www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 18:

V


Cái Cười

 

 

 

Nụ cười Nguyễn Khuyến chia sẻ với bạn bè phần nhiều biểu lộ trong bài thơ nôm quen biết:

 

Hỏi Thăm Quan Tuần Mất Cướp

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giữa đồng
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
Thân già da cóc có đau không
Bây giờ trót đă sầy da trán
Từ trước chưa từng mất vẩy long
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông.

 

Nguyễn Khuyến như chia sẻ nỗi bạn cùng học thủa hàn vi, nay đă thân già da cóc mà gặp bọn cướp chúng lèn chúng đánh rồi bỏ giữa đồng. Song ông cũng như chế diễu quan tuần trong câu thơ hai nghĩa:
 

Ngày trước đi đâu mất mẩu lông

 nghĩa đen đối từng chữ với câu trên:

 Bây giờ mói sẽ trấy da trán

 

nhưng nghĩa bóng, qua hai chữ mẩu lông, gợi cho người đọc h́nh ảnh của  Dương Tử  người đă  từng nói: “dẫu chỉ mất một mẩu lông chân mà giúp thiên hạ cũng không muốn mất”, như có ư trách khéo ông bạn xưa nay chí thú làm giầu cư xử quá chặt chẽ với bạn bè. Tiếp theo ông chân t́nh khuyên ông bạn bỏ thói ky cópkẻo mang tiếng dại với phường ngông.

Trong nhánh thơ hỏi thăm bạn bè, Nguyễn Khuyến c̣n để lại bài: 

Lụt Hỏi Thăm Bạn

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu
Lụt lội năm nay bác ở đâu
Mấy ổ lợn con rầy lớn bé
Vài gian nếp cái ngập nông sâu
Phận thua suy tính càng thêm thiệt
Tuổi cả chơi bời họa sống lâu
Em cũng chẳng no mà chẳng đói
Thung thăng chiếc lá rượu lưng bầu.


Bác Châu Cầu là tên gọi cụ Bùi Văn Quế, người làng Châu Cầu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam, đỗ cử nhân cùng khoa với Nguyễn Khuyến, ra làm quan đến chức tuần Phủ rồi về hưu. Khi về hưu, cụ Bùi Văn Quế c̣n nuôi lợn xề bán lợn con, và tích nếp cái nấu rượu tiếp tục kinh doanh, đuổi theo cái có ngoài thân Việc đó đă ra ngoài nếp sống đương thời của Nguyễn Khuyến. Ông nhũn nhặn xưng em kể cho bạn nghe cảnh ḿnhchẳng no mà chẳng đói, chỉ vui với bầu rượu lá thuyền câu.

Người đọc thơ c̣n thấy nụ cười giễu bạn c̣n bận tâm về việc làm ăn sinh lợi của Nguyễn Khuyến trong hai bài gửi bạn, trích bài I, dưới đây:
 

Mừng Đốc Học Hà Nam

I

Lâu nay không gặp gỡ xa đàng
Ai biết rằng ra giữ mơ làng
In sáo vẽ cho thằng mặt trắng
Bẻ c̣ tính lại cái lương vàng
Chuyện đời hăy đắp tai cài trốc
Lộc thánh đừng lừa nạc bỏ xương
Cũng muốn ra chơi chơi chửa được
Gió thu hiu hắt đượm mầu sương.

