www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 12:

V


Vui Với Thiên Nhiên (tiếp)

 

 

 

Sau tiết đông chí chừng mười bẩy mười tám ngày th́ đến tiết tiểu hàn, một trong 24 tiết theo năm âm lịch, nhằm ngày 6 hoặc 7 tháng giêng dương lịch. Theo kinh nghiệm th́ tại đồng bằng miền Bắc Việt Nam, đó là những ngày rét nhất trong năm. Vào tiết này, Nguyễn Khuyến để lại bài:

 

小 寒
Tiểu Hàn

雨 噢 寒 暘 不 可 期
Vũ úc hàn dương bất khả kỳ
盈 虛 消 息 孰 人 知
Doanh hư tiêu tức thục nhân tri
骨 冰 耳 笛 我 疑 我
Cốt băng nhĩ địch ngă nghi ngă
巷 笠 田 蓑 誰 問 誰
Hạng lạp điền thoa thùy vấn thùy
徬 砌 小 梅 開 口 笑
Bạng thế tiểu mai khai khẩu tiếu
定 巢 新 燕 隔 簾 窺
Định sào tân yến cách liêm khuy
昔 人 亦 有 如 予 者
Tích nhân diệc hữu như dư giả
劇 醉 狂 歌 也 未 癡
Kịch túy cuồng ca dă vị si.

 

dịch là

 

Tiết Tiểu Hàn

Gió mưa ấm lạnh cơ trời 
Khi lên khi xuống dầy vơi mặc t́nh
Tai ù xương buốt ngờ ḿnh
Gặp nhau run rẩy làm thinh chẳng chào
Trước thêm mai nở ngạt ngào
Én về làm tổ lao xao rèm ngoài
So ta người trưóc khác ai
Cơn say say khướt dại ngây há màng.

 

Nguyễn Khuyến ghi cái rét nhất trong năm bằng cảm xúc chính trên thân ḿnh người tho, tai ù xưuơng buốt khiến ông nghi ngờ cảm giác của ḿnh. Đồng thời cái rét khiến người ra ngơ hay ra đồng dầu nón áo đầy đủ vẫn run rẩy quên cả chào hỏi người quen. Nhưng trước cái rét ác liệt ất, hoa mai vẫn nở, én vẫn về làm tổ, và tác giả vẫn nhấp rượu, so ḿnh với người đời xxưa ông thấy cũng chẳng khác ai.

Nguyễn Khuyến cũng như mọi người thơ thường khởi hứng nhân đêm ba mươi tết, quen gọi là đêm:

 

除 夕
Trừ Tịch

除 卻 今 宵 是 新 歲
Trừ khước kim tiêu thị tân tuế
遂 成 五 十 五 年 翁
Toại thành ngũ thập ngũ niên ông
不 知 頭 上 幾 莖 白
Bất tri đầu thượng kỷ hành bạch
衹 有 年 來 雙 眼 紅
Chi hữu niên lai song nhăn hồng
人 欲 尋 春 明 日 見
Nhân dục tầm xuân minh nhật kiến
貧 於 此 夕 百 憂 空
Bần ư thử tịch bách ưu không
沈 吟 坐 對 寒 燈 酌
Trầm ngâm tọa đối hàn đang chước
一 句 連 年 興 未 窮
Nhất cú liên niên hứng vị cùng.

 

dịch là

 

Đêm Ba Mươi Tết

Giữa đêm nay là hết năm
Mừng thành ông lăo năm lăm tuổi đời
Nào hay tóc bạc rối bời
Sang năm bệnh mắt mong rồi nguôi ngoai
T́m xuân xuân tới sáng mai
Dân nghèo chỉ có đêm này không lo
Trước đèn rượu uống đà no
Nối hai năm một hứng thơ ngâm tràn.

 

Đêm ba mươi tết, người ḿnh có tục cúng giao thưà, và ǵới văn thơ làm thơ khai bút. Ba mươi tết năm đó, Nguyễn Khuyến tăng một tuổi thành ông lăo năm mưoi lăm. Sờ lên đầu mái tóc bơ phờ bạc trắng, nhưng điều ông mong ước là sang năm mới bệnh mắt của ông thuyên giảm. Điều đáng mừng là kể từ ngày mai mùa xuân lại về.

Nhưng dân nghèo chỉ có một đên ba mươi tết mới quên lo. Riên ông may mắn là ông c̣n rượu uốn đủ c̣n hứng thơ mạnh nối liền được hai năm.

Nh́n chung những bài thơ Nguyễn Khuyến ghi lại cảnh ông vui sống với thiên nhiên, trong bốn mùa, mùa nào có sắc thái riêng mùa đó, mùa nào cũng là thi cảnh cho ông. Riêng ông luôn luôn tỏ ra vui sống với thiên nhiên, tự tạo cho ông những mong ước không có ǵ cao xa, nhưng đủ cho ông chờ đợi thích thú khi cái ông chờ đợi hàng ngày tới với ông. Cái chờ đợi đó chỉ là một bông thủy tiên, một chậu quất,  một cơn gió mát, một khung trời xanh, một bóng trăng xuông, một bông mai non hay một cánh én. Ông không thấy sợ cái già đang tới, điều ông ước mong là bệnh mắt của ông thuyên giảm.  Phải chăng đó chính là bí quyết để một hưu quan vui sống dưỡng già nơi quê nhà?

