www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 15:

VI


Sách Và Rượu

 

       Đó là cái lỗi của thánh nhân vậy.

Trở lại bài Mạn Ngâm của Nguyễn Khuyến, thiên Đạo Chích 65 sách Nam Hoa Kinh trả lời rành mạch câu hỏi này.

Sách chép Đạo Chích là em của Liễu Hạ Quư, một người quen biết của Khổng Khâu. Đạo Chích có chín ngàn người theo, dọc ngang thiên hạ, cướp của giết người. Muôn dân khổ v́ hắn, muôn quân đánh dẹp khổ v́ hắn. Khổng Khâu bàn cùng Liễu Hạ Quư đi thuyết Đạo Chích. Liễu Hạ Huệ hết lời can ngăn. Thầy Khổng nhất quyết không nghe lời can, sai Nhan Hồi đánh xe, Tử Cống đúng kèm bên phải sang ra mắt Đạo Chích.
       Đạo Chích khi đó đang dưỡng quân tại phía nam núi Thái Sơn, thái gan sống của người mà ăn. Thầy Khổng xuống xe xưng danh với viên thông báo của Đạo Chích. Sau ba lần thưa bẩm Đạo Chích mới cho Khổng Khâu ra mắt dưới trướng.

Trong cuộc đối thoại với Khổng Khâu, Đạo Chích không dùng hai chữ hồng hoang, nhưng mô tả cảnh hồng hoang như sau: 

Xưa kia dân không biết vận xiêm áo. Mùa hè chứa nhiều củi, mùa đông th́ đốt nó sưởi. Cho nên gọi họ là dân biết sốngVề đời vua Thần Nông, nằm th́ thuể thoả, dậy th́ tung tăng. Dân biết có mẹ mà không biết có cha. Cùng ở với hưu nai. Cày mà ăn ...Dệt mà mặc ...Không có ḷng hại nhau ... Đó là lúc đức cả đương thịnh.

Trả lời câu Nguyễn Khuyến hỏi trong câu thứ hai bài Mạn Ngâm, người đọc t́m thấy trong lời Đạo Chích nói tiếp:

Thế nhưng vua Hoàng Đế không gây được đức cho đến nơi, cùng Xuy Vưu đánh nhau ở nội Trác Lộc, máu chẩy hàng trăm dặm.

Nghiêu Thuấn lên, lập ra các quan ... Thang đưổi vua của ḿnh ... Vũ giết vua Trụ ... Từ đó về sau lấy mạnh lấn yếu. Lấy dông hiếp ít. Từ Thang Vủ tới giờ đều là bọn làm loạn cả

Người đọc dường như có thể hiểu đươc hai câu tiếp theo trong bài Mạn Hứng, vẫn theo lời Đạo Chích :

Hoàng Đế chằng toàn được đức [...] Nghiêu th́ bất từ, Thuấn th́ bất hiếu, Vũ th́ hại người Thang th́ đuổi vua, Vũ Vương th́ đánh Trụ, Văn Vương th́ bị giam ở Dữu Lư. Sáu người dó là nhưng kẻ đời nay chuộng. Bàn cho kỹ, đều là hạng đem lợi làm mê đời thực, mà cường trái lại tính t́nh. Nết của họ thật đáng xấu hổ. Này nhưng hạng mà đời nay gọi là người giỏi: Bá Di Thúc Tề chối ngôi vua nước Cô Trúc, mà chết đói ởnúi Thú Dương, xương thịt không người chôn. Băo Tiều sửa nết, chê đời, ôm cây mà chết. Thân Đồ Địch can vua không được, đội đá, tự gieo ḿnh xuống sông, bị cá giải ăn thịt. Giới Tử Thôi là kẻ rất trung, tự cắt thịt đùi để nuôi Van Công.  Văn Công ssau đó phụ hắn ... Tử Thôi giận bỏ đi , ôm cây mà chết cháy.  Vĩ Sinh hẹn với đứa con gái nơi đầu cáu ... Đứa con gái chẳng lại ... Nưóc tới không đi, ôm cột cầu mà chết đuối. Bồn người ấy đều không khác ǵ chó thui lợn mổ, hay kẻ vác bát ăn xin.  Đều là hạng ĺa danh khinh chết, không nghĩ gốc để nôi lấy tuổu thọ. Người mà đời gọi là tôi trung không ai bằng Vương Tử Tỷ Can, Ngũ Tử Tư... Từ Tư phải chết ch́m, Tỷ Can phải moi tim. Hai người ấy , đời gọi là trung thần mà rút lại để cho thiên hạ cười. Từ trên mà xem xuống, cho đến Tử Tử Can, thẩy đều không đáng quư.