 

Giới nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến cho biết là bài thơ trên đây Nguyễn Khuyến sáng tác để tặng ông Trần Nhược Sơn, bạn đồng học với tác giả thủa trẻ, thi đậu cử nhân, ra làm quan tới chức án sát Thái Nguyên th́ về nghỉ hưu. Sau đó lại được tái bổ Đốc Học Hà Nam. Tác giả dùng ba chữ giữ mơ làng để gọi việc tái xuất làm quan của bạn. Ba chữ này, theo giới nghiên cứu là ba chữ lấy điển từ sách Luận Ngữ 70:

 


Thiên tương dĩ phu tử vi đặc mộc

 

đại ư là trời lấy [Khổng] phu tử làm cái mơ gỗ. V́ vậy về sau hai chữ mộc đạc dùng để chỉ người học rộng làm thầy thiên hạ. Nhưng thay chữ gỗ bằng chữ làngsau chữ mơ gợi ra h́nh ảnh thằng mơ, một nhân vật thấp kém nhất trong làng. Hơn nữa, Nguyễn Khuyến coi chức vụ đốc học chỉ là việc in sáo tức là rập theo khuôn khổ cũ, để ăn lương. Nhưng trong hai câu kết Nguyễn Khuyến ân cần tỏ ư buồn nhớ bạn v́ muốn tới thăm mà chưa đi được.

Sống động hơn hết cả, trong ḍng thơ trào lông thăm hỏi bạn bè, nét châm biếm của người thơ linh hoạt nhất trong bài:

 

Chế Ông Đồ Cự Lộc

Văn hay chữ tốt ra tuồng
Văn dai như chăo chữ vuông như ḥm
Vẻ thầy như vẻ con tôm
Vẻ tay ngoáy cám vẻ mồm húp tương
Vẻ lịch sự ai bằng thầy Cự Lộc
Vẻ cô đầu nói móc có vài câu:
Anh chẳng sang mà cũng chẳng giầu
Hầu bao ních rận bâu quanh chiếu
Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu
Nón sơn son không méo cũng không tṛn
Quần vải thô ngại giặt ngả mầu son
Giầy cóc gậm nhặt dây đàn khâu lấy
Phong lưu ấy và tính t́nh ấy
Đến cô đầu vẫn thấy lả lơi bông
Xinh thay diện mạo anh hùng.

 

Bài thơ trên là một bức hư họa sống động, khiến người bị chế nhạo khó mà giận người vẽ được. Hai câu mở đầu cho thấy cái có nội tại của ông đồ, nhưng người thơ khen đó mà chê đó. Muời hai câu sau tả rơ nhưng cái có ngoại thân của ông đồ, thẩy đều bằng những h́nh ảnh trào lộng phản ánh nếp sống khác người của thầy đồ. Lời mô tả ông đồ, tác giả khéo léo đặt trên môi của một cô đầu đanh đá. Khó có thể nhận ra được là ngôn từ của một nhà thạc nho đứng tuổi hay của một vị đường quan đă về hưu. Cái bất ngờ của bài thơ là câu cuối cùng gói trọn vẹn cảm t́nh của người cô đầu với thầy đồ hay chính là cảm t́nh của tác giả dành cho ông đồ.

Giới nghiên cứu cho biết là ông Đồ Cự Lộc là bạn của nhà thơ, quê ở Nam Định, đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, và cũng chính là nhân vật chủ đề trong bài hát nói Anh Giả Điếc trên đây

 

-o-o-

 

Sau hết là nụ cười Nguyễn Khuyến cười với chính ông, hay những bức hư họa ông tự vẽ nh́n qua những bài thơ tự trào, tự thuật mô tả cái già đang dần tới và nếp hay rượu của ông Bài thơ nôm sau đây tóm tắt cho thấy nếp sống của ông:

 

Tự Trào

Cũng chẳng giầu mà cũng chẳng sang
Chẳng gẩy chẳng béo chỉ làng nhàng
Cờ đương dỏ cuộc không c̣n nuớc
Bạc chữa thâu canh đă chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén măi tít cung thang
Nghĩ ḿnh lại gớm cho ḿnh nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng.

