www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 13:

VI


Sách Và Rượu

 

Ngoài cái vui sống với thiên nhiên, qua thơ văn giới nghiên cứu t́m thấy là Đào Tiềm c̣n ba nguồn vui khác, đó là âm nhạc, đọc sách và nhấp rượu 56.

Trong bài 與子儼等梳, Dậy Các Con Nghiễm Đẳng Sơ, Đào Tiềm có câu :

少 學 琴 書 
Thiếu học cầm thư

nghĩa là :

Thủa nhỏ học sách đàn

Trong bài 自祭文, Tự Tế Văn, Đào Tiềm lại viết :

和 以 七 弦
Ḥa dĩ thất huyền

nghĩa là t́m đưc niềm thanh thản qua tiếng đàn thất huyền. Ngày nay, trong toàn bộ thơ của Đào Tiềm, người đọc chỉ thấy có một bài viết theo thể nhạc phủ, một thể thơ thương được phổ nhạc.

Nguyễn Khuyến không cho biết là ông có học đàn thủa trẻ hay không, nhưng chắc chắn là Nguyễn Khuyến có tài thẩm âm.  Trong bài Khóc Dương Khuê ông có câu :

Có khi tầng gác cheo leo
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.

Ngoài ra Nguyễn Khuyến c̣n để lại cho người ngày nay khỏng sáu bài hát nói 57.

Trong ḍng thơ nôm, Nguyễn Khuyến có bài sau đây nói về tiếng đàn:

Nghe Hát Đêm Khuya

Một khúc đêm khuya tiếng đă chầy
Nửa chen mặt nước nửa từng mây
Nghĩ ḿnh vườn cũ từng lui bước
Ngán kẻ phương trời chẳng đứt dây
Bẻ liễu thành Đài thôi củng xếp
Trồng lan ngơ tối ngát nào hay
Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng
Chén rưỡu bên đèn luống tỉnh say.

Đối chiếu câu kết bài Nghe Hát Đêm Khuya với câu kết bài Uống Rượu ở Vườn Bùi :

Chớ buồn chi nghe tiếng hát làng say

người đọc thơ thấy trong âm điệu cả hai bài có một tiết tấu buồn thương tiếc luyến của câu hát chốn lầu cao và câu hát làng say trong bài hát nói.

Sang việc đọc sách, để chứng minh Đào Tiềm là người ham đọc sách, giới nghiên cứu thường trích dẫn câu dưới đây trong bài tự sự Ngũ Liễu Tiên Sinh Truyện của Đào Tiềm:

好 讀 書, 不 求 甚 解, 
hiếu độc thư, bất cầu thậm giải, 
每 有 會 意, 便 欣 然 忘
mỗi hữ hội ư, tiện hân nhiên vong thực

Nguyễn Hiến Lê dịch là 58:

ưa đọc sách, không cần thâm cứu chi tiết,
mỗi lần hội được điều ǵ th́ vui vẻ quên ăn.

Đào Tiềm không ghi rơ trong Ngũ Liễu Tiên Sinh Truyện, cũng như không nói trong thơ là ông ưa đọc loại sách nào.  Xét toàn thể tác phẩm Đào Tiềm để lại, giới phê b́nh đồng ư là Đào Tiềm đọc sách Lăo Trang ngoài sách Nho Giáo.

Ca tụng Nguyễn Khuyến đọc nhiều sách chắc chắn là một việc làm không cần thiết. Nhưng câu hỏi là ngoài sách của Đạo nho, Nguyễn Khuyến thựng đọc những sách nào? T́m trong Quế Sơn Thi Tập, người đọc thơ thấy Nguyễn Khuyến ghi lại trong một số bài thơ những sách ông thường đọc. Trước hết là bài :