Tới hai câu sáu và bẩy trong bài mạn hứng, Nguyễn Khuyến dường như gấp sách sổ, nh́n vào đời sống trước mắt ông. Ông thấy như cơ tạo cũng đă già nua cùn ṃn, đất trời cho chẳng c̣n nơi nào con người chưa khai thác. Phải chăng đó là cảnh trước mắt đă tới lúc dĩ cùng. Mà người ta ai ai củng tin rằng dĩ cùng tắc biến, tới lúc cùng ắt phải biến đổi. Cái biến đổi đó trong mạch thơ gồm sáu bài của Nguyễn Khuyến trích dẫn trên đây, phải chăng là sự quay về thời hồng hoang? Và hai câu kết phải chăng là Nguyễn Khuyến thấy rằng câu truyện quay lại hồng hoang này là một đề tài đáng viết thành một cuốn sách cho thiên hạ xem chung?

Đi xa hơn nữa, người đọc thơ Nguyễn Khuyến, sau sáu bài với cùng một đề tài hồng hoang trên đây, không khỏi nghĩ rằng nhung ngày tháng nghiền ngẫm sách Lăo Trang, Nguyễn Khuyến đă dần dần chuyển vị từ một thạc nho hữu vi thành một chân nhân vô vi.

Người đọc dường như c̣n cảm thấy rằng sự biến đổi nói trên trong thơ Nguyễn Khuyến không phải chi riêng do việc đọc sách Lăo Trang mà c̣n do sự biến đổi hàng ngày trong đời sống của tác giả. Đó là sự thâm nhập của tiến bộ Tây phương vào nếp sống Việt Nam. Nguyễn Khuyến ghi lại sự thâm nhập đó trong một đôi bài trong Quế Sơn Thi Tập, tiêu biểu là bài:

鬥 巧 記 聞
Đấu Xảo Kư Văn

鬥 巧 長 開 百 勿 陳
Đấu xảo trường khai bách vật trần
噫 何 巧 也 巧 而 新
Y hà xảo dă xảo nhi tân
近 來 誰 鑿 乾 坤 孔
Cận lai thuỷ tạc kiền khôn khổng
到 此 方 知 宇 宙 春
Đáo thử phương tri vũ trụ tân
遠 國 服 裝 真 詭 異
Viễn quốc phục trang chân quỷ dị
深 林 鳥 獸 絕 其 珍
Thâm lâm điểu thú tuyệt kỳ trân
尋 常 敝 邑 無 他 巧
Tầm thường tệ ấp vô tha xảo
聊 作 冠 常 木 偶 人
Liêu tác quan thường mộc ngẫu nhân.

dịch là

Ghi những Điều Nghe Thấy Trong Cuộc Đấu Xảo

Mở kỳ đấu xảo trưng bày
Trăm điều mới lạ khéo hay tuyệt vời
Kiền khôn khoen thủng khen người
Cảnh xuân vũ trụ tới nơi mới tường
Nước xa quần áo lạ lùng
Rừng sâu vật hiếm chim muông đủ loài
Xứ tôi khéo vụng cùng ai
Bày pho tượng gỗ cân đai góp phần.

Nguyên năm 1902 nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương nhân dịp khánh thành cầu Doumer bắc ngang sông Hồng Hà, mở cuộc đấu xảo tŕnh bày kỷ nghệ tân tiến. Chắc chắn là Nguyễn Khuyến có đi xem đấu xảo và ghi lại nhưng điều tai nghe mắt thấy trong bài tho trên. Câu thứ ba nhắc tới mô h́nh đường xe lửa với nhưng hầm đục xuyên qua núi. Hai câu kết người đọc thơ không khỏi bùi ngùi cùng tác giả về sự góp phần nhỏ nhoi của người bản xứ trong kỳ đấu xảo này. Ngoài ra, h́nh ảnh những bức tượng gỗ với đủ áo xuêm không khỏi nhắc tới h́nh ảnh nhưng vị đường quan đương thời.

H́nh ảnh những tượng gỗ đủ áo xiêm tiêu biểu cho các vị đường quan trong bài thơ trên c̣n nhắc người đọc thơ Nguyễn Khuyến nhớ tới hai bài thơ nôm sau đây :

Vịnh Tiến Sĩ Giấy

I

Rơ chú hoa man khéo vẽ tṛ
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi
Giấy má nhà bay đáng mấy xu
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ
Bảng vàng bia đá vẫn ngh́n thu
Hỏi ai muốn ước cho con cháu
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.

II

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rơ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh thế mới hời
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ là đồ thật hóa đồ chơi.

