www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 11:

IV


Về Vườn (tiếp)

 

 

 

Nhánh thơ nôm ca vịnh mùa Thu của Nguyễn Khuyến có ba bài nổi tiếng. Bài thư nhát là bài Thu Điếu, hau Câu cá Mùa Thu, mà cảo luận này sẽ bàn tới trong một đoạn sau. Hai bài kia  lần lượt là

 

Thu Ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngơ tối đêm sâu đóm lập ḷe
Lưng giậu phất phơ mầu khói nhạt
Làn ao lóng lánh ánh trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lăo không vầy cũng đỏ heo
Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đă say nhè.

 

Rồi tới bài:

 

Thu Vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Môt tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

 

Hai bài thơ ngâm vịnh mùa thu của Nguyễn Khuyến trên đây dường như nhắc tới bài ngũ ngôn dưới đây của Đào Tiềm:

 

飲 酒 
Ẩm Tửu
弟 五 首
Đệ Ngũ Thủ

結 廬 在 人 境
Kết lư tại nhân cảnh
而 無 車 馬 喧
Nhi vô xa mă huyên
問 君 何 能 爾
Vấn quân hà năng nhĩ
心 遠 地 自 偏
Tâm viễn địa tự thiên
彩 菊 東 籬 下
Thải cúc đông ly hạ
悠 然 見 南 山
Du nhiên kiến nam sơn
飛 鳥 相 與 還
Phi điểu tương dữ hoàn
此 中 有 真 意
Thử trung hữu chân ư
欲 辨 已 忘 言
Dục biện dĩ vong ngôn

 

dịch là

 

Nhấp Rượu 
Bài Thứ Năm

Dựng lều giữa chốn chợ đời
Ngựa xe nhộn nhịp đón mời ngoài tai
Hỏi sao được tới như vầy
Rằng ḷng riêng gửi cơi ngoài rành rang
Chân rào Đông hái cúc vàng
Quay nh́n rặng núi trời nam trùng trùng
Chiều trong vách đà giăng sương
Chim về mỏi cánh ngập ngừng nẻo xa
Cảnh này chân ư nẩy ra
Giăi bày nhưng muốn nói ra quên lời.

 

Bài ngũ ngôn trên đây của Đào Tiềm là bài thơ mà giới Trung Hoa học chọn làm tiêu biểu cho thi ca Trung quốc. Bài thơ này đă đi vào văn học Việt Nam trong bài ngũ ngôn dưới đây cũa Nguyễn Trăi:

 

遊 寺 山
Du Sơn Tự

短 棹 繫 斜 陽
Đoản trạo hệ tà dương
匆 匆 謁 上 方
Thông thông yết thượng phương
雲 歸 禪 榻 冷
Vân quy thiền tháp lănh
花 落 澗 流 香
Hoa lạc giản lưu hương
日 暮 猿 聲 急
Nhật mộ viên thanh cấp
山 空 竹 影 長
Sơn không trúc ảnh trường
箇 中 真 有 意
Cá trung chân hữu ư
欲 語 忽 還 忘
Dục ngữ hốt hoàn vương.

 

dịch là

 

Chơi Chùa Núi

Vội vàng gác mái chèo hoa
Lên chùa lậy Phật ánh tà xiên xiên
Mây về lành lạnh giựng thiền
Hoa rơi suối chẩy hương triền miên trôi
Trời chiều tiếng vượn bồi hồi
Đổ dài bóng trúc quét đồi hoang xa
Ḷng riêng ư vụt sáng ḷa
Kiếm lời những muốn nói ra quên liền.

 

Trước hết là đầu đề Thu Ẩm của bài thứ nhất. Hai chữ này gợi cho người đọc bài Ẩm Tửu dệ ngũ thủ bởi lể bởi lẽ trong đp̣i đề bài này có chữ Ẩm và h́nh ảnh chủ chốt trong bài là khóm cúc dưới chân rào tượng trưng cho mùa thu Trung Quốc. Trong bài Thu Vịnh, hai câu kết dường như gán liền với hai câu kết trong thơ Đào Tiềm và thơ Nguyễn Trăi. Cả hai bài thơ của Nguyễn Khuyến đều là đề tài cho giói nghiên cứu.