 

Cái giầu cái sang là hai nét tiêu biểu cho cái có ngoại thân, Nguyễn Khuyến tự xét là ḿnh đă buông bỏ cả hai. Cái gầy cái béo là cái có trên bản thân, ông thấy ḿnh không có cả hai mà chỉ làng nhàng. Cuộc cờ canh bạc phải chăng là nhưng thú vui trong cuộc sống tranh đua, th́ ông không c̣n nước, hay là ông không muốnchơi tiếp; hoặc ông chạy làng, chẳng v́ ăn non, mà v́ không c̣n thấy thích thú. Thái độ đó người đời khó chấp nhận dược và cho ông là gàn. Ngay cả đến việc ông đoạt đươc bia xanh bảng vàng ngày nay cũng thành vô nghĩa. Người đọc thơ thấy là bài Tự Trào trên đây có nhiếu ư tương hợp với bài Di Chúc. Trong cả hai bài, việc làm mà Nguyễn Khuyến hài ḷng nhất là việc ông từ quan về Vườn Bùi, trong bài Tự Trào ông dùng h́nh ảnh bỏ dỏ cuộc cờ canh bạc để gợi lại việc này, và người đời không hiểu ông. Trong bài Di Chúc th́ đó là điều ông dặn con cháu ghi trên bia mộ ông. Điều độc nhất ông thích thú là uống rượu, say tít cung thang, và cũng là điều ông dặn con ông đổ một chén rượu xuống mồ để cúng ông. C̣n câu truyên ông đạt được bia xanh bảng vàng, th́ như ông kể trong bài di chúc, đức ông mỏng, tài cũng chẳng hơn ai, tất cả nhờ vào phúc đức cha mẹ để lại cho.

Trong ḍng thơ Việt Âm, Nguyễn Khuyên để lại một bài mang cùng đầu đề

 


Lăo Thái


Ngô niên ngũ thập ngũ niên linh

Xú thái ban ban lăo tận h́nh

Xỉ bặc hàm toan như tụ tụng

Măn hoa yểm quyển mạn truyền kinh

Tự liên kính phát tam phân bạch

Thặng hữu đan tâm nhất điểm linh
 
Mặc quái bằng song liên nhật túy

Ngă vi bất túy thục vi tinh

 

dịch là

 

Vẻ già

Trời thương tuổi quá năm nhăm
Thân già tật xấu dần dần hiện ra
Răng xiêu hàm buốt rên la
Mắt nḥa gấp sách ê a giảng ṃ
Thương cho mái tóc dần thưa
Ḷng son một điểm chưa chừa bấy nay
Bên song say khướt ngày ngày
Một ḿnh riêng tỉnh chẳng say cũng hoài

 

Tác giả làm bài thơ trên đây ngày tuổi ngoài năm mươi lăm, ở đầu thế kỷ trước tuổi đó là tuổi vẻ già bắt đầu hiện ra. Vẻ già hiện ra trên cái răng cái tóc, cái góc quan trọng nhất của vẻ người. Lại thêm mắt kém lúc dậy học phải gấp sách giảng ṃ theo trí nhớ. Ḷng son của tác giả chỉ c̣n một điểm thiêng liêng. Khác với điểm mà Nguyễn Công Trứ giữ trong đan tâm như viết trong bài hát nói Chí Nam Nhi:

 


Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh

 

nghĩa là :

 

Để lại tấm ḷng son ghi trong sử xanh.

 

điểm thiêng trong đan tâm Nguyễn Khuyến là:

 

Bên song say khướt ngày ngày

 

Rồi, câu cuối cùng của bài thơ gợi cho người đọc một câu của Khuất Nguyên 71 (340-277 BC):

 

mọi người say cả một ḿnh ta tỉnh

 

người đọc thơ tự hỏi điểm khác biệt giữa cáinghiêm trang của Nguyễn Công Trứ cũng như của Khuất Nguyên với cái bông đùa của Nguyễn Khuyến là nét trào lộng của ông?

Ư thơ trong bài Lăo Thái chuyển sang bài thơ nôm với nhưng đường nét tiêu biểu  như sau:

 

Cảnh Già

Nhớ từ năm trước hăy thơ ngây
Phút chốc mà già đă đến ngay
Mái tóc cḥm xanh cḥm lốm đốm
Hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
C̣n một nỗi này thêm chán ngắt
Đi đâu dở nhưng cối cùng chầy.

 

Trong bài thơ nôm trên, tác giả đưa thêm vào bức tự họa chiếc gậy mà ông gọi là cái chân thứ ba, và bộ chầy cối giă trầu ngoài cái răng rụng, cái tóc bạc, và cặp mắt mờ, cùng nết hay rượu đễ trào lộng h́nh dung cảnh già của ông.

Mười một năm sau, Nguyễn Khuyến lại viết bài thơ tự trào dưới đây:

 

Canh Tư Xuân 72

Ngô niên lục thập lục chi niên
Tuế nguyệt xâm tần tuyệt khả liên
Sơ khoát xỉ nha như nhị giáp
bồng tùngmao phát diệc canh phiên
tam triêu tịch hậu tiểu tương khánh
Vạn lục tùng trung hoa diệc nhiên
Lăo bệnh cận lai ngâm hứng thiểu
Xuân hàn vô sự băo lô miên.

 

dịch là

Xuân Canh Tư

Năm nay sáu sáu tuổi trời
Mỏi ṃn năm tháng chẩy trôi mà buồn
Lợi răng lục đục đôi phương
Rối bời râu tóc nhuốm sương trên đầu
Qua ba ngày tết vơi bầu
Hoa trong chậu cảnh như hầu muốn rơi
Bệnh già thơ hứng cũng vơi
Rét đài sưởi ấm ngủ vùi mừng xuân.

 

So với bài Lăo Thái viết mười một năm về trước, qua bài Canh Tư Xuân người đọc thấy về sức khỏe, Nguyễn Khuyến vẫn chỉ có đau răng và bạc tóc, nhưng dường như tác giả để lộ một nét thoáng buồn. Buồn v́ thời gian qua mau, v́ hoa trong chậu cảnh, giữa mùa xuân đă muốn rụng, thơ hứng của tác giả cũng vơi vơi, và chỉ c̣n muốn ôm lồng ấp ngủ vùi.

Tám năm sau, Nguyễn Khuyến sáng tác bức tự họa cuối cùng qua bài thơ nôm:

 

Đại Lăo

Năm nay tớ đă bẩy mươi tư
Rằng lăo rằng quan tó cũng ừ
Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu
Ngồi buồn ngâm láo mấy câu thơ
Bạn già lớp trước nay c̣n mấy
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa
Thử xem măi măi thế này ư.

 

Bức tự họa thay đổi đường nét. Câu thứ hai cho thấy nhà thơ không c̣n buộc chính ông vào tuổi tác, cũng như không c̣n buộc chính ông vào địa vị xă hội của ḿnh. Tác giả không c̣n nói tới cái răng cái tóc, cái góc quan trọng nhất của vẻ người. Rượu là bạn thân nhất th́ bây giờ lúc hứng mới đánh vài ba chén; ngâm thơ là cái thú nhất của người thơ th́ năm này lúc buồn mới ngâm. Kiểm điểm lại bạn bè chẳng c̣n đươc mấy người. Tính sổ đời th́ mười phần chín cũng như. Người thơ vẫn c̣n mong sống thêm dăm tuổi nữa, nhưng sống mà như đúng ngoài cuộc sống, sống chỉ để thử xem măi măi thế này ư.

Người đọc thơ đọc câu thứ hai 

Rằng lăo rằng quan tớ cũng ừ.

 

như nh́n thấy h́nh ảnh Nguyễn Khuyến coi nhẹ mọi sự trong cuộc sống. Thái độ của người thơ coi thường mọi điều quan trọng trong đời khiến người dọc thơ liên tưởng tới  h́nh ảnh những nhân vật quan trọng(hommes serieux) trong quốn L’Amérique của Franz Kafka (1883-1924) hoặc cuốn La Nausée của Jean Paul Sartre (1905-1980) hay cuốn L’Etranger của Albert Camus  (1913-1960).

Franz Kafka mô tả trong cuốn tiểu thuyết vai người gác gian, người này muốn tỏ ra ḿnh quan trọng đă tự tôn ḿnh 73:

Comment pourrais-je continuer à être consierge si je confondais une personne avec une autre ?

Vai chính trong tiểu thuyến l’Étranger 74 của Albert Camus là một người b́nh thường nhưng cố t́nh không sống theo lề thói của những người tự coi là quan trọng mà tự buộc ḿnh theo lối sống quan trọng của xă hội. Trong đám tang mẹ, hắn không khóc;  trong cuộc t́nh hắn không nghĩ tới việc làm đám cưới với vị hôn thê. Hắn cũng chẳng coi chính hắn là quan trọng, hắn trở thành xa lạ với mọi người trong xă hội để cuối cùng hắn mang mạng sống trả nợ cho cái điều hắn thách đố xă hội.

Jean Paul Sartre 75 liệt kê một chuỗi những người tự coi ḿnh là quan trọng và ông gọi chung là  les salauds trong cuốn  L’Être et le Néant. 

Chủ đề đả kích những kẻ tự coi ḿnh quan trọng là một trong những mục tiêu dấy loạn của phái hiện sinh trong những năm kế tiếp thế chiến thứ hai. Thái độ không c̣n coi thân là trọng cũng như chẳng c̣n coi danh là trọng biểu lộ ư muốn bước ra khỏi giàng buộc của xă hội, trong câu thơ trích dẫn, phải chăng là một nét sống hiện sinh của Nguyễn Khuyến?

Câu kết là một câu thơ bỏ lửng. Đó là một bút thuật quen thuộc của Nguyễn Khuyến. Tỷ như ông đă viết trong hai câu kết bài Khai Bút :

 

Mỗi năm một tuồi trời cho tớ
Tuổi tớ trời cho tớ lại càng. ..

 

Câu kết này gợi lên câu tục ngữ :

Càng già càng dẻo càng dai

 

nhưng phải chăng ư tác giả không nhất thiết chỉ gợi riêng câu tục ngữ dẫn trên, mà trái lại tùy người đọc ai muốn thêm chữ ǵ ư gí vào chỗ bỏ lửng tùy thích.

Ông c̣n dùng bút thuật này trong bài Tặng Bà Hậu Cẩm : 

Nói năng duyên dáng coi như thể ...
Đi đứng khoan thai thế cũng là ...

 

Tùy nhăn quan,  người đọc tự t́m ra những h́nh ảnh mô tả h́nh ảnh người đản bà ăn nói duyên dáng cũng như đi đứng khoan thai.

Trở lại câu kết bài Đại Lăo, trong những câu thứ tư dến thứ sáu, Nguyễn Khuyến như muốn kiểm điểm lại cuộc sống của ông. Thế nên, người đọc thơ thầy cần tiếp vào câu thơ bỏ lửng này nhưng h́nh ảnh về cuộc sống  con người. H́nh ảnh cuộc sống con người trong văn học Đông Á là h́nh ảnh một giấc mơ. Đó là con bướm trong mơ của Trang Tử. Đó là giấc mơ bên nồi kê vàng thường gọi là giấc Nam Kha. Đó là một quán trọ trong câu thơ của Lư Bạch :

 


Thiên địa nhất nghịch lữ

rồi biến thành câu hát nói của Nguyễn Bá Nghi và Cao Bá Quát : 


Nhân sinh thiên địa nhất nghịch lữ

 

Nh́n sang ḍng thơ nôm, Bà Huyện Thanh Quan coi cuộc sống như một tấn tuồng như bà mở đầu bài Thăng Long Hoài Cổ : 

Tạo hóa gây chi cuộc hư trường.