Nều trong bài Đấu Xảo Kỳ Văn, h́nh ảnh những vị đường quan trở thành nhưng bức tượng gỗ, và trong hai bài Vịnh Tiến Sĩ Giấy, cái đỗ đạt cũng trở thành một thứ đồ chơ, dứ trẻ con. Phải chăng đó là nhưng dấu hiệu mất chỗ đứng độc tôn của nho giáo tại Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX?

Đằng khác, đặt ba bài Đấu Xảo Kư Văn và hai bài Vịnh Tiến Sĩ Giấy trên đây, trên nẻo đường buông bỏ cái có ngoại thân để về cơi huyền, theo mẫu mực của Gabriel Marcel, người đọc dường như thấu rơ hơn những lời Nguyễn Khuyến dặn ḍ con cháu trong bài Di Chúc Văn:

Việc tống táng nhung nhăng qua quít
Cúng cho thầy một it rươu hoa
Đề vào mấy chữ trong bia
Rắng “quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu”.

Rơ ràng là Nguyễn Khuyến chỉ muốn người đời sau nhớ tới việc ông từ quan về vườn Bùi, và qua h́nh ảnh một ông say với chén rượu trong tay như trên bức chân dung của ông. Đó là điểm tương ứng  giữa Nguyễn Khuyến và Đào Tiềm. Giới nghiên cứu thơ Đào Tiềm đồng ư là rượu là điểm quan trọng thứ hai trong thơ Đào Tiềm, đứng sau việc Đào Tiềm từ quan về với vườn ruộng. Khác với Đào Tiềm để lại hai mươi bài thơ dưới cùng đề tài Ẩm Tửu, đồng thời trong đa số các bài khác Đào Tiềm đều nói tới rượu, Nguyễn Khuyến không ngâm vịnh riêng đề tài nhấp rượu, nhưng cũng như Đào Tiềm, khi bất đắc chí, lúc gặp truyện buồn, Nguyễn Khuyến đều nhấp rượu.  Đúng như giới phê b́nh đă nhận xét, Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến uống rượu v́ cáiđức của rượu. Chữ đức của rượu đưa người đọc về với Lưu Linh, qua bài Tửu Đức Tụng  dưới đây 66, dịch là:

Đức Uống Rượu

Có một tiên sinh đại nhân lấy giời đất làm một buổi, lấy muôn năm làm một chốc, lấy mặt giời mặt giăng làm cửa làm ngơ, lấy cả thiên hạ làm sân, làm đường; di không thấy vết xe, ở không có nhà cửa, ǵời tức là màn, đất tức là chiếu, ư muốn thế nào th́ thế. Lúc ở th́ nâng chén, lúc đi th́ vác chai, xách nậm, lúc nào cũng chỉ có việc rượu chè, không c̣n biết đến ǵ nữa.

Có một công tử và một vị quan sang nghe tiếng tiên sinh như thế, bèn đến tận nơi, xắn tay vén áo, người th́ trừng mắt nghiến răng, người th́ trần lễ thuyết pháp, những dọng thị phi đâu bấy giờ ầm ỹ xôn xao như đàn ong vậy.

Lúc đó tiên sinh mớio ôm ṿ rượu, ghé vào thưng rượu, tợp cả chén rượu, phồng mồm những rượu, vểnh bộ râu lên, ngồi giạng hai chân, gối đầu vào men, lăn lưng vào bă, không nghĩ không lo, hớn hở vui thú, ngất ngưởng say sưa, thoáng rồi lại tỉnh. Lắng tai cũng không nghe thấy tiếng sấm sét, nh́n kỹ cũng không thấy h́nh Thái Sơn, nực rét thiết đến thân cũng không biết; lợi dục cảm dến t́nh cũng không hay; cúi xuống trông vạn vật rối rít ở trước mắt khắc nào như bèo nổi bồng bềnh trên sông Giang sông Hán.

Hai vị kia đúng cạnh tiên sinh bấy giờ xem cũng như con ṭ ṿ, con sâu róm mà thôi.

Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân b́nh bài Tửu Đức Tụng như sau:

Uống rượu say được như tiên sinh thực là hiếm có. Say mà đến lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu, trút sạch được hết lợi dục, quên bỏ được hết việc đời, kẻ sang giầu,  ngựi quyền thế trong c̣n như con sâu róm, con ṭ ṿ, th́ quả là một cái say thú vị, làng say vị tất mấy ai đă hưởng được. Nên tưỏng những kẻ chưa tới được cảnh say, chưa biết được cái say như thế là ǵ, cũng chẳng nên nghị luận cái say, cười người say chưa thấy đâu, lại phải người say cười lại. C̣n những hạng người say mà nói nhảm làm càn, phạm vào nhưng điều thương luân bại lư mà vin Lưu Linh th́ lại là tội nhân của Lưu Linh, chớ không phải đồ đệ của Lưu Linh. Nói rộng ra, giới tửu mà không uống rượu, theo đúng như Phật dậy, cố nhiên là đáng trọng, nhưng uống rượu mà vui tươi tao nhă như thần tiên, th́ cũng không thể khinh được.

