www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 16:

VI


Sách Và Rượu

 

Trở lại Quế Sơn Thi Tập, dường như Nguyễn Khuyến khác với Đào Tiềm. Đó là điểm Nguyễn Khuyến không viết nhiếu bài dưới đề tài Âm Tửu như Đào Tiềm, và rượu dường như là thi liệu ông dùng nhiều nhất trong ḍng thơ nôm cũng như ḍng thơ Việt Âm.

Tiêu biểu cho ḍng thơ này là bài hát nói:

Uống Rượu Ở Vườn Bùi

Túy ông ư chẳng say v́ rượu
Say v́ đâu nước thẳm với non cao
Non lặng ngắt nước tuôn ào
Tôi với bác xưa nay cùng thích thế
Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ
Có người say rượu tiếng c̣n nay
Cho nên say khướt cả ngày
Say mà chẳng biết rằng say ngă đùng
Chu Bá Nhân thủa trước sang sông
Chỉ tỉnh rượu ba ngày không phải it1
Kêu gào thế cười chi cho mệt
Chớ buồn khi nghe tiếng hát làng say
Xin người gắng cạn chén này.

Bản Việt Âm cũng viết theo thể  hát nói, nhưng mỗi câu trích dẫn một câu thơ cổ của Trung quốc:

裴 園 對 飲 摘 句 哥
Bùi Viên Đối Ẩm Trích Cú Ca

醉 翁 之 意 不 在 酒
Túy ông chi ư bất tại tửu
而 在 乎 山 水 之 間
Nhi tại hồ sơn thủy chi gian
山 漠 漠 水 潺 潺
Sơn mịch mịch thủy sàn sàn
吾 與 子 之 所 共 適
Ngô dữ tử chi sở cộng thích
5古 來 聖 賢 皆 寂 寞
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
惟 有 飲 者 留 其 名
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
所 以 終 日 醉 頹 然 臥 前 楹
Sở dĩ chung nhật túy đồi nhiên ngọa tiền doanh
周 伯 仁 渡 江 三 日 醒 不為 少
Chu Bá Nhân độ giang tam nhật tỉnh bất vi thiểu
莫 叫 莫 叫
Mạc khiếu mạc khiếu
10何 似 當 初 莫 笑
Hà sự đương sơ mạc tiếu
酒 酣 拔 劍 斫 地 歌 莫 哀
Tửu hàm bạt kiếm chước địa ca mạc ai
勸 君 更 盡 一 杯
Khuyến quân cánh tận nhất bôi.

Theo giới nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến th́ câu thứ hai là câu ông trích tử bài Túy Ông Đ́nh Kư của Âu Dương Tu đời Tống. Câu thứ bốn từ bài Tiền Xích Bích của Tô Đông Pha đời Tống. Hai câu năm và sáu trích từ bài Tương Tiến Tửu của Lư Bạch, đời Đường. Câu thứ bẩy từ bài Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí của Lư Bạch. Câu thứ tám trích thư của Trần Tuyên đời Lương. Câu thứ mười trích trích Tống Sử điển các đạo sĩ làm phép để hoàng nam con vua Chân Tông, tục truyền là con Ngọc Hoàng giáng thế, khi mời sơ sinh nín khóc. Câu mười một trích bài Đoản Ca Hành Tặng Vương Lang Tư Trực của Đỗ Phủ đời Đương, và câu mười hai trích từ bài Vị Thành Khúc của Vuơng Duy, dời Đường. Cùng một ư thơ, Nguyễn Khuyến viết thành hai bài thơ trong hai ngôn ngữ, bài Việt Âm trang trọng với những câu thơ nôi tiếng của thơ cổ Trung Quốc, chuyển sang thơ nôm mang vẻ hài hước tạo nên h́nh ảnh một ông lăo say, không say v́ rượu mà say v́ cảnh nước thẳm non cao ngoài ṿng cương tỏa.

Trong ḍng thơ say, dùng thi liệu Trung Quốc, Nguyễn Khuyến để lại cho người ngày nay bài:



Tửu

天 生 飲 食 世 皆 然
Thiên sinh ẩm thực thế giai nhiên
儀 狄 應 為 一 小 天
Nghi Định ứng vi nhất tiểu thiên
堯 舜 以 前 無 酒 誥
Nghiêu Thuấn dĩ tiền vô tửu cáo
商 周 之 後 有 賓 筵
Thương Chu chi hậu hữu Tân Diên
若 教 麴 蘗 非 佳 品
Nhược giao khúc nghiệt phi giai phẩm
何 以 文 章 更 別 傳
Hà dĩ văn chương cánh biệt truyền
吾 道 至 今 蕭 索 葚
Ngô đạo chí kim tieu tác thậm
攜 壺 獨 此 醉 中 仙
Huề hồ độc thử túy trung tiên.


dịch là

Rượu

Người sinh ăn uống nếp trời
Một bà Nghi Định đời đời vinh danh
Trước Nghiêu Thuấn rượu thả dàn
Sau Thương Chu mới luận bàn Tân Diên
Ví bằng rượu độc v́ men
Sao văn chương vẫn biệt truyền xưa nay
Đạo ta rơi rụng bấy chầy
Đeo bầu riêng một lăo này là tiên.
 

