ngủ vùi gối cao.

 

Tạm ngưng việc đối chiều thơ bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến với nhưng bài thơ Thiền quen biết trong ḍng thơ Việt Âm để đối chiếu bài thơ của Nguyễn Khuyến với một vài bài thơ Thiền Nhật Bản và Trung Quốc.

Nh́n sang ḍng thơ Thiền Nhật Bản, chuỗi h́nh ảnh lên chùa ngủ vùi trong điện Phật, chuông chiều dóng tỉnh dậy thấy trăng sáng cũng là chuỗi h́nh ảnh Ba Tiêu 114 dùng trong bài bài cú dưới đây, phiên âm là

 

Tera ni ne-te
mokoto-gao naru
tsuki-mi kana,

 

và Vĩ Bách Lợi Tri, Toshi Huru Oseko dịch sang tiếng Anh là:

 

Having slept at the temple
with what a serious look
I view the moon.

 

dịch theo thể bài cú là:

 

Chùa trong chợt tỉnh giấc
nh́n nh́n lại thật kỹ
chỉ thấy trăng vằng vặc.

 

Chuyễn sang thơ Trung Quốc, người đọc thơ c̣n thấy chuỗi h́nh ảnh lên chùa ngủ vùi trong điện Phật, nghe chuông tỉnh giấc chợt thấy trăng sáng mà Nguyễn Khuyến dùng trong bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử hay Ba Tiêu dùng trong bài bài cú trên đây cũng là những h́nh ảnh Đỗ Phủ dùng trong bài:

 

Du Long Môn Phụng Tiên Tự

已 從 招 提 遊
Dĩ ṭng chiêu đề du
更 作 招 提 境
Canh tác chiêu đề cảnh
陰 壑 生 虛 籟
Âm hác sinh hư lại
月 林 散 清 影 
Nguyệt lâm tán thanh ảnh
天 闕 象 緯 逼
Thiên khuyết tượng vĩ bức
雲 臥 衣 裳 冷 
Vân ngọa y thường lănh
欲 覺 聞 晨 鐘
Dục giác văn thần chung
金 人 發 深 省
Kim nhân phát thâm tỉnh

 

dịch là

 

Lên Chùa Phụng Tiên Tại Long Môn

Bấy chầy mấy dịp lên chùa
Cảnh Thiền ngủ lại chốn xưa đêm này
Âm ba vang vọng hang đây
Trăng thanh giăi bóng rừng cây tỏ mờ
Bệ cao bóng tượng lập lờ
Áo bay lành lạnh hững hờ mây trôi. 
Tỉnh ra chuông sớm đổ hồi
Quay về với Phật ḷng người ước mong.

 

Không thể chỉ do ngẫu nhiên mà chuỗi h́nh ảng trong bài Thanh Giang Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến lại là thi liệu trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ của Tam Tổ Huyền Quang. Cũng không phải là do ngẫu nhiên là chuỗi h́nh ảng đó cũng là thi liệu trong bài cú của Ba Tiên tại Nhật và của Đỗ Phủ tại Trung Quốc. Vậy nên người đọc thơ tự ḥi là phải chăng đâu là nguồn gốc của sự tương giao giữa ba ḍng thơ Đông Á như vậy?

Ngựi đọc thơ t́m ra câu trả lời cho câu hỏi trên trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới. Đoạn kinh Hoa Nghiêm này là lời Bồ Tát Di Lặc giảng dậy cho Thiện Tài Đồng Tử về các đức tính của Bồ Đề Tâm.Theo Suziki 115 Bồ Đề Tâm là ước vọng giác ngộ, là những đức tính thúc đẩy Thiện Tài Đồng Tử đi tham bái hết vị thầy nọ đến vị thầy kia và cuối cùng đă được diện kiến Bồ Tát Di Lặc. Ước vọng giác ngộ đó là nỗ lực tâm linh xuất hiện quanh câu hỏi:

 

Hạnh của Bồ Tát là ǵ?

 

hay chính là câu hỏi :

 

Ư nghĩa đời sống con người là ǵ?

 

Bồ tát Di Lặc dùng tất cả ngoài một trăm h́nh ảnh để mô tả Bồ Đề Tâm, trong số đó có nhưng h́nh ảnh mà Vua Trần Minh Tôn, Tam Tổ Huyền Quang, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến trong ḍng thơ Việt Âm và Ba Tiêu trong bài bài cú tại Nhật Bản và Đỗ Phủ tại Trung Quốc, cùng dùng làm thi liệu.