Nhưng con tạo đa doan, không phải năm nào cũng được mùa, mưa thuận gió ḥa. Có những năm tốt, ắt có những năm xấu. Quế Sơn Thi Tâm của Tam Nguyên Công Yên Đổ có nhiều bài ghi lại cảnh những năm mưa dầu nắng lửa, hạn hán lụt lội. Điển h́nh là ba bài thơ nôm ghi lại cảnh nước lụt :

 

Nước Lụt Hà Nam

Quai Mễ ThanhLiêm đă lở rồi
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi
Gạo dăm ba bát cơ c̣n kém
Thuế một vài nguyên dáng vẫn đ̣i
Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng
Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi
Đi đâu cũng thấy người ta nói
Mười chín năm nay lại cát bồi.

 

Quai Mễ tức đê làng Mễ Tràng thuộc huyện Thanh Liêm, nggan nước sông Đáy. Namm1890, đê Mê Tràng vỡ, nước sông Đáy tràn vào đồng bằng Hà Nam phá hoại mùa mang gây nạn đói tại vùng B́nh Lục, quê hương của Nguyễn Khuyến. Câu thứ ba và thứ tư tả lại cảnh đói kém của người nông dân, v́ nạn lut, nhưng vẫn không được miễn thuế. Tuy nhiên, trong cảnh ngập lụt đó, Nguyễn Khuyến dường như vẫn c̣n thấy cái cảnh thơ trên nhưng chiếc thuyển duới bóng trăng. Cái giá củacái đẹp đó là nạn cát bồi sau khi nước rút.

Tiếp theo là bài:

 

Vịnh Lụt

Tị trưóc tị này chục lẻ ba
Thuận ḍng nưóc lũ lại bao la
Bóng thuyền thấp thoáng vờn trên vách
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà
Bắc bậc người c̣n chờ chúa đến
Đóng bè ta phải rước vua ra
Sửa sang việc nước cho yên ổn
Trời đă sinh ta ắt có ta.

 

Hai câu mở đầu bài thơ nhắc tới hai vụ lụt lớn v́ vỡ đê Nhị Hà. Lần thứ nhất nhằm năm Qúi Tị 1893, lần thứ hai nhằn năm Ất Tị (1905) khiến người dân vùng đồng bằng chết đói khá nhiều. Hai câu tiếp có lẽ không có ai tả cảnh nước lụt một cách thực tế như vậy: thuyền bè là cách di chuyển duy nhất khi lụt lội; nưóc ngập vào trong nhà, thuyền bợi ngay bên nhà in bóng lê vách; nước vỗ lên tường tiếng sóng nghe long bong. Di chuyển trong nhà cũng phải bắc bậc đốn chủ; bếp núc phải đóng bè đặt vua bếp thổi nấu. Nguyễn Khuyến chơi chữ gọi việc bắc bậc cho chúa nhà làm bè cho vua bếp là truyện sửa sang cho yên ổn việc nước. Phải chăng đó là cái cựi của Nguyễn Khuyến, cái cựi khuây khỏa trong nạn lụt lội?

 

Bài thứ ba là bài :

 

Lụt Chèo Thuyền Đi Chơi

Nhác mắt trông ra nước trắng bong
Thuyền nan nhẹ nhẹ dạo chơi rong
Tay chèo hứng gió chim bay mỏi
Lưng mượn khung trăng cá vẫy vùng
Bèo nổi lênh đênh đầu nội sạch
Lúa ch́m sâu thẳm cách đồng không
Ai ơi lo nghĩ làm chi nhọc
Qùy tị chơi tràn khỏi luống công.

 

Giữa kỳ nước lụt, Nguyễn Khuyến chèo thuyền đi chơi, cảnh thơ là cảnh trên trời dưới nước, con thuyền lênh đênh với chim trên không cá lượn dưới nước, bèo trôi lúa ch́m. Nhưng Nguyễn Khuyến thuận theo nạn trời không phàn nàn.

Nh́n sang ḍng thơ Việt Âm, Nguyễn Khuyến viết bốn bài Hung Niên, ghi lại cảnh mất mùa đói khổ. Tiêu biểu là bài :

 

其 二
Kỳ hai

我 生 之 後 嘆 逢 罹
Ngả sinh chi hậu thán phùng ly
世 亂 人 窮 歲 又 饑
Thế loạn nhân cùng tuế hự ky
唧 唧 夜 虫 如 自 訴
Tức tức dạ trùng như tự tố
嗷 嗷 宵 雁 欲 何 之
Ngao ngao tiêu nhạn dục hà chi
幸 因 儒 等 為 先 丐
Hạnh nhân nho giả vi tiên cái
久 慣 蔾 根 未 皺 皮
Cử quán lê căn vị trứu b́
憂 悶 愴 然 將 著 筆
Ưu muộn sảng nhiên tương trước bút
古 人 乞 食 已 成 詩
Cổ nhân khất thực dĩ thành thi.