Giới chú giải thơ Nguyễn Khuyến ghi là bà Nghi Định là vợ vua Đại Vũ nhà Hạ, là người đầu tiên chế ra rượu. Nghiêu Thuấn cũng là hai vị vua đời Đường và đời Ngu, những triều đại trước nhà Hạ. Tữu cáo là một chương trong Kinh Thi, chép lời Chu Thành Vương răn Khang Thúc chớ đam mê rượu. Cả câu thứ ba có nghĩa là trước đời NghiêuThuấn không có truyện ngăn cấm uống rượu. Thương Chu là hai triều đại kế tiếp nhà Hạ. Tân Diên là thơ Tân chi sơ diên, chép trong Kinh Thi bàn về việc tiếp rượu mời khách. Cả câu thứ tư này có nghĩa là mọi truyện nhiêu khê khách sáo trên chiếu rượu chỉ có sau thời Chu Thương. Qua hai câu thứ ba và thứ tư này, người đọc thơ Nguyễn Khuyến chợt nhớ tới hai chữ hồng hoang mà Nguyễn Khuyến đă dùng trong sáu bài thơ khác như đă tŕnh bày trên đây. Hai câu này, tuy không có chữ hồng hoang, nhưng dường chính là định nghĩa chữ này. Phải chăng là mối thắc mắc của Nguyễn Khuyến về chữ hồng hoang đeo đuổi Nguyễn Khuyến vào tới rượu? Hay là Nguyễn Khuyến có ư tự giễu ḿnh quá thắc mắc về việc thế gian quay trở lại cảnh hồng hoang?

Ngoài một số nhỏ thơ say mang nhiều điển tích Trung Quốc như hai bài Bùi Viên Đối Ẩm Trích Cú Ca và bài Tửu trên đây, phấn lớn thơ say của Nguyễn Khuyến, dầu viết bằng chữ nho cũng trái lại mang nhiều h́nh ảnh nơi quê hương của tác giả. Tiêu biểu cho ḍng thơ này là bài:


醉 後
Túy Hậu

五 十 休 翁 半 畝 瑭
Ngũ thập niên ông bán mẫu đường
北 窗 高 臥 半 清 涼
Bắc song cao ngọa bán thanh lương
肥 泥 水 織 荷 衣 密
Ph́ nê thủy chức hà y mật
幽 徑 風 牽 草 帶 長
U kính phong khiên thảo đái trường
雜 句 不 須 人 共 賞
Tạp cú bất tu nhân cộng thưởng
閒 情 惟 有 酒 相 當
Nhàn t́nh duy hữu tửu tương đương
殘 春 病 眼 無 分 別
Tàn xuân bệnh nhăn vô phân biệt
日 影 熹 微 一 樣 黃
Nhật ảnh hy vi nhất dạng hoàng.

 

dịch là

Sau Bữa Say

Nửa mẫu ao lăo năm mươi
Bên song mát mẻ nằm lựi thú sao
Bùn sâu sen phủ mặt ao
Cỏ xanh gió thoảng ngơ sâu ngả dài
Câu thơ viết họa chẳng ai
Nhàn rồi c̣n rượu c̣n say hào hùng
Mắt đau nh́n chẳng thấy đường
Vàng hoe một bóng vừng dương lờ mờ.
 

Thực cảnh là cảnh một hưu quan, thi cảnh là ao sen lá phủ kín mặt ao, là làn gió mát lướt trên đám c̣ dài bên ngơ. Người thơ thiếu bạn cùng ngâm vịnh, nhưng c̣n rượu c̣n vui, riêng có cặp mắt đau nh́n mọi vật không c̣n rơ. Suốt bài thơ không một điển Trung Quốc, tất cả là sáng tác của tác giả. Phải chăng Nguyễn Khuyến, qua bài thơ trên đây đă đưa ḍng thơ Việt Âm ra ngoài tầm ảnh hưởng của thơ Trung Quốc? Phải chăng nhưng bài thơ như vậy là đóng góp của Nguyễn Khuyến, đưa nhưng h́nh ảnh đồng quê Việt Nam vào ḍng thơ Đông Á có chung gốc chữ Hán?