Bắt đầu là h́nh ảnh cơn gió mát dỗ giấc ngủ cho Tam Tổ Huyền Quang, vua Trần Minh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến là h́nh ảnh dưới đây trong kinh Hoa Nghiêm 116:

 

菩 提 心 者 猶 如 疾 風
Bồ đề tâm giả do như tật phong
能 卷 一 切 諸 障 霧 故
năng quyển nhất thiết chư chướng vụ cố

 

Trong bản dịch kinh Hoa Nghiêm, do chùa Khánh Anh, Baigneux, Pháp Quốc, phát hành, Thượng Tọa Thích Trí Tịnh 117 dịch là :

Bồ đề tâm như gió mạnh thổi cuốn tất cả sương mù che chướng.

Cơn gió cũng là h́nh ảnh tiêu biểu cho Bồ Đề Tâm trong câu :

 

菩 提 心 者 蕕 如 婆 樓 那 風
Bồ đề tâm giả do như bà lâu na phong
能 動 一 切 所 應 化 故
năng động nhất thiết ứng hoá cố

 

Vẫn theo dịch giả Thích Trí Tịnh nghĩa là:

 

Bồ đề tâm như gió Bà Lâu Na có thể
làm chấn động những kẻ đang được hóa độ

 

Tiếng chuông chùa đánh thức Đỗ Phủ, Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến là biến h́nh của tiếng trống tàn canh tiêu biểu Bồ Đề Tâm trong kinh Hoa Nghiêm đánh thức kẻ ch́m trong phiền năo:

 

菩 提 心 者 如 更 漏 鼓
Bồ đề tâm giả như canh lậu cổ
覺 諸 眾 生 煩 惱 睡 故
giác chư chúng sinh phiền năo thuỵ cố sở

 

nghĩa là :

 

Bồ đề tâm như trống tan canh đánh
thức chúng sinh mê ngủ trong phiền năo.

 

H́nh ảnh trăng sáng trong thơ trích dẫn của Đỗ Phủ, Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến củng là một h́nh ảnh tiêu biểu bồ đề tâm trong kinh Hoa Nghiêm:

 

菩 提 心 者 蕕 如 盛 月
Bô đề tâm giả do như thịnh nguyệt
諸 白 淨 法 悉 圓 滿 故
chư bách tịnh pháp tất viên măn cố.

 

dịch là

 

Bồ đề tâm như mặt trăng sáng
v́ những pháp bạch tịnh đều viên măn.

 

H́nh ảnh an lạc của Đỗ Phủ Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến lúc tỉnh giấc trên chùa dường như tương ứng với h́nh ảnh bồ đề tâm trong câu kinh Hoa Nghiêm:

 

莆 提 心 者 猶 如 伏 臧
Bô đề tâmgiả do như phục tạng
能 攝 一 切 諸 佛 法 故
năng nhiếp nhất thiết chư Phật pháp cố

 

Theo bản dịch kinh Hoa Nghiêm của chùa Khánh Anh, câu này có nghĩa là:

 

Bồ đề tâm như phục tạng
bởi có thể nhiếp chánh mọi Phật pháp.

 

Trong Thiền Luận tập hạ, Ḥa Thượng Tuệ Sỹ dịch thoát theo ư nghĩa bồ đề tâm, theo giáo thuyết Đại Thừa như sau:

 

Bô đề tâm như người thức tỉnh đẩy lui mọi xấu xa.

 

Trong câu kết bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử, Nguyễn Khuyến viết:

 

歸 來 明 月 天
Quy lai minh nguyệt thiên

 

dịch là

 

Ra về trăng sáng một trời mênh mông

 

Chữ quy trong thơ Nguyễn Khuyến dẫn người đọc về câu kinh Hoa Nghiêm sau đây:

 

菩 提 心 者 則 為 所 歸
Bồ đề tâm giả tắc vi sở quy
利 益 一 切 諸 世 間 故
lợi ích nhất thiết chư thế gian cố.

 

dịch là

 

Bồ đề tâm như chốn về
v́ lợi ích tất cả thế gian

 

và trong câu:

 

菩 提 心 者 則 為 所 歸
Bô đề tâm giả tắc vi sở quy
不 拒 一 切 諸 來 者 故
bất cự nhất thiết chư lai giả quy.

 

dịch là

 

Bồ đề tâm như chốn về
v́ chẳng chối từ môt ai muốn quay về.

