www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 17:

V


Cái Cười

 

 

Cái cười, với Nguyễn Khuyến có nhiều điểm tương đồng với cái nh́n của ông về cái chết. Người đọc thơ thấy là Nguyễn Khuyến có ba nụ cười. Đó là :

      1.       Ông cười với thiên hạ,
      2.       Ông cười với bè bạn,
      3.       Ông cười với chính ông

Cái cười của ông khác hẳn cái cười chua chát của Nguyễn Công Trứ, trưóc ngày bước ra khỏi ṿng cưong tỏa, biểu thị trong bốn câu :

Ngồi buồn muốn trách ông xanh
Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

bởi cái cười của Nguyễn Khuyến là để chia sẻ buồn vui với ngưới quanh ông, và dường như ông không muốn cười riêng một người nào. Điều đáng lưu ư là ba cái cười của Nguyễn Khuyến cùng cho thấy nếp sống bước ra ngoài ṿng trói buộc của danh lơi, của tập tục cùng như kinh sách.

Trong cái cười chung vui với thiên hạ, từ khi c̣n là cậu khóa trẻ, Nguyễn Khuyến làm mọi ngựi cười trước những cảnh ngộ nghĩnh, tỷ như hai câu :

      Con cháu nâng niu đôi quả phúc
      Ông cha lừng lẫy bốn phương trời

để gỡ rối cho người bạn đă không tự chủ nổi trước bộ ngực quả nhót của cô gái chanh chua mà nội dung câu truyện rắc rối này chằng khác ǵ câu truyện giữa Nguyễn Công Trứ và cô đào hát, giữa cánh đồng vắng và kết thúc bằng hai câu dưới đây mà cô đào hát mấy chục năm sau hát giữa một buổi tiệc lớn trước mặt bá quan :

      Non sông một gánh giữa đồng
      Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng.

Với nhà nho, quân sư pbụ là tam cương mà người đàn ông phải tôn theo, cũng như người đàn bà sống trọn ba chữ tam ṭng : theo cha theo chồng theo con. Nhưng trong ḍng thơ nôm, Nguyễn Khuyến có bài :

 

Nhất Vợ Nh́ Giời

Nghĩ truyện trần gian cũng nực cười
Giời nào hơn vợ vợ hơn giời
Khôn đến mẹ mày là có một
Khéo như con tạo cũng thời hai
Giời dẫu yêu v́ nhưng có phận
Vợ mà vụng dại đếch ăn ai
Cớ sao vợ lại hơn giời nhỉ
Vợ chỉ hơn giời có cái trai.

Trong bài trên đây, người đọc thơ dường như thấy Nguyễn Khuyến, không đả động đến vua, thầy và cha mà nói tới ông giời. Ba chữ tam ṭng ông cũng đảo ngược, v́ ông đặt ông giời sau bà vợ, bởi theo ông, bà vợ khôn không ai bằng, khéo vượt con tạo, mà người đàn ông, nếu có thành công mở mày mở mặt được ai ai cũng phải nhờ vợ. Nhưng, rồi bất ngờ ông làm thiên hạ bật cười v́ cái cớ, theo ông, vợ hơn giời v́ vợ có cái trai.

Một chủ để khác trong những bài thơ trào lộng của Nguyễn Khuyến là những con nguời đuổi theo cái cómà bỏ rơi lề thói thông thường của xóm làng, những con người này, không phải là chỉ riêng có trong thời của Nguyễn Khuyến mà thời buổi nào cũng là đề tài cho thiên hạ đàm tiếu.

Đó là nhưng người đàn bà đem thân xác ḿnh ra để mưu đoạt của ngoài thân kể cả tàn, tán, hưong án, và bàn độc như trong bài :

 

Đĩ Cầu Nôm

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ
Trời sinh ra cũng để mà chơi
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử cáng chơi càng lịch
Tha hồ cho khúc khích chị em cười
Người ba đấng của ba loài
Nếu nhửng như ai th́ đĩ mốc
Đĩ có tàn có tán có hương ắn có bàn độc
Khá khen thay làm đĩ có tông
Khắp giang sơn chẳng chốn nào không
Suốt nam bbác tây đông đều biết tiếng
Dĩ mười phương chơi cho đủ chín
C̣n một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng
Bạn với kẻ anh hùng cho đúng số
Vợ bợm chồng quan danh phận đó
Mai sau ngày giỗ có văn nôm
Cha đời con đĩ Cầu Nôm.

