www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 9: (Tiếp Kỳ 8)

V


Vui Với Thiên Nhiên

 

Sang mùa hè, tiết trời thay đổi, cảnh thơ của Nguyễn Khuyến cũng đổi thay như ghi trong bài:

 

夏 日

Hạ Nhật

輕 風 嫩 暑 夏 之 初
Khinh phong nộn thử hạ chi sơ
大 醉 狂 吟 獨 有 余
Đại túy cuồng ngâm dộc hữu dư
巿 婦 承 盤 供 熟 荔
Thị phụ thừa bàn cung thục lệ
佃 翁 發 笱 賣 鮮 魚
Điền ông phát cẩu mại tiên ngư
宿 酲 乍 起 一 聞 雉
Túc tŕnh sạ khởi nhất văn trĩ
舊 句 未 忘 頻 檢 書
Cựu cú vị vong tần kiểm thư
蓬 蓽 此 間 供 老 病
Bồng tất thử gian cung lăo bệnh
栖 栖 塵 路 更 何 如
Thê thê trần lộ cánh hà như.

 

dịch là

 

Ngày Hè

Nắng hoe gió nhẹ vào hè
Thơ ngâm say khướt lè nhè nghêu ngao
Bà hàng đội vải tới chào
Thôn ông mang mẻ cá vào mời mua
Trĩ kêu tỉnh giấc say sưa
Ôn trang sách cũ câu vừa chợt quên
Cảnh già mái dạ tường phên
Đường đời nào biết rồi nên thế nào.

 

Cảnh thơ là một ngày đầu mùa hè. Người thơ vẫn tiếp tục ngâm thơ nhấp rượu, nhưng cổng ngoài có người ra vào.: có bà hàng vải, có thôn ông bán cá. Tiếng trĩ kêu làm Nguyễn Khuyến tỉnh giấc. Nhưng duờng như ông chợt quên một câu sách cữ vội t́m sách kiểm lại trí nhớ. Phải chăng v́ vậy mà Nguyễn Khuyến chợt thấy ḿnh già, cảnh già dưới mái dạ tường phên, mà tự hỏi rồi ra đường đời sẽ ra sao. Đằng khác câu:

 

舊 句 未 忘 頻 檢 書
Cựu cú vị vong tần kiểm thư

 

nhắc người đọc câu:

 

欲 辨 已 忘 言
Dục biện dĩ vong ngôn

 

nghỉa là:

 

Muốn bàn mà quên lời

 

trong bài Ẩm Tửu Đệ Ngũ Thủ của Đào Tiềm

Ư nghĩ buồn buồn này chỉ thoáng qua, Nguyễn Khuyến ghi lại một cảnh chiều hè khác lạc quan hơn:

 

夏 日 晚 眺
Hạ Nhật Văn Diểu

四 月 初 回 暑 氣 濃
Tứ nguyệt sơ hồi thử khí nồng
一 清 啼 鳥 綠 陰 中
Nhất thanh đề điểu lục âm trung
家 人 晒 穀 爭 逃 雨
Gia nhân sái cốc tranh đào vũ
婦 女 登 蠶 擬 護 風
Phụ nữ đăng tàm nghĩ hộ phong
原 濕 貪 天 歸 亦 晚
Nguyên thấp tham thiên quy diệc văn
雲 陰 覆 日 影 猶 紅
Vân âm phúc nhật ảnh do hồng
百 年 奕 奕 誰 無 事
Bách niên dịch dịch thùy vô sự
散 髮 承 涼 獨 乃 翁
Tán phát thừa lương độc năi ông.

 

dịch là

 

Ngắm Cảnh Chiều Hè

Đầu tháng tư nóng như nung
Bóng cây chim hót tưng bừng líu lo
Trai ḥ đậy thóc tránh mưa
Buồng tàm gái chặn gió lùa khép song
Đồng chiêm tiếc việc tham công
Mặt trời mây phủ ánh hồng chưa phai
Cuộc đời bận rộn mặc ai
Tóc hong hóng gió lăo này riêng thôi.

 

Cũng như trong bài Quan Hoạch, Xem Gặt, ngày mùa hạ mọi người bận rộn trai lo đậy thóc tránh mưa gái lo khép của tránh gió cho tằm, người làm đồng mặt trời lặn chưa muốn về, riêng tác giả ung dung nhàn nhă hong tóc trước gió mát. Đó là điểm khác biệt giữa cảnh hưu quan của Nguyễn Khuyến và cảnh Đào Tiềm từ quan về  sinh sống bằng nghề nông. Tuy nhiên giữa Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến có một điểm chung bất biến. Đó là cả hai nhà thơ cùng là những ông say như Nguyễn Khuyến ghi trong bài:

 

Vịnh Mùa Hè

Biếng trông trời hạ nước non xa
Ư khí ngày thường nghĩ đă trơ
Cá vượt khóm rau lên mặt nước
Bướm len lá trúc lượn rèm thưa
Thơ Đào ngâm vịnh đưa câu rượu
Xóm Liễu quanh khe chịu tiếng khờ
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Sấm đông rầm rập gió nồm đưa.