 

dịch là

 

Năm Mất Mùa

bài II

Sinh nhằm thời buổi nhiễu nhương
Mất mùa đói kém quẫn cùng loạn ly
Dế than dầu dĩ canh khuya
Đêm đêm tiếng nhạn chia ĺa tản bay
Nhà nho trên hạng ăn mày
Gốc lê nhai măi da dầy chưa nhăn
Lo buồn cầm bút ngại ngần
Nhớ bài khất thực thành vần người xưa.

 

Nguyễn Khuyến không ghi rơ năm mất mùa này nhằm năm nào, nhưng rơ ràng là tác giả gặp khó khăn trong nạn mất múa này. Người thơ dùng hai điển Trung Quốc trong bài thơ. Một là điển dùng trong câu thứ năm. Điển này lấy từ lịch sử Trung quốc. Nhà Nguyên khi chiếm đưọc Giang Nam, chia người vùng đó thành mười hạng. Nho giới sắp vào hạng thứ chín, hơn giới ăn mày sắp hạng thứ mười, một bậc.

Điển thứ hai là bài Khất Thực của Đào Tiềm như sau:

 

乞 食 
Khất Thực

飢 來 驅 我 去
Cơ lai khu ngă khứ
不 知 竟 何 之
Bất tri cánh hà chi
行 行 至 斯 里
Hành hành chí tư lư
叩 門 拙 言 辭
Khấu môn chuyết ngôn từ
主 人 解 余 意
Chủ nhân giải dư ư
遺 贈 豈 虛 來
Di tặng khởi hư lai
談 諧 終 日 夕
Đàm hài chung nhật tịch
觴 至 鮿 傾 杯
Thương chí chiếp khuynh bôi
情 忺 新 知 歡
T́nh hân tân tri hoan
言 詠 遂 賦 詩
Ngôn vịnh toại phú thi
感 子 漂 母 惠
Cảm tử Phiếu Mẫu huệ
愧 我 非 韓 才
Qúy ngă phi Hàn tài
銜 戢 知 何 謝
Hàm tập tri hà tạ
暝 報 以 相 貽
Minh báo dĩ tương di.

 

dịch là

 

Xin Ăn

Đói tràn tới ta ra đi
Rồi ra xẩy đến truyện ǵ nào hay
Chân đi đưa đẩy tới đây
Kiếm lời gọi cửa ch́a tay ngại ngùng
Chủ nhân thấu cảnh đoái thương
Mời vào bơ nỗi tựa nương nơi người
Chuyện tṛ chiều tối chưa thôi
Chén này chén nữa mềm môi uống tràn
Cảm thông ḷng dạ hân hoan
Lại mang thi phú luận bàn ngâm nga
Ơn sâu Phiếu mẫu chan ḥa
Sánh cùng Hàn Tín thẹn ta bất tài
Lấy ǵ đền đáp ơn dầy
Chết xuống âm phủ ơn này chưa quên.

 

Dùng hai điển Trung Quốc trên đây, Nguyễn Khuyến đă mô tả rỏ cảnh khó khăn của ông trong nạn đói. Nhà nho nước nhà, trước nạn đói mất thế đứng đầu tứ dân và đúng như câu tục ngữ :

 

Nhất sĩ nh́ nông
Hết gạo chạy rông
Nhất nông nh́ sĩ

 

Nhưng chưa đến nỗi phải sắp hàng thứ chín chỉ trên ăn mày đ̣i nhà Nguyên Trung Quốc. Đồng thời người đọc thấy dường như Nguyễn Khuyến tự nhủ rằng ông chưa gặp cảnh khó khăn đến như Đào Tiềm, tuy đă  bị đói đến phẳi ăn cả rễ lê, nhưng da dẻ vẫn chưa nhăn nheo, chưa đến phải bỏ quê đi xin ăn như Đào Tiềm.

Nếu đúng vậy, phải chăng đó là một nếp sống của Nguyễn Khuyến hy vọng khi gặp cảnh cùng quẫn khó khăn, theo đúng câu

 

Nh́n lên th́ chẳng bằng ai
Nh́n xuống th́ chẳng có ai bằng ḿnh.

 

của nếp sống cổ truyền của người việt Nam.

C̣n truyện Đào Tiềm đi xin ăn, gặp được người biết tài thi văn của Đào Tiềm mà cung phụng cơm rượu truyện tṛ suốt buổi, phải chăng cũng là một tia hy vọng cho Nguyễn Khuyến trong cảnh mất mùa đói kém? Tia hy vọng đẹp nhưng mong manh như cánh hoa mai nở buổi sáng ngày tiết tiểu hàn giá lạnh.

 




[51] Thiền Luận Tập Hạ, Bản dịch của Tuệ Sỹ, Ấn quán Thăng Long, Sai G̣n 1973, tr. 337.
[52] Rectorat de l’Université Indochine, Quốc Văn Giáo Khoa thư lớp Sơ Đẳng, tr.34
[53] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 242.
[54] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, Hà Nội 1979, tr. 48.
[55] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, sách đă dẫn, tr.50.

 

 

 

Xem Kỳ 13

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com