Nối dài ḍng thơ say của Nguyễn Khuyến trong nhưng năm tháng ở Vườn Bùi là bài:

 

排 悶 

Bài Muộn
II
南 山 遠 遠 曉 雷 鳴
Nam sơn viễn viễn hiểu lôi minh
似 向 人 間 訴 不 平
Tự hướng nhân gian tố bất b́nh
一 出 電 光 天 有 瞬
Nhất xuất điện quang thiên hữu thuấn
纔 過 風 信 竹 無 聲
Tài qua phong tín trúc vô thanh
坌 間 鼠 祖 嗔 濃 淡
Bồn gian thử tổ sân nùng đạm
野 外 鳩 夫 妒 雨 晴
Dă ngoại cưu phu đố vũ t́nh
持 酒 隔 籬 對 鄰 叟
Tŕ tửu cách ly đối lân tẩu
何 妨 嘖 嘖 話 桑 耕
Hà phương tắc trách thoại tang canh.
 

dịch là

Giải Buồn

I

Núi Nam xa sấm đùng đùng
Giận hờn dường muốn tỏ cùng thế gian
Lưng trời chớp nháy sáng choang
Gió ngừng rặng trúc ngỡ ngàng lặng thinh
Trong âu chuột rúc chê canh
Tiếng cưu ngoài nội phụ t́nh nắng mưa
Cách rào nói chuyện tầm tơ
Cùng ông hàng xóm say sưa thỏa ḷng
 

Cảnh thơ trong bài Giải Buồn I này là cảnh một ngày vắng vẻ, tác giả nghe thấy tiếng sấm từ núi xa, nh́n thấy những làn chớp mà ông coi như trời nháy mắt, thấy gió vờn rặng trúc, nghe thấy tiếng chuột rúc mà ông tưởng như chuột chê canh mặn, nghe thấy tiếng chim cưu ngoài nội như vợ chồng đôi cưu căi nhau. Cách rào ông nói chuyện tằm tang với ông hàng sóm và cùng ông ta uống rượu. Cảnh nói truyện cách rào với ông hàng xóm này gợi cho người đọc h́nh ảnh rất đáng qúy của Nguyễn Khuyến qua bài Lên Lăo :

Chú Đáo bên làng lên với tớ
Ông Từ xóm chợ lại cùng ta

ngồi cùng một chiếu với ông.

Nét chính trong cảnh thơ bài Giải Buồn này là cảnh đơn lẻ của tác giả từ khi về nghỉ hưu tại Vườn Bùi. Dường như đó là cảnh thơ của ngoài một trăm bài thơ trong đó ông dùng rượu làm thi liệu trong số ngoài bốn trăm bài thơ con lưu truyền tới nay.

Tửu lượng của Nguyễn Khuyến không mấy cao. Ông viết trong bài Uống Rượu Mùa Thu:

Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy
Độ dăm ba chén đă say nhè

Có lẽ v́ cảnh đơn lẻ làm Nguyễn Khuyến buồn và có lẽ ông c̣n buồn hơn v́ tuổi mỗi ngày một cao càng buồn ông càng muốn uống. Đó là điểm ông viết trong bài Tự Thuật:

Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ
Hàm răng mấy chiếc hăy c̣n đây
Câu thơ được chửa thưa rằng được
Chén rưựu say rồi nói chửa say

Ngoài nỗi buồn tuổi tác, cũng như những ai đă về nghỉ hưu, c̣n thêm mối buồn về hiện cảnh đăng lại đằng sau những tiến triển của nghề nghiệp và thời thế. Nỗi buồn này dường như khá nặng khiến Nguyễn Khuyến muốn uống tới say tít cung thang:

Cờ đương dở cuộc không c̣n nước
Bạc chửa thâu canh đă chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén măi tít cung thang.

như ông đă viết trong bài Tự Trào.

C̣n một lẽ khác khiến Nguyễn Khuyến nhấp rượu có lẽ là đôi lúc Nguyễn Khuyến thoáng đối mặt với cái chết. Nhân một đêm tháng chín gió mưa sùi sụt, nghe tin ông già xóm tây mất, Nguyễn Khuyến đang ngồi uống rượu một ḿnh, đă uống thêm không ngửng và viết hai câu kết bài Kỷ Sửu Cửu Nguyệt Liên Dạ Phong Vũ, Độc Tọa Vô Liêu, Dẫn Măn Bất Chỉ Hựu Văn Đồng Ấp Nhất Lăo Tồ Lạc:

醉 矣 添 杯 又 添 醉
Túy hĩ thiêm bôi hựu thiêm túy
憑 窗 仰 面 看 蒼 蒼
Bằng song ngưỡng diện khán thương thương.

dịch là

Say rồi uống nữa say quồng
Bầu trời u ám ngoài song ngẩng nh́n.

Trong một dịp khác, nhân nh́n ảnh ḿnh Nguyễn Khuyến viết trong bài Đề Ảnh:

Bách bôi h́nh tặng ảnh
Thiên tả ngă vị tùy

dịch là

Nh́n h́nh trăm chén chuốc ta
Ngàn sau chẳng biết ta là ai đây

Thêm một lần nữa, trong bài Giải Muộn I, Nguyễn Khuyến tự hỏi :

Thiên niên khứ hạc ngă hà thân

Đó là những thí dụ như thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến những lúc người thơ thoáng đối mặt với cái chết và cạn hết ly này rồi ly khác.

Người đọc tự hỏi, phải chăng v́ những bữa say như vậy mà Khuyến Khuyến, nghĩ đến việc chừa rượu rồi chẳng muốn chừa, như ông viết trong bài :

Chừa Rượu

Nhưng lúc say sưa cũng muốn chừa
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa
Hay ưa nên nỗi không chừa được
Chừa được nhưng mà cũng chẳng chửa.

Tâm cảnh Nguyễn Khuyến trong những giây phút thoáng đối mặt với cái chết này là tâm cảnh của Đào Tiềm trong giờ phút Đào Tiềm viết bài Ẩm Tửu Đệ Ngũ Thủ trích dẫn trong đoạn đầu cảo luận này. Thật vậy, Trong bài Ẩm Tửu đệ ngũ thủ, Đào Tiềm hái hoa cúc dưới chân rào, ngước nh́n dẫy núi nam trùng trùng là hai h́nh ảnh mà giới b́nh thơ Đào Tiềm cho là nhưng h́nh ảnh tượng trưng cho một người đă đứng tuổi đi hái thuốc và dẫy núi Nam tiêu biểu cho cái chết ở cuối trời. Tâm cảnh của Đào Tiềm là tâm cảnh một người già thoáng đối mặt với cái chết. Trong cảnh chiều có cánh chim bay về tổ, có làn sương vắt ngang sườn núi, Đào Tiểm chợt nẩy ra chân ư, và không t́m ra lời giăi ư. Giới b́nh thơ Đào Tiềm cho là người thơ đă tới cơi huyền đồng, nôm na là đă về được với đạo.

Điều đáng để ư là Đào Tiềm đă đặt bài thơ này vào ḍng thơ Ẩm Tửu. Như vậy phải chăng rượu đă giúp Đào Tiềm về được với Đạo?

Người đọc thơ Đào Tiềm dường như t́m thấy câu trả lời câu hỏi này trong chương Đạt Sinh sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, quen gọi là đoạn Trụy Xa 69.

Ḱa kẻ say ngă xe, tuy đau mà không chết. Xương cốt cũng như mọi người mà chịu hại khác với người v́ thần họ toàn: lên xe cũng chẳng biết, té xe cũng chẳng hay. Sống chết sơ hăi không vào trong ḷng họ. Thế nên nghịch với vật mà không khiếp. Kẻ ḥa với rượu mà đă được thế, huống chi kẻ đă ḥa được với Đạo.

Nhượng Tống b́nh đoạn Trụy Xa như sau:

Người say rượu có thể ngă xe mà không cảm thấy đau, v́ trong trí họ không có ư niệm đau đớn [...], v́ ḷng họ trấn át nổi nhưng ư niệm đau đớn.

Trở lại với chén rượu trong tay trên bức ảnh của Nguyễn Khuyến, người đọc thơ Nguyễn Khuyến tự hỏi phải chăng, giống như Đào Tiềm, Tam Nguyên Công mượn rượu để xua đuổi trấn áp những ư nghỉ ư nghĩ buồn vui quấy quả cụ, trên đường t́m về với Đạo?

 



[56] Paul Jacob, Tao Yuan-ming. Oeuvres completes, sách đă dẫn, p. 75.
[57] Đỗ Bằng Đoàn Đỗ Trọng Huề, Việt Nam Ca Trù Biên Khăo, NXB thành phố Hô Chí Minh, 1944, tr.394-404.
[58] Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Nhà sách Khai Trí, Sài G̣n 1965.
[59] Thanh Lê Tử, trong Cổ Học Tinh Hoa, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, NXB Trẻ, tái bàn năm 1991, tr. 86.
[60] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tốn, sách đă dẫn, tr. 274-275.
[61] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 317-318.
[62] Chưa t́m được bản chữ nho
[63] Trang Tử Nam Ha Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Sách đă dẫn, tr. 270-271.
[64] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 170-171.
[65] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 463-465.
[66] Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, sách đă dẫn, tr.311-312.
[67] Donald Holzman,  Les Sept Sages de la Forêt des Bambous et La Société de leur Temps., T’oung Pao,vol.44, 1956, pp 317-346.
[68] Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Du Toàn tập, tập 2, Văn Học 1996, tr.493-494.
[69] Trang Tử Nam Hoa Kinh, Bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 292-293

 

 

 

Xem Kỳ 17

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com