 

Bài thơ Việt Âm tương ứng là bài:

 

夏 日 偶 興
Hạ Nhật Ngẫu Hứng

不 堪 夏 日 望 修 途
Bất kham hạ nhật vọng tu đồ
平 日 凌 雲 志 氣 孤
B́nh nhật lăng vân chí khí cô
覆 沼 綠 蘋 跳 一 鯉
Phú chiểu lục tần khiêu nhất lư
當 門 翠 竹 舞 雙 蝴
Đương môn thúy trúc vũ song hồ
淵 明 吟 興 哆 歸 酒
Uyên Minh ngâm hứng đa quy tửu
子 厚 環 溪 儘 為 愚
Tử Hậu hoàn khê tẫn vị ngu
閒 坐 方 將 取 杯 酌
Nhàn tọa phương tương thủ bôi chước
雨 從 東 至 好 風 俱
Vũ ṭng đông chí hảo phong câu.

 

Hai câu mở đầu bài thơ cho thấy dường như Nguyễn Khuyến muốn bàn tới một truyện mà hàng ngày ông thường bận tâm suy nghĩ. Mối suy nghĩ đó bực bội như cái oi bức mùa hè. Chuỗi h́nh ảnh trong câu ba và bốn trong hai bài Vịnh Mùa Hè của Nguyễn Khuyến rất khác thường. Câu:

 

Cá vượt khóm rau lên mặt nước

 

làm người đọc liên tưởng tới câu chót bài ca dao Lính Thù Đời Xưa 52:, tiêu biểu cho giấc mơ của người lính thú

 

Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng

 

H́nh ảnh con bướm trong câu tiếp:

 

Bướm len lá trúc lượn rèm thưa

 

làm người đọc nhớ tới con bướm trong giấc mơ của Trang Châu, trong sách Nam Hoa Kinh 53:

 

Xưa Trang Châu chiêm bao thấy ḿnh là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không c̣n biết có Châu nữa. Chợt tỉnh giấc, th́ lại thấy ḿnh là Châu. Không bết Châu chiêm bao làm bướm, hay bướm chiêm bao là Châu.

Cùng là những giấc mơ, nhưng giấc mơ cũa người lính thú là giấc mơ thoát khỏi ṿng trói buộc của một người đang sống trong ṿng trói buộc, giấm mơ của Trang Châu là giấc mơ của một chân nhân đă thoát ṿng cương tỏa.

Chữ Đào trong câu thứ năm chỉ Đào Tiềm, một nhà thơ Trung quốc từng hai lần từ qua vê vui sống với vườn ruộng, mà Nguyễn Khuyến lấy làm mẫu mực. Chữ Liễu trong câu thứ sáu trong bài Vịnh Mùa Hè chỉ Liễu Nguyên Tông, tức Tử Hậu, tên gọi trong bài thơ Việt Âm, người đời nhà Đường. Họ Liễu bị vua Đường bắt tội, nên phải về quê nương náu. Ông tự cho ḿnh là ngu nên mới bị vua bắt tội, nên đặt tên con suối quanh nhà ông là Ngu Khê, và khu đất nhà ông là Ngu Khâu.

Hai câu kết, cho thấy tác giả dường như muốn viết ra điều ḿnh suy nghĩ, nhưng trời nổi gió đông,khiến cái oi bức cùng nỗi bận tâm tan biến.

Xét toàn thể hai bài thơ cùng một ư thơ này cho thấy phải chăng Nguyễn Khuyến bận tâm v́ câu truyệnchân/giả trong việc từ quan về vườn?  Nét duyên dáng của bài thơ là tác giả cho thấy cái day dứt của câu truyện làm tác giả bận tâm, tan biến cùng cái oi bức của ngày hè khi có ngọn gió đông chợt tới.