Bàn về bài Thu Ẩm, Xuân Diệu 54 viết:

Bài thơ này, theo tôi, không phải chỉ nói trong một thời điểm, là trong một đêm trăng hạn định, mà là tổng hợp nhiều thời điểm, khái niệm, khái quát về cảnh thu. Nếu chỉ nói nói cảnh một đêm thu có trăng, th́ bài thơ là tù túng và thiếu lô-gích.

Tiếp đó Xuân Diệu dài ḍng biện luận là câu ngơ tối đêm sâu mâu thuẫn với câu làn áo long lanh ánh trăng loe. Đưa cảnh lưng dậu phát phơ mầu khói nhạtvào một đêm có trăng th́ không hợp, không điển h́nh ǵ cả ... Mặt khác, Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt chắc chắn không phải là trời một đêm trăng, mà phải là một buổi chiều...

Có điều là Xuân Diệu không có cặp mắt đau của Nguyễn Khuyến, cặp mắt nh́n một cảnh vật mà thấy có khoảng tỏ có khoảng mờ. Khoảng mờ nhiều khi nẩy đom đóm, khoảng sáng đôi lúc chói loé, (cái nh́n như cái nh́n của người viết những gịng này khi chưa mổ mắt thong manh). Cảnh trong bài thơ là cảnh chung quanh mà Nguyễn Khuyến thực t́nh nh́n thấy như một bức tranh siêu thực. Đó là điểm mà Xuân Diệu với ư muốn hiểu thơ bằng lô-gích không tài nào hiểu được. Người đọc thơ chợt nhớ tới truyện xưa hoàng khuyển ngọa hoa tâm  mà thương hại cho kẻ múa bút sửa thơ ngựi.

Ngoại trừ bốn câu đầu bài Ẩm Tử đệ ngũ thủ, xét trên h́nh ảnh, người đọc thơ thấy như có sự song song với bài Du Sơn Tự của Nguyễn Trăi và bài Thu Ẩm của Nguyễn Khuyến. cảnh thơ của bài Ẩm Tửu đệ ngũ thủ, trải rộng tử khóm cúc chân rào đông, chuyền sang rặng núi trời nam rồi tới vách đá mây giăng, rồi hướng lên cao lưng trời thấy cánh chim chiều. Trong không gian bao la đó, thực sự nẩy ra một ư lạ. Đào Tiềm t́m chữ nói ra th́ t́m không thấy lời.  Điểm then chốt là sụ kiện không có lời để giăi ư của tác giả. Cái không này, biết đâu là Đào Tiềm đă chẳng huyền đồng, nhưng v́ câu thứ hai của bộ Đạo Đức Kinh:

Danh khả danh vô thường danh mà khiến Đào Tiềm không có lời giăi tỏ. Bởi cái ư nẩy ra trong cảnh bao la trức mắt Đào Tiềm, mà không có chữ giăi bày.

Rồi sang bài Du Sơn Tư của Nguyễn Trăi. Người thơ buộc thuyền gác chèo vội vă lên chùa lậy Phật vào một buổi chiều. Người thơ lên chùa không thấy tượng Phật, không thấy tiếng chuông tiếng mơ, mà chỉ thấy mây từ xa về làm lạnh giương thiền, thấy hoa rụng xuống suối đưa hương, Chỉ nghe thấy tiếng vượn chỉ nh́n thấy bóng trúc trên đồi hoang, để rồi trong tâm nhà thơ nẩy ra một ư lạ, mà Nguyễn Trăi t́m lời nói ra liền quên lời. Sự t́m lời rồi quên lời phải chăng là Nguyễn Trăi đă kiếm dược ra lời, nhưng bởi chủ trương:

bất lập văn tự của thiền giả mà thành Nguyễn Trăi quên liền.

Trong bài Thu Vịnh, Nguyễn Khuyến ngẩng nh́n trời cao xanh ngắt, rổi hạ tầm mắt xuống cần trúc gió đưa, xuống mặt nước khói phủ rồi nh́n trong nhà thấy bóng trăng lọt qua song, ngó ra vườn thầy khóm cúc trồng từ năm trước và văng vẳng tầng không là tiếng ngỗng bay ngang trời. Nhưng h́nh ảnh đó gợi hứng cho Nguyễn Khuyến, nhưng khi cất bút bỗng thấy thẹn với ông Đào, tức Đào Tiềm.