Đó là những người con gái ngoan thời nay bất chấp lời đàm tiếu bỏ làng mạc lấy chồng ngoại quốc để t́m cuộc sống vật chất dư thừa, chủ đề bài

 

Lấy Tây

Cái gái đời nay gái mới ngoan
Quyết ḷng ẩu chiến với Tây quan
Ba vuong phấp phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang
Trời đất khéo thương chàng bạch quỷ
Giang sơn riêng sướng ả hồng nhan
Nghĩ càng thêm ngán trai thời loạn
Cái gái đời nay gái mới ngoan.


Đó là những chị ham vui lên nhún đu, nhưng anh tham giải leo cột mợ trong ngày

 

Hội Tây

Ḱa hội thăng b́nh tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn troe
BBà quan tênh nghếc xem bơi trải
Thằng bé lom khom nghé hát chèo
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo
Khen ai khéo vẽ tṛ vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.

 

Trên một hướng khác, Nguyễn Khuyến dùng làm đề tài trào lộng những người sống thiếu ḷng thành, bonne foi, như:

 

Anh Giả Điếc

Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây
Chẳng ai ngờ sáng tai họ điếc tai cầy
Lối điếc ấy sau này em muốn học

Tọa trung đàm tiếu nhan như mộc

Dạ bán phan viên thủ tự hầu
Khi vườn sau khi sân trước khi điếu thuốc khi miếng trầu
Khi chè chuyên năm bẩy chén khi Kiều lẩy một đôi câu
Tỉnh một lúc lâu lâu rồi lại điếc
Điếc như anh dễ bắt chước du mà
Hỏi anh anh cứ ậm à.

Hai câu chữ nho nghĩa là ngồi chỗ đông người làm mặt ngây cán tàn, nhưng nửa đêm lần ṃ nhanh như khỉ. Giới phê b́nh cho là anh giả điếc này thấy điều lợi th́ nhanh tay lẹ miệng hưởng ứng, lúc có điều bận đến ḿnh th́ ậm à như không nghe thấy.

Giới con ông cháu cha, dầu bất tài, nhưng đương nhiên ngồi hưởng ưư thế ngoài đời cũng là đề tài để Nguyễn Khuyến cùng người thiên hạ trào lộng. trong bài: 

Mừng Ông Nghè Mới Đỗ

Anh mừng cho chú đỗ ông nghè
Chẳng đổ th́ trời cũng chẳng nghe
Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng
Vinh quy ắt hẳn rước tùng x̣e
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh
Hoăn đẹp nàng này khó nhẽ che
Hiển qúy đến nay đà mới rơ
Rơ từ những lúc tổng chưa đe.

Nguyễn Khuyến chia sẻ cái cười ông nghè mới đỗ này với đại chúng qua nhưng câu ca dao lồng trong thơ. Đọc câu thứ tư, người đọc nhớ ra bài ca dao:

 

Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông nghè
Ông nghè sai lính ra ve
Trăm lậy ông nghè tôi đă có con
Có con th́ mặc có con
Thắt lưng cho gịn mà lấy chồng quan
 

Chữ hoăn trong câu thứ năm gợi lên câu ca dao :

Ngựa ai buộc cửa ông cai
Hoăn ai mà lại đeo tai bà nghè.

Chữ tổng trong câu chót rút ư từ câu tục ngữ: 

Chưa đỗ ông nghè đă đe hàng tổng. 

Cảnh trớ trêu của kẻ đi lấy trộm của người làm của ḿnh, nay lại mất trộm cũng là một đề tài để Nguyễn Khuyến sáng tác một bài thơ Việt Âm và một bài thơ nôm. : 

Kẻ Trộm Mất Trộm

Mày đi khoét lấy của người đây
Lại có người theo khoét của mày
Canh bạc biết đâu là lỗ lăi
Ṿng duyên thôi cũng tại giông may
Hoá thua cụ Ngạn đừng cho lụa
Nết kém thầy Vương chớ ném cây
Gẫm chín cuộc đời đâu chẳng thế
Kiếm ăn không những một phường bay.

 Người đọc thấy rơ bài thơ trên là bản dịch của bài thơ Việt Âm:

 


Đạo Thất Đạo

穿
Đạo hướng nhân gia xuyên thủ tiền
穿
Đạo nhân hựu hướng đạo gia xuyên

Doanh thâu thiên chuyển vô thường cục

Xuất nhập tuần hoàn nhược túc duyên

Hoá phạp Ngạn Phương hưu tứ bạch

Hạnh phi Vương Tố mạc đầu duyên

Lợi đồ đáo để hồn như thị
穿
Hề độc xuyên tường đạo năi nhiên.

Hai chữ cụ Ngạn trong bài thơ nôm dịch hai chữ Ngạn Phương trong bản Việt Âm, tên chữ của Vương Liệt người đời Hán, nổi tiếng nhân nghĩa. Trong làng có kẻ ăn trộm trâu bị bắt quả tang, anh ta xin chịu tội, chỉ tha thiết đừng nói cho Ngạn Phương biết. Ngạn Phương nghe truyện khen ngợi rồi gửi tặng anh ta một tấm lụa. Ít lâu sau, chính anh ăn trộm bắt được một thanh gươm qúy bên đường, đă ngồi đợi trả tận tay cho người mất. Truyện này chép trong Trung Quốc Danh Nhân Đại Tự Điển. Truyện thu ngắn trong bản nôm thành hai chữcho lụa.

Hai chũ thầy Phương trong bản nôm dịch hai chữ Vương Tố trong bản Việt Âm, tức Vương Chiêu Tố người đời Tống, vốn là người đức hạnh. Khi ông làm bác sĩ ở Quốc Tử Giám, có người cậy cổng toan vào lấy trộm đống rui nhà ở bên trong. Chiêu Tố biết, lẳng lặng cho người đem từng cái rui luồn qua cổng cho tên kẻ trộm. Kẻ trộm hổ thẹn từ đó bỏ nghề. Điển này chép trong Tống Sử. Trong bản nôm điển trên đây tóm tắt trong hai chữ ném rui.

Nguyễn Khuyến tự dịch bài Đạo Thất Đạo quả là một cái may cho người dịch thơ của ông, bằng không khó có ai dịch cho xuôi được hai câu thơ với hai điển cố này.

Cái cười của Nguyễn Khuyến cùng thiên hạ, v́ nhân vật chủ đề trong bài thơ đă đả hành dộng vượt ra ngoài nếp sống thôn dă, c̣n đọc thấy trong bài thơ nôm: 

Thầy Đồ Ve Gái Góa

Người bảo rằng thầy yêu cháu đây
Thầy yêu mẹ cháu có ai hay
Bắc cầu câu cũ không hờ hững
Cầm kính t́nh xua vẫn đắng cay
Ở góa thế gian nào mấy mụ
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy
Yêu thầy cũng muốn cho thầy dậy
Dậy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.
 

Bài thơ trên đây thường được coi là bài tác giả tự dịch bài thơ Việt Âm: 


Thiền Sư


Nhân vị tiên sinh ái ngă nhi

Ai nhi chi mẫu hũu thùy tri

Giá kiều cựu cú phi vô vị

Lăm kính tiền nhân chỉ tự bi

Chỉ khủng thế gian vô quả phụ

Mạc ngôn thiên hạ khiếm thiền sư

Ái nhi dục vị ái nhi giáo

Ái đắc nh́ thành mẫu hựu si.

 

Hai chữ thiền sư trong đầu đề bài thơ là hai chữ do Nguyễn Khuyến tạo ra. Chữ thiền viết bộ trùng nghĩa là con ve. Đọc thành âm hai chũ thiền sư là ve thầy diễn tả hành động người đàn bà góa sớm ve văn ông thầy bà rước về dậy con ḿnh. Lối chơi chữ này Nguyễn Khuyến c̣n dùng trong bài , Thất Tam Tam, mà ông tự dịch là Mất Ba Ba, tuy chữ tương ứng với chử ba ba là chữ miết .

Trong câu thứ ba, hai chữ giá kiều, nghĩa là bắc cầu do câu ca dao:

Muốn sang th́ bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ th́ yêu lấy thầy

Hai chữ lăm kính trong câu thứ tư, do câu ca dao:

Trách người quân tử vô t́nh
Có gương mà để bên ḿnh không soi.

Giới phê b́nh thơ Nguyễn Khuyến hiểu ư câu này là lời ba góa sớm chê thầy đồ nhát gan, không dám dấn thân trong việc ve gái. Hiểu như vậy, người đọc thơ dường như phần chủ động trong cuộc t́nh này ở trong tay bà góa trẻ, thế nên đầu đề Thiền Sư hay Ve Thầysát với nội dung hơn đầu đề Thầy Đồ Ve Gái Góa.

 

 

 



[70] Luận Ngữ, tiết Bất Dật, chương 24, sách đă dẫn, tr.93.
[71] Khuất Nguyên, Say Tỉnh Đục Trong, in Cổ Học Tinh Hoa Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, sách đă dẫn, tr. 110-111.
[72] Chưa t́m dược bản chữ nho
[73] Hannah Arendt, Qu’est-ce que la philosophie de l’existense, suivi de L’exitentialisme francais, Rivages Poche,Paris 2002, p.79.
[74] Albert Camus, L’Étranger,
[75] Jean Paul Sartre, L’Être et le Néant, Gallimard, Paris
[76] Hannah Arent, sách đă dẫn, trang 81.
[77] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 379.

 

 

 

 

 

Đón Xem Kỳ 18

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com