讀 易
Độc Dịch

寒 日 爭 如 夏 日 長
Đông nhật tranh như hạ nhật trường
南 風 還 有 北 風 涼
Nam phong hoàn hữu bắc phong lương
自 為 可 口 鴟 嗔 鳳
Tự vi khả khẩu si sân phượng
不 盡 機 心 雀 埔 螳
Bất tận cơ tâm tước bộ đựng
海 宇 若 開 新 世 界
Hải vũ nhược khai tân thế giới
民 風 應 入 古 鴻 荒
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang
清 晨 獨 起 觀 周 易
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch
消 息 盈 虛 未 易 詳
Tiêu tức doanh hư vị dị tường.

dịch là

Đọc Kinh Dịch

Ngày đông ngắn ngày hè dài
Gió nồm gió bấc vần xoay luật trời
Cú hội ghen phượng giữ mồi
Sẻ ŕnh bọ ngựa tṛ đời cơ tâm
Hoàn cầu tới hội canh tân
Hồng hoang sống lại t́nh dân hội này
Đọc trang Kinh Dịch sớm nay
Chẳng hay cơ tạo vơi đầy thịnh suy.

Hai câu mở đầu cho thấy Nguyễn Khuyến muốn t́m hiểu một câu truyện theo luật tạo hoá xoay vần: không có ǵ là vĩnh viễn, cái này kế tiếp cái kia. Trong cái biến hóa đó, con người ghen ghét nhau như cú ghen với phương v́ miếng mồi,  như con bọ ngưa đang ŕnh con ve không biết là con chim sẻ đang ŕnh ḿnh và con chim sẻ không biết là có người thợ săn đang ŕnh ḿnh và sau cùng v́ quá chăm chú vào việc ŕnh con chim sẻ mà không hay sương xuống ướt áo 59. Đó là v́ cái lợi trước mắt mà những người chỉ muốn giành cái có cho ḿnh quên mất cái hại sau lưng. Nay, hoàn cầu đứng trước sự đổi mới, loài người như sống lại ngày khai thiên lập địa mới có con người khiến con người chưa bị gấp nếp theo nhưng thói tật của xă hội. Nguyễn Khuyến mở sách Chu Dịch, một trong năm kinh của Đạo Nho, t́m lẽ vơi đầy thịnh suy mà không t́m thấy khiến ông thắc mắc.

Sự tích cú ghen với phương v́ miếng mồi trích từ thiên Thu Thủy, sách Trang Tử Nam Hoa Kinh 60. Sự tích đó như sau:

Thầy Huệ làm tướng nước Lương, thầy Trang sang thăm.
Hoặc có kẻ bảo thầy Huệ rằng:
- Thầy Trang đến muốn thay thầy mà làm tướng. Thế là thầy Huệ sợ lùng ở trong nước ba ngày ba đêm.
Thầy Trang đến thăm nói:
- Phương Nam có giống chim, tên nó là uyên sồ, bác biết chăng? Uyên sồ cất cánh từ biền Nam bay sang biển Bắc... Phi cây ngô đồng chẳng đậu, phi hạt luyện chẳng ăn, phi suối ngot chẳng uống. Lúc ấy cú ta bắt được con chuột chù. Uyên sồ bay qua ... Nó ngẩng lên trông thấy bèn kêu “Hóe”. Nay bác mang nưóc Lương nhà bác ra “hóe” tôi sao?

Tích uyên sồ trên đây ngày nay thương dùng để chỉ cái nh́n của người đă buông bỏ cái có trên những người c̣n chạy theo cái có.

Sự tích sẻ ŕnh bọ ngựa, chép trong Nam Hoa Kinh, thiên XX mang đầu đề Sơn Mộc như sau 61:

Sự tích sẻ ŕnh bọ ngựa, chép trong Nam Hoa Kinh, thiên XX mang đầu đề Sơn Mộc như sau 61:

Trang Chu chơi ở bên giậu Điêu Lăng, thấy một con tước lạ từ phương Nam lại, cánh rộng bầy thước, mặt to đầy tấc, bay sát tráb Chu mà đậu ở rừng dẻ.
 Trang Chu nói:
 - Đây là loài chim ǵ? Cánh rộng mà không đi, mắt lớt mà không trông.
 Liền vén xiêm, rén bước, cầm viên đạn mà nhằm nó. Lại thấy một con ve sầu, vừa được bóng rợp đẹp mà quên thânḿnh. Con bọ ngựa nấp chỗ khuất mà vồ nó, thấy được mà quên xác ḿnh..
 Trang Chu rùng ḿnh mà rằng:
 - Trời ơi! Giống vật vốn làm lụy nhau! hai loài triệu lẫn nhau!
 Bỏ viên đạn mà chạy trở về. Người coi rừng đưổi theo mà mắng cho.
 
 Trang Chu trở về nhà ba tháng không vui.
 Lạn Thư theo hỏi:
 - Thầy làm chi mà ít lâu nay rất không vui?
 Trang Chu đáp:
 - Ta giữ xác mà quên ḿnh! Xem nước đục mà mê lẫn vực trong! Vả chăng ta nghe thầy ta dậy rằng: « Vào tục nào theo tục nấy! » Nay ta sang chơi Điêu Lăng mà quên thân ta. Chim tước lạ bay sát trán ta sanh chơi rùng dẻ mà quên đời thật.Người coi rừng dẻ đem ta mà làm sỉ nhục, v́ vậy nên ta không vui.

 

Thiên Sơn Mộc là một thiên trong phần Ngoại Thiên Nam Hoa Kinh. Giới nghiên cứu Trang Tử Nam Hoa Kinh thường coi Ngoại Thiên là những chương sách người sau đội tên Trang Tử mà thêm vào. Nhiều người đề nghị loại bỏ những chương này ra khỏi kinh Nam Hoa, nhưng phần lớn nhưng ấn bản đều giữ nguyên. Bàn về chương Sơn Mộc, Nhượng tống viết :

Thiên trên Trang dạy ra « ra đời ».
Thiên này ông dạy ta « vào đời ».
Dù vào hay ra đều phải lấy đạo làm gốc, đều phải quên công, quên danh, quên cả đến ḿnh. Nbưng ư ấy Trang đă từng nhắc đi, nhắc lại nhiều lần trong các thiên trên, đây chỉ nói cho rơ thêm mà thôi!

Hoàn vũ nay đến hội canh tân, và Nguyễn Khuyến như thấy t́nh dân muốn sống lại thủa hồng hoang, thủa thượng cổ khi mới có loài người, chưa có phép tắc quy luật xă hội. Nguyễn Khuyến t́m hiểu trong Kinh Dịch lẽ thịnh suy vợ đầy.


 

 




[56] Paul Jacob, Tao Yuan-ming. Oeuvres completes, sách đă dẫn, p. 75.
[57] Đỗ Bằng Đoàn Đỗ Trọng Huề, Việt Nam Ca Trù Biên Khăo, NXB thành phố Hô Chí Minh, 1944, tr.394-404.
[58] Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Nhà sách Khai Trí, Sài G̣n 1965.
[59] Thanh Lê Tử, trong Cổ Học Tinh Hoa, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, NXB Trẻ, tái bàn năm 1991, tr. 86.
[60] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tốn, sách đă dẫn, tr. 274-275.
[61] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 317-318.
[62] Chưa t́m được bản chữ nho
[63] Trang Tử Nam Ha Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Sách đă dẫn, tr. 270-271.
[64] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 170-171.
[65] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 463-465.
[66] Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, sách đă dẫn, tr.311-312.
[67] Donald Holzman,  Les Sept Sages de la Forêt des Bambous et La Société de leur Temps., T’oung Pao,vol.44, 1956, pp 317-346.
[68] Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Du Toàn tập, tập 2, Văn Học 1996, tr.493-494.
[69] Trang Tử Nam Hoa Kinh, Bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 292-293


 

 

 

 

Xem Kỳ 14

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com