 

Nguyễn Công Trứ cũng dùng h́nh ảnh hư trường để tiêu biểu cuộc sống trong bải hát nói :

 

Đánh Thức Người Đời

Xót người tiền đếm gạo lường
Thế mà cũng chịu một trường hóa sinh
Nhân sinh bất hành lạc
Thiên tuế diệc vi thường
Đă đem vào cuộc hư trường
Lại muốn theo phường thái cực
Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức
Thịt hay ăn một cục tham si
Gác thay thảy là cầm là kỳ là tửu là thi
Rất đỗi y quần chi hạ
Bất tri hữu thử trân mỹ giả
Ôi trời đất người đâu người thế
Mấy trăm năm là mấy trăm năm
Khiến cho lạc giả thương tâm.

 

Coi cuộc sống là một hư trường th́ con người không c̣n được tự do như Trang Tử lúc là bướm lúc là Trang; con người không dẫu được tự do vùng vẫy nhưng vẫn buộc theo đúng tiến tŕnh do con tạo, định doạt như trong giấc mơ Nam Kha; cũng như con nguời không c̣n đươc tự do tới lui một quán trọ bên đường, bởi tại số tránh đâu cho khỏi số.

Thân phận con người trên sân khấu hư trường là chủ đề bài thơ Việt Âm duới đây Nguyễn Khuyến:

 


Ưu Phụ Từ


Đông lân gia hửu ưu nhân trú

Dạ bán ưu nhân ngữ ưu phụ

Ngă diệc thời thường tố hảo quan

Như hà nhân giai bất ngă cụ

Ưu phụ đại nộ mạ kỳ phu

Nhĩ niên kư lăo hà thái ngu

Hạnh tai hôn dạ nhân bất thức

Nhân hoặc thức chi di thiếp tu

Thế gian kinh nhân đăn hữu nhị

Nhất nang sinh nhân nhất năng tử

Nhĩ kư bất năng sinh tử nhân

Như hà nhân nhân giai cụ nhĩ

Thả dă nhĩ gia bản bần hàn

Tiêu tịch bài ưu cầu nhất xan

Bài ưu hoàng đế thả bất cụ

Hà huống nhĩ vi bài ưu quan.

 

Tác giả tự dịch là:

 

Lời Vợ Anh Phường Chèo

Xóm bên đông có phương chèo trọ
Đương nửa đêm gọi vợ truyện tṛ
Rằng ta thường làm quan to
Sao ngưoi coi chẳng ra tṛ trống chi
Vợ cả giận mắng đi mắng lại
Tuổi đă già sao dại như ri
Đêm hôm ai chẳng biết chi
Người ta biết đến thiếp th́ hổ thay
Ở đời có hai điều nên sợ 
Sống chết người quyền ở trong tay
Thế mà chàng đă chẳng hay
C̣n ai sợ đến phường này nữa chăng
Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết
Cuộc sinh nhai chèo hát qua th́
Vua chèo c̣n chẳng ra chi
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.

 

Anh phường chèo trong bài thơ trên quả là một người tự coi ḿnh quan trọng. Thủ vai quan to trên sân chèo mà đă lầm tuởng ḿnh làm quan to thật. Có lẽ v́ vậy mà tác giả đă đặt chữ lên môi vợ anh mắng đi mắng lại anh là đại  ngu. Rồi chị vợ anh phương chèo nhắc cho anh biết rằng trên đời con người chỉ sợ ai có cả hai quyền bắt sống phải sống và bắt chết phải chết. Con người đó, là Ông Trời bởi câu tục ngữ

 

muôn sự tại trời.

 

nhất là về hai việc sống chết của con người.

