www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 14:

VI


Sách Và Rượu

 

Dường như Kinh Dịch không giúp Nguyễn Khuyến thấu đáo hơn cái lẽ thịnh suy vơi đầy, nên Nguyễn Khuyến gấp kinh dịch mở sách Lăo Trang như ông ghi lại trong bài :

U Sầu 62

Dục phế Thi Thư học Lăo Trang
Tiền nhân y bátthượng nan vương
Bách niển chỉ thử vi tâm huyết
Nhất nhật an năng dịch thận trường
Phương kién hoành diên đại khai tịch
Vị tri thiên địa bất hồng hoang
Dĩ tai ngô thả hành ngô tố
Tiêu tức doanh hu tử tế lường.

dịch là

U Buồn

Bỏ Nho học Đạo những mong
Nếp nhà truyền lại khó ḷng lăng quên
Trăm năm tâm huyết một niềm
Một ngày thay đổi ước nguyền cũng đang
Mắt nh́n hoàn vũ mở mang
Đất trời quay lại hồng hoang không đường
Nếp xưa đành quyết noi gương
Vơi đầy suy thịnh gốc nguồn ngẫm suy
 

dể mong tỉm ra gốc nguồn của điều khiến Nguyễn Khuyến bận tâm.

Cái lẽ vơi đầy thịnh suy c̣n là chủ đề cho bài thơ dưới đây của Nguyễn Khuyến:


Hữu Cảm


Trầm tư thế biến tuyệt kham thương

Tiêu trưởng doanh hư vị dị lường

Vũ trụ phương khai tân thế giới

Nhân dân hựu biệt nhất hồng hoang

Bất tri thùy thị vi Bàn Cổ

Hưu bả phù đàm tiếu Lăo Trang

Tâm mục vị cùng niên tiệm lăo

Cố viên tùng cúc tự thương dương

dịch là

Cảm Xúc

Thương cho thế cuộc đổi dời
Khi suy khi thịnh đầy vơi khôn lựng
Hoàn cầu đổi mới khai trương
T́nh dân sinh sống như dường hồng hoang
Nhớ ơn Bàn Cổ mở mang
Coi thường kinh sách Lăo Trang chớ lầm
Nay già chưa thấu thâm trầm
Hẹn cùng tùng cúc đành tâm quay về.

Từ bài Độc Dịch sang bài Hữu Cảm, Nguyễn Khuyến gấp Kinh Dịch mở sách Lăo Trang để xét lẽ thịnh suy vơi đầy trước cảnh đổi mới khắp hoàn vũ, và cảnh ông ước ao dân t́nh được sống lại cảnh hồng hoang, cảnh con người sống đời thượng cổ. mà người đọc thơ liên tưởng tới cảnh địa đàng trong Kinh Thánh. Dường như Nguyễn Khuyến mở sách Lăo Trang để t́m lời giải cho câu truyện khó khăn đó. Bỗng nhiên ông chợt thấy ông chưa hiểu thấu đáo kinh sách, rồi như chợt nhớ lời hẹn cùng tùng cúc, và khác với Nguyễn Công Trứ, ông quyết tâm trở về Vườn Bùi.

Trong nhiều bài khác, Nguyễn Khuyến dúng nhưng điển tích rút từ sách Trang Tử Nam Hoa Kinh ḥa hội cùng nhưng điển cố rút từ sách Nho Giáo. Phải chăng đó là điều chứng tỏ sự chuyển biến trong lănh vực tu tuởng của Nguyễn Khuyến từ Nho Giáo sang Đạo Giáo. Tiêu biểu cho sự chuyển biến tư tưởng này là bài:

偶 城
Ngẫu Thành

kỳ II

撓 撓 江 山 一 細 塵
Nhiễu nhiễu giang sơn nhất tế trần
何 為 鼎 鼎 百 年 身
Hà vi đỉnh đỉnh bách niên thân
名 夷 利 跖 枯 骸 盡
Danh Di lợi Chích khô hài tận
歉 朔 盈 侏 俸 祿 均
Khiếm Sóc doanh Thù bổng lộc quân
翼 趾 角 牙 原 有 分
Dực chỉ giác nha nguyên hữu phận
夔 蚿 蛇 目 各 相 憐
Qùy huyền xà mục các tương lân
細 衰 運 會 知 何 極
Tề suy vận hội tri hà cực
當 是 鴻 荒 太 古 人
Đương thị hồng hoang thái cổ nhân.

dịch là

Ngẫu Thành

Nước non một mảy bụi hồng
Trăm năm một kiếp nên công cốc ǵ
Xương khô lợi Chích danh Di
Thù thừa Sóc thiếu chi li công b́nh
Phận riêng chân cánh sừng nanh
Quỳ huyền rắn mắt khác h́nh tương lân
Biết đâu hội vận xoay vần
Hồng hoang trở lại một lần nữa chăng.