Lưu Linh là một trong Trúc Lâm Thất Hiền. Bẩy người hiền này, theo Donal Holzman 67 là Kê Khang (223-262), Nguyễn Tịch (211-264), Vương Duy (234-305), Sơn Đào (205-283), Hương Tú (223-300) duy có Nguyễn Hàm và Lưu Linh không rơ năm sinh năm mất cùng gia thế sự nghiệp. Năm người kia đều làm quan cho triều đ́nh nhà Tấn sau khi Tư Mă Ư cướp ngôi nhà Ngụy,  loại trừ phái Lăo Gia theo Tào Sảng và thiên về phía Danh giáo.

Lưu Linh hiện diện trong thơ Việt Âm của Nguyễn Du qua bài:

劉 伶 幕
Lưu Linh Mộ

劉 家 之 子 不 成 才
Lưu Linh chi tử bất thành tài
荷 插 揚 言 死 便 埋
Hà sáp dương ngôn tử tiện mai
醉 裡 已 能 齊 萬 物
Túy lư dĩ năng tề vạn vật
死 時 何 必 念 遺 骸
Tử thời hà tất niệm di hài
千 年 古 幕 長 荊 棘
Thiên niên cổ mộ trường kinh cức
萬 里 官 道 多 風 挨
Vạn lư quan đạo đa phong ai
何 似 清 醒 看 世 事
Hà tự thanh tỉnh khan thế sự
浮 萍 撓 撓 更 堪 哀
Phù b́nh nhiễu nhiễu cành kham ai.

dịch là

Mộ Lưu Linh

Lưu Linh dầu chẳng thành tài
Chết đâu vùi đó lời này c̣n lưu
Lúc say muôn sự như nhau
Di hài nhắm mắt lẽ đâu bận ḷng
Ngàn năm gai phủ mồ hoang
Bên trời muôn dăm đường quan bồi hồi
Há như lúc tỉnh nh́n đời
Sắt se bèo nước nổi trôi dập dềnh.

Chú thích bài Lưu Linh Mộ trên đây, trong cuốn Nguyễn Du Toàn Tập, Mai Quốc Liên, không cho biết xuất xứ, ghi chi tiết về tiểu sử Lưu Linh như sau 68:

Lưu Linh (210-270) người đời Tấn, quê đất Bái, nay thuộc Từ Châu, Giang Tô, tên chữ là Bá Luân.

Lưu Linh thường ngồi xe đi chơi, đem theo rượu, có người đem theo mai đi hầu, nói rằng: “chết chỗ nào chôn chỗ đó”. Nguyễn Du căn cứ vào thoại này mà viết bài Lưu Linh Mộ trên đây.

Điểm đáng ghi nhận qua bài Tửu Đức Tụng của Lưu Linh và bài Lưu Linh Mộ của Nguyễn Du, là điều cái say có khả năng giúp người say tạm quên cảnh bèo nước trôi nổi của cảnh đời trong chốc lát, cho tới khi tỉnh.

 



[56] Paul Jacob, Tao Yuan-ming. Oeuvres completes, sách đă dẫn, p. 75.
[57] Đỗ Bằng Đoàn Đỗ Trọng Huề, Việt Nam Ca Trù Biên Khăo, NXB thành phố Hô Chí Minh, 1944, tr.394-404.
[58] Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Nhà sách Khai Trí, Sài G̣n 1965.
[59] Thanh Lê Tử, trong Cổ Học Tinh Hoa, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, NXB Trẻ, tái bàn năm 1991, tr. 86.
[60] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tốn, sách đă dẫn, tr. 274-275.
[61] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 317-318.
[62] Chưa t́m được bản chữ nho
[63] Trang Tử Nam Ha Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Sách đă dẫn, tr. 270-271.
[64] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 170-171.
[65] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 463-465.
[66] Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, sách đă dẫn, tr.311-312.
[67] Donald Holzman,  Les Sept Sages de la Forêt des Bambous et La Société de leur Temps., T’oung Pao,vol.44, 1956, pp 317-346.
[68] Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Du Toàn tập, tập 2, Văn Học 1996, tr.493-494.
[69] Trang Tử Nam Hoa Kinh, Bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 292-293

 

 

 

Xem Kỳ 16

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com