 

Câu kết bài bài Du Long Môn Phụng Tiên, Đỗ Phủ viết:

 

金 人 發 深 省
Kim nhân phát thâm tỉnh

 

dịch là

 

Quay về với Phật ḷng người ước mong.

 

Người đọc, qua thơ, thấy Đỗ Phủ ước vào chùa, mong được tỉnh tu; và Nguyễn Khuyến từ chùa ra về. Nguyễn Khuyến, tuy mắt kém, nhưng bỗng nh́n thấy trăng sáng đầy trời, và không cần có một bàn tay chỉ mặt trăng. Thi cảnh và tâm cảnh của Đỗ Phủ và Nguyễn Khuyến chuyển biến theo hai hướng ngược nhau. Vậy phải chăng đó là phần sáng tác của Nguyễn Khuyến?

 

 




[106] Lục Tổ Huệ Năng
[107] Suzuki, Thiền Luận, bản dịch của Tuệ Sĩ
[108] Vương Duy Thi Tuyển, Truyền Đông Hoa tuyển chú, Đại Quang xuất bản xả, Hương Cảng 1976, tr. 22.
[109] Martha L. Wagner, Wang Wei, Columbia University, Tayne Publishers, Boston 1981, p. 13
[110] Tony Barnstone and Willis Barnstone, Laughing Lost in The Mountain by Poems of Wang Wei, University of New England, Hanover, New Hamshire, 1991, p.15.
[111] Bạch Cư Dị, Toàn Đựng Thi, tập thư XIV, Trung Hoa Thư Cục, Bắc Kinh 1985, tr. 5169.
[112] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập trung, sách đă dẫn trang 253-254.
[113] Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du Toàn Tập, tập 2, một nhóm tác giả, Văn Học xuất bản, Hà Nội 1996, tr. 402
[114] Vĩ Bách Lợi Tri, Basho Haiku, Tokyo 1990, p.67
[115] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập hạ, bản dịch của Ḥa Thượng Tụệ Sĩ, sách đă dẫn, tr. 270.
[116] Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, quyển dệ thất thập bát, tr. 429-430.
[117] Kinh Hoa Nghiêm, tập 3, bản dịch của Thượng Tọa Thích trí Tịnh, Chùa Khánh Anh, Bagneux, Pháp, phát hành, tr. 2171-2176.


 



[78] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 20.
[79] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 274
[80] Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, sách đă dẫn, tr. 361.
[81] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dân, tr. 330.
[82] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 420-421.
[83] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương Tống, tr. 480-487.
[84] Trương Chí Ḥa, Điền Ca Tử, Cent Poèmes Lyriques des Tang et des Song, Editions en Langues Etrangères. Bejing, Chine, 1987, p.6
[85] Liễu Tôn Nguyên, Đường thi Tam Bách Thủ, Thối Sĩ biên giả, Hương Cảng, 1989, tr. 221.
[86] Liễu Tôn Nguyên, Đường Thi Tam Bách Thủ, sách đă dẫn, tr.89.
[87] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng tống, sách đă dẫn, tr. 220.
[88] Vương Duy Thi Tuyển, Phó Trần Hoa tuyển chú, Đại Quan Xuất Bản Xă, Hương Cảng, 1976, tr.40.
[89] Ngô Sư Đạo, trích Chân Trời Tứ Tuyệt, Nguyễn Đức Hiển, Tác giả tự xuất bản, tr.
[90] Tư Không Thự, Toàn Đường Thi, tập 1, quyển 292-293, sách đă dẫn, tr.18
[91] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 357.
[92] Thơ văn Cao Bá Quát, tác phẩm tập thể, Văn Học Hà nội 1984, tr.240-241 (không có bản chữ nho)
[93] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 53.
[94] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhưọng Tống, sách đă dẫn, tr. 66.
[95] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr.238.
[96] N.I. Nikulin, Bài Thơ Than Mùa Hè, bản dịch của Ngân Xuyên, trong Thi Hào Nguyễn Khuyến đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội 1994, tr.246-247
[97] Trang tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 255.
[98] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 220..
[99] The Saying of Chuang Tzu, Confucius Publishing Co., A new traduction of James R. Ware, 1959, p.179-180
[100] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 254.
[101] Trang Tủ Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 54.
[102] Cổ Học Tinh Hoa, Trần Lê Nhân và Nguyễn Văn Ngọc, sách đă dẫn, tr. 312
[103] James R. Ware, The saying of Chuang Chou, sách đă dẫn, tr.207.
[104] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 504
[105] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương tống, sách đă dẫn, tr. 344-345

 

 

 

 

Xem Kỳ 23

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com