Trong câu thứ ba, cũng như Nguyễn Trăi trong bài Côn Sơn Ca và Nguyễn Du trong bài Hành Lạc Từ, Nguyễn Khuyến dùng điển danh Di lợi Chích, rút từ chương Biền Mẫu sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử để vẽ h́nh ảnh con người khi c̣n đuổi theo cái có. Trong câu thứ tư, Nguyễn Khuyến dùng điển Đông Phương Sóc, một nhà văn học đời Hán, Trung Quốc. Đông Phương Sóc và Thù Nho cùng làm quan trong triều Hán Vũ Đế, và cùng được hưởng lương bổng bằng nhau. Một ngày nọ, Đông Phương Sóc tâu lên vua rằng: “Thù Nho ḿnh cao ba thước, ăn lương một b́ thóc và 240 đồng tiền. Sóc tôi ḿnh cao chín thước, cũng ăn lương một b́ thóc và 240 đồng tiền. Thù Nho hàn rồi chết no và Sóc này rồi chết đói mất.” Nhắc tới truyện này dường như Nguyễn Khuyến muốn cho người đọc thấy là vấn đề công b́nh là một vấn dề rất chủ quan khó biết đúng sai. Tiếp tới câu thứ sáu Nguyễn dùng bốn chữ dực, chỉ, giác, nha, rút trừ bài Thiên Nhân Tam Sách của Đổng Trọng Thư, nói lên lẽ công b́nh của tạo hóa: vật có nanh th́ không có sừng, vật có cánh thi bớt chân. Trong câu thứ sáu, Nguyễn Khuyến dùng bốn chữ quỳ huyền, sà  mục rút từ thiên Thu Thủy, sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, Nhượng Tống dịch như sau 63

Quỳ thương rết ... Rết thương rắn ... Rắn thương gió ... Gió thương mắt ...Mắt thương ḷng ...
Qùy bảo rết rằng:
- Ta dùng một chân mà đi., ngươi không bằng rồi. Nay một ḿnh ngươi mà sai khiếnbấy nhiêu chân, làm ra làm sao?
Rết nói:
- Không thế rồi! [...] Nay động tới máy trời của ta, ta không biết làm sao nữa.
Rết lại bảo rắn:
- Ta đi bằng nhiều chân mà không bằng ngươi không chân, sao vậy?
Rắn đáp:
- Sự cử động của máy trời, có thể đổi sao được. Ta có dùng chân làm chi?
Rắn bảo gió :
- Ta vận động xương sống xương sườn ta mà đi, [...]. Nay ngươi áo áo nổi từ biển Bắc, ào ào thổi vào biển Nam mà h́nh như không có, sao vậy?
Gió nói :
- Phải! Ta ào ào nổi từ biển Bắc thổi vào biển Nam. Thế nhưng chỉ ta th́ được ta. Đạp ta th́ được ta. Tuy vậy bẻ gẫy cây to, xô đổ nhà lớn, chỉ có ta là có thể. Cho nên ta 
góp nhiều cái không được nhỏ lại làm cái được lớn.

Dùng bốn chữ qùy huyền sà mục của sách Trang Tữ Nam Hoa Kinh để đối với bốn chữ dực chỉ giác nhacủa Đổng Trọng Thư người đọc thơ như cảm thấy Nguyễn Khuyến muốn lấy hai chữ vô vi của Lăo Giáo để đối với hai chữ hữu vi của Khổng Giáo dể t́m hiểu về sự vận hội vần xoay. Phái hữu vi do người định đoạt, phái vô vi nhờ máy trời vần xoay. Câu kết dường như tác giả cho thấy là ông tin rằng Hồng Hoang, có thể sẽ quay lại một lần nữa.

Nguyễn Khuyến c̣n dùng hai chữ hồng hoang, hai lần trong hai câu mởđầu bài sau đây :

 

漫 吟
Mạn Ngâm

上 溯 鴻 荒 混 沌 初
Thượng tố hồng hoang hỗn độn sơ
鴻 荒 之 後 是 誰 歟
Hồng hoang chi hậu thị thùy dư
隆 污 世 運 當 何 極
Long ô thế vận đương hà cực
厚 薄 人 情 漸 不 如
Hậu bạc nhân t́nh tiệm bất như
開 闢 以 來 天 或 老
Khai tịch dĩ lai thiên hoặc lăo
紘 埏 之 外 地 應 除
Hành duyên ci ngoại địa ưng trừ
若 知 古 後 無 窮 事
Nhược tri cổ hậu vô cùng sự
合 補 瀛 寰 不 盡 書
Hợp bổ doanh hoàn bất tận thư

dịch là

Mạn Ngâm

Trước hồng hoang hỗn độn xưa
Sau hồng hoang đến bây giờ những ai
Thịnh suy suy thịnh vơi đầy
Ḷng người bạc bẽo bấy chầy khác xa
Từ khai tịch trời nay già
Đất ngoài tám cơi hết đà từ lâu
Bằng hay được việc ngàn sau
Gom làm bộ sách hoàn cầu đọc chung.

Điểm đáng lưu ư là Nguyễn Khuyến dùng hai chữhồng hoang trong sáu bài :  Độc Dịch, U Sầu, Hữu Cảm, Cảm Xúc Ngẫu Thành và Mạn Ngâm. Phải chăng đó là điểm Nguyễn Khuyến thắc mắc về lẽ suy thịnh đầy vơi mà đi t́m trong sách Lăo Trang để giải thích.

Giới chú thích thơ Nguyễn Khuyến văn tắt giảng chữ hồng hoang là đời thương cổ khi mới có loài người. Trang Tử viết về cảnh hồng hoang và cảnh suy thoái của hồng hoang trong thiên Mă Đề sách Nam Hoa Kinh như sau 64:

[...] Ḱa dân vốn có tính thường : dệt mà mặc, cày mà ăn, cái đó gọi là đức chung. Một mà không bè đảng, gọi làmặc trời. Cho nên về đời rất đạo đức, họ đi chắc chắn, họ nh́n thẳng thán. Đường lúc ấy : núi không có kẽm, chầm không có thuyền, đập; sinh vật sống thành đàn, cỏ cây đua lớn. Ḱa đời rất đạo dức, người ngang cùng muôn vật; có biết ǵ là quân tử với tiểu nhân. [...]

Kíp đến khi thánh nhân cặm cụi làm nhân tập tễnh làm nghĩa, mà thiên hạ mới sinh ngờ. Lan man làm nhạc, khún núm làm lễ, mà thiên hạ mới phân chia. Cho nên gỗ mộc không tàn, lấy ǵ làm chén son? Ngọc trắng không nát, lấy ǵ làm khuê, chương? Đạo Đức không phế, lấy đâu ra nhân nghĩa? Tính t́nh không ĺa dùng ǵ làm lễ nhạc?Năm sắc không loạn lấy ǵ làm văn vẻ? Năm tiếng không rối, lấy ǵ làm sáu luật? Ḱa tàn hải gỗ mộc mà làm đồ dùng, đó là tội của thợ mộc.Hủy hoại đạo đức để làm nhân nghĩa, đó là tội của thánh nhân. [...] Kíp đến đời các thánh nhân, bắt bẻ theo lễ nhạc để bó buộc người đời; treo cao nhân nghĩa để yên ủi ḷng người đời : nên dân mới bắt đầu cạnh khóe thích tranh khôn, tranh nhau về lợi, không thể ngăn được nữa. Đó là cái lỗi của thánh nhân vậy.

 


 


[56] Paul Jacob, Tao Yuan-ming. Oeuvres completes, sách đă dẫn, p. 75.
[57] Đỗ Bằng Đoàn Đỗ Trọng Huề, Việt Nam Ca Trù Biên Khăo, NXB thành phố Hô Chí Minh, 1944, tr.394-404.
[58] Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Nhà sách Khai Trí, Sài G̣n 1965.
[59] Thanh Lê Tử, trong Cổ Học Tinh Hoa, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, NXB Trẻ, tái bàn năm 1991, tr. 86.
[60] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tốn, sách đă dẫn, tr. 274-275.
[61] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 317-318.
[62] Chưa t́m được bản chữ nho
[63] Trang Tử Nam Ha Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Sách đă dẫn, tr. 270-271.
[64] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 170-171.
[65] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 463-465.
[66] Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, sách đă dẫn, tr.311-312.
[67] Donald Holzman,  Les Sept Sages de la Forêt des Bambous et La Société de leur Temps., T’oung Pao,vol.44, 1956, pp 317-346.
[68] Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Du Toàn tập, tập 2, Văn Học 1996, tr.493-494.
[69] Trang Tử Nam Hoa Kinh, Bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 292-293


 

 

 

Xem Kỳ 15

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com