Phải chăng đó là nỗi khổ của con người? Phải chăng v́ vậy mà trong bài Khóc Dương Khuê ông đă viết :

 

Ai chẳng biết chán đời là phải

 

Thế nên, coi cuộc sống như một cuôc hư trường, con người nhất nhất từ khi sinh ra đời cho tới khi nhắm mắt mọi  sự việc đều do trời định. con người không làm ǵ hơn được là giữ trọn vai tṛ ông trời trao cho ḿnh.

Trên sân khấu hư trựng, vua chèo đă chẳng ra chi, nói chi quan chèo. Phải chăng ông vua chèo đây tiêu biểu cho tất cả mọi ông vua, không riêng ǵ một thời đại nào? Thế nên, thẩy chẳng có ǵ quan trọng.

Ư tưởng này ngược với tư tưởng hiện sinh theo Frank Kafka đề nghị trong cuốn L’Amérique 76 và tóm tắt dưới ng̣i bút Hannah Arendt:

la vie authentique... le grand « Théâtre de la nature » où tout le monde a sa place et d’où le malheur est absent n’est pas théatre par accident. Chacun y est invité a choisir une fonction, à jouer le personnage qu’il ou qu’elle aimerait être. Le rôle choisi est la solution du conflit entre fonctionner et être, entre ambition et réalité.

Ư tưởng cho con người được tự do lựa chọn  vai tṛ của ḿnh trên hư trường của Frank Kafka ngược lại với truyền thống Đông Á, như Trang Tử đă viết 77 trong chương Đại Tông Sư:

Nay có người thợ đúc kim khí. Kim khí lại nhẩy dựng lên mà đ̣i « Ta muốn thành thanh Mạc Da » th́ người thợ đúc tất cho đó là thứ kim khí bất tường. Nay lại có kẻ sắp được đem dúc thành h́nh người, lại củng đ̣i « Người mà thôi, Người mà thôi » th́ tạo hóa tất cũng cho người đó là người quái gở. Nay Trời Dất là cái ḷ lớn, Tạo Hoá là người thợ đúc. Vậy th́ sao chẳng được?

Cuộc sống không có ǵ đáng coi là trọng. Cuộc sống chỉ là một vai tṛ trên sân khấu hư trường, mà con người không có quyền lựa chọn vai tṛ ḿnh bắt buộc phải đóng. Thế nên, Nguyễn Công Trứ lấy cầm kỳ thi tủu để giải sầu. Nguyễn Khuyến lấy cái cười với mọi người, cái cười với thân nhân và cái cười với chính ḿnh để tạo cho ḿnh nhưng giây phút thoải mái trong cảnh phải đóng trọn vai tṛ mà Ông Trời bắt đóng trên sân khấu hư trường.

Trở lại hai câu kết của bài Đại Lăo :

 

Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa
Thử xem măi mải thế nay ư

 

và coi cuộc sống như sân khấu phựng chèo, người người ai ai cũng chỉ là một vai nhọ đóng theo tuồng tích do Ông Trời định sẵn, phải chăng người đọc hiểu là Nguyễn Khuyến cũng muốn xin Ông Trời cho sống thêm dăm năm nữa, nhưng không phải sống để lại tái hiện trên sân khấu, mà sống để bước ra ngoài sân khấu lảm khán giả, ngổi xem diễn tiến cuộc hư trường?

 



[70] Luận Ngữ, tiết Bất Dật, chương 24, sách đă dẫn, tr.93.
[71] Khuất Nguyên, Say Tỉnh Đục Trong, in Cổ Học Tinh Hoa Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, sách đă dẫn, tr. 110-111.
[72] Chưa t́m dược bản chữ nho
[73] Hannah Arendt, Qu’est-ce que la philosophie de l’existense, suivi de L’exitentialisme francais, Rivages Poche,Paris 2002, p.79.
[74] Albert Camus, L’Étranger,
[75] Jean Paul Sartre, L’Être et le Néant, Gallimard, Paris
[76] Hannah Arent, sách đă dẫn, trang 81.
[77] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 379.

 

 

 

Xem Kỳ 19

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com