V́ sao Nguyễn Khuyến thẹn với Đào Tiềm, Xuân Diệu tiếp tục nói thay Nguyễn Khuyến về nỗi thẹn này55:

Sao ta c̣n bị buộc chân ở đây, sa lầy trong ṿng danh lợi ô bẩn phi nghĩa này? Sao ta chưa trả mũ từ quan qui khứ như Đào Uyên Minh cho nhẹ nhơm trong ḷng?

Giới phê b́nh thơ trách Xuân Diệu là Xuân Diệu viết như trên mà không có bằng cớ là Nguyễn Khuyến viết bài Thu Vịnh trên đây khi chưa từ quan về Vườn Bùi.

Đằng khác, người đọc thơ thấy là Nguyễn Khuyến vừa toan cất bút đă vội thẹn với ông Đào phải chăng v́ Nguyễn Khuyến tự xét là ḿnh, cũng như Đào Tiềm, chưa vào được cơi huyền đồng, v́ bởi câu mở đầu sách Đạo Đức Kinh:

Đạo khả đạo phi thường Đạo

khiến ông ngưng bút.

Sang mùa Đông, lạnh lẽo, đêm dài ngày ngắn, Nguyễn Khuyến cũng để lại cho đời sau một số bài thơ mang những tia nắng mang niềm ấm áp.

Tiêu biểu là ba bài sau đây, và bắt đầu là bài:

 

冬 至
Đông Chí

雲 走 風 飛 霜 滿 天
Vân tẩu phong phi sương măn thiên
光 陰 從 此 入 新 年
Quang âm tùng thử nhẫp tân niên
春 回 舊 徑 鳥 知 未
Xuân hồi cựu kính điểu tri vị
樹 破 新 牙 花 欲 燃
Thụ phá tân nha hoa dục nhiên
壓 悶 日 將 醇 酒 酌
Áp muộn nhật tương thuần tửu chước
畏 寒 夜 抱 火 爐 眠
Úy hàn dạ băo hỏa lô miên
近 來 懶 向 西 園 上
Cận lai lăn hướng tây viên thượng
強 起 扶 筇 看 水 仙
Cưỡng khởi phù cùng khán thủy tiên.

 

dịch là

 

Đông Chí

Gió đưa sương tỏa mây trôi
Bước sang năm mới cảnh trời đổi thay
Xuân về chim chóc có hay
Đâm chồi nẩy mộc cỏ cây đổi mầu
Rượu ngon nhấm nháp giải sầu
Đêm ôm lồng ấp rét đâu có màng
Vườn tây lười chẳng lần sang
Bũa nay gượng dậy xem làn thủy tiên

 

Đông chí, nhằm ngày 22 hoặc 23 tháng muời hai dương lịch, đó là ngày ngắn nhất trong năm nhưng cũng là ngày từ đó mỗi ngày một dài ra. Người làm âm lịch th́ coi ngày đông chí là ngày khí âm thịnh nhất và cũng là ngày khí dương bắt đầu hồi. Trong thi ca, nhiều nhà thơ khởi hhúng trong ngày đông chí, kèm theo chút hùng khí như thấy trong bài trên đây của Nguyễn Khuyến. Thời tiết dẫu vẫn c̣n âm u, nhưng chim muông cây cỏ dường như bắt đầu một năm mới. Riêng túy ông, vẫn cần có rượu giải sầu, vẩn c̣n cầm lồng ấp ban đêm, nhưng đă muốn gắng dậy đem xem mấy làn thủy tiên.

 

 




[51] Thiền Luận Tập Hạ, Bản dịch của Tuệ Sỹ, Ấn quán Thăng Long, Sai G̣n 1973, tr. 337.
[52] Rectorat de l’Université Indochine, Quốc Văn Giáo Khoa thư lớp Sơ Đẳng, tr.34
[53] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 242.
[54] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, Hà Nội 1979, tr. 48.
[55] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, sách đă dẫn, tr.50.

 

 

 

Xem Kỳ 12

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com