Mùa thu là mùa ngâm vịnh của thi nhân. Trong ḍng thơ Việt Âm  Nguyễn Khuyến để lại khoảng mười lăm bài thơ viết về mùa thu. Khi c̣n là một thư sinh, thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến mang nhiều h́nh ảnh thường gặp trong thơ Trung Quốc, với cây ngô đồng với tiếng chày đập vải với tiếng thu của Âu Dương Tu, một nhà thơ đời Tống. Rồi tới khi luống tuổi ,thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến điển h́nh qua những cảm nghĩ nhân ngày lễ Trùng Dương, nhằm ngày 9 tháng 9 âm lịch, hôi này người xưa thường họp bạn đi chơi núi.. Năm kỷ sửu 1889, Nguyễn Khuyến làm hai bài thơ vào dịp lễ Trung Dương như sau:

 

己 丑 重 陽
Kỷ Sửu Trùng Dương

風 雨 蕭 蕭 九 月 天
Phong vũ tiêu tiêu cửu nguyệt thiên
山 河 舉 目 蕞 堪 憐
Sơn hà cử mục tối kham liên
小 池 綠 漲 乃 如 此
Tiểu tŕ lục trướng nải như thử
去 歲 黃 花 殊 不 然
Khứ tiếu hoàng hoa thù bất nhiên
柳 葉 垂 青 光 透 日
Liễu diệp thủy thanh quang thấu nhật
竹 籬 積 翠 暮 浮 煙
Trúc ly tích thuư mộ phù vân
近 來 不 作 登 高 興
Cận lai bất tác đang cao hứng
醉 臥 寒 窗 抱 甕 眠
Túy ngoaa hàn song băo úng miên.



重 陽 何 處 不 躋 攀
Trùng dương hà xứ bất tê phan
隱 几 偏 容 一 老 閒
Ẩn kỷ thiên dung nhất lăo nhàn
花 亦 愛 殘 開 未 得
Hoa diệc ái tàn khai vị đắc
酒 因 嗜 飲 惜 成 慳
Tửu nhân vị ẩm tích thành khan
昨 宵 甚 雨 水 窺 巷
Tạc tiêu thậm vũ thủy khuy hạng
此 夜 無 雲 月 上 山
Thử dạ vô vân nguyệt thướng san
病 眼 矇 矓 乘 醉 望
Bệnh nhăn mung lung thừa túy vọng
寒 煙 疏 影 有 無 間
Hàn yên sơ ảnh hữu vô gian

 

dịch là

 

Tiết Trùng Dương Năm Kỷ Sửu

Một

Gió mưa tháng chín xạc xào
Cảnh ngoài trông thấy mà xao xuyến ḷng
Lên cao mực nước ao trong
Hoa vàng năm ngoái nay trồng muộn hoa
Mặt trời mành liễu xiên qua
Giậu tre xanh biếc khói là là bay
Chán tṛ trèo núi năm nay
Bên song ôm hũ uống say ngủ vùi.

Hai

Hội Trùng Dương leo non ngàn
Một ḿnh tựa ghế lăo nhàn thảnh thơi
Hoa chậm nở ngại sớm rơi
Lăo say ham rượu hoá người rượu khem
Bửa qua ngơ ngập mưa đem
Tối nay mây tạnh trăng lên lững lờ
Cơn say mắt kém lơ mơ
Nửa không nửa có nhạt mờ khói bay.

 

Đặc điểm của cả hai bài thơ hội trùng dương trên đây là điểm tác giả dùng cảnh ḿnh đang sống làm cảnh thơ. Trong bài thứ nhất đó là mực nước ao lên cao, nhưng khóm hoa vàng, có lẽ là hoa cúc, năm ngoái nở rộ năm nay chưa ra hoa. Mặt trời lúc đó đă xuóng thấp dưới ngọn cây liễu, Sương chiều quên trên ngọn tre. Riêng tác giả không đi trèo núi nằm ngủ dưới cửa sổ bên hũ rưọu. Trong bài thứ hai, tác giả ngồi một ḿnh nhàn tản suy nghĩ. Hoa chậm nở v́ sợ sớm nở th́ sớm tàn, Lăo say ham rượu nên phải uống dè hóa thành người kiêng rượu.Rồi ghi lại cảnh ngơ ngập nước mưa đêm bửa qua thời bữa nay trăng lại sáng. Nhưng trong cơn say mắt lại kém tác giả chỉ nh́n thất cảnh vật mờa aỏ như thật như hư như sương như khói. Phải chăng đó là bằng chứng để thấy Nguyễn Khuyến làm thơ chữ nho, nhưng không dùng thi liệu Trung Quốc mà trái lại đưa h́nh ảnh đồng quê Việt Nam vào thơ Việt Âm?

Nhánh thơ nôm ca vịnh mùa Thu của Nguyễn Khuyến có ba bài nổi tiếng. Bài thư nhát là bài Thu Điếu, hau Câu cá Mùa Thu, mà cảo luận này sẽ bàn tới trong một đoạn sau. Hai bài kia  lần lượt là

 

Thu Ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngơ tối đêm sâu đóm lập ḷe
Lưng giậu phất phơ mầu khói nhạt
Làn ao lóng lánh ánh trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lăo không vầy cũng đỏ heo
Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đă say nhè.

 

Rồi tới bài:

 

Thu Vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Môt tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

 

Hai bài thơ ngâm vịnh mùa thu của Nguyễn Khuyến trên đây dường như nhắc tới bài ngũ ngôn dưới đây của Đào Tiềm:

 

飲 酒 
Ẩm Tửu
弟 五 首
Đệ Ngũ Thủ

結 廬 在 人 境
Kết lư tại nhân cảnh
而 無 車 馬 喧
Nhi vô xa mă huyên
問 君 何 能 爾
Vấn quân hà năng nhĩ
心 遠 地 自 偏
Tâm viễn địa tự thiên
彩 菊 東 籬 下
Thải cúc đông ly hạ
悠 然 見 南 山
Du nhiên kiến nam sơn
飛 鳥 相 與 還
Phi điểu tương dữ hoàn
此 中 有 真 意
Thử trung hữu chân ư
欲 辨 已 忘 言
Dục biện dĩ vong ngôn

 

dịch là

 

Nhấp Rượu 
Bài Thứ Năm

Dựng lều giữa chốn chợ đời
Ngựa xe nhộn nhịp đón mời ngoài tai
Hỏi sao được tới như vầy
Rằng ḷng riêng gửi cơi ngoài rành rang
Chân rào Đông hái cúc vàng
Quay nh́n rặng núi trời nam trùng trùng
Chiều trong vách đà giăng sương
Chim về mỏi cánh ngập ngừng nẻo xa
Cảnh này chân ư nẩy ra
Giăi bày nhưng muốn nói ra quên lời.

 

Bài ngũ ngôn trên đây của Đào Tiềm là bài thơ mà giới Trung Hoa học chọn làm tiêu biểu cho thi ca Trung quốc. Bài thơ này đă đi vào văn học Việt Nam trong bài ngũ ngôn dưới đây cũa Nguyễn Trăi:

 

遊 寺 山
Du Sơn Tự

短 棹 繫 斜 陽
Đoản trạo hệ tà dương
匆 匆 謁 上 方
Thông thông yết thượng phương
雲 歸 禪 榻 冷
Vân quy thiền tháp lănh
花 落 澗 流 香
Hoa lạc giản lưu hương
日 暮 猿 聲 急
Nhật mộ viên thanh cấp
山 空 竹 影 長
Sơn không trúc ảnh trường
箇 中 真 有 意
Cá trung chân hữu ư
欲 語 忽 還 忘
Dục ngữ hốt hoàn vương.

 

dịch là

 

Chơi Chùa Núi

Vội vàng gác mái chèo hoa
Lên chùa lậy Phật ánh tà xiên xiên
Mây về lành lạnh giựng thiền
Hoa rơi suối chẩy hương triền miên trôi
Trời chiều tiếng vượn bồi hồi
Đổ dài bóng trúc quét đồi hoang xa
Ḷng riêng ư vụt sáng ḷa
Kiếm lời những muốn nói ra quên liền.

 

Trước hết là đầu đề Thu Ẩm của bài thứ nhất. Hai chữ này gợi cho người đọc bài Ẩm Tửu dệ ngũ thủ bởi lể bởi lẽ trong đp̣i đề bài này có chữ Ẩm và h́nh ảnh chủ chốt trong bài là khóm cúc dưới chân rào tượng trưng cho mùa thu Trung Quốc. Trong bài Thu Vịnh, hai câu kết dường như gán liền với hai câu kết trong thơ Đào Tiềm và thơ Nguyễn Trăi. Cả hai bài thơ của Nguyễn Khuyến đều là đề tài cho giói nghiên cứu.

Bàn về bài Thu Ẩm, Xuân Diệu 54 viết:

Bài thơ này, theo tôi, không phải chỉ nói trong một thời điểm, là trong một đêm trăng hạn định, mà là tổng hợp nhiều thời điểm, khái niệm, khái quát về cảnh thu. Nếu chỉ nói nói cảnh một đêm thu có trăng, th́ bài thơ là tù túng và thiếu lô-gích.

Tiếp đó Xuân Diệu dài ḍng biện luận là câu ngơ tối đêm sâu mâu thuẫn với câu làn áo long lanh ánh trăng loe. Đưa cảnh lưng dậu phát phơ mầu khói nhạtvào một đêm có trăng th́ không hợp, không điển h́nh ǵ cả ... Mặt khác, Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt chắc chắn không phải là trời một đêm trăng, mà phải là một buổi chiều...

Có điều là Xuân Diệu không có cặp mắt đau của Nguyễn Khuyến, cặp mắt nh́n một cảnh vật mà thấy có khoảng tỏ có khoảng mờ. Khoảng mờ nhiều khi nẩy đom đóm, khoảng sáng đôi lúc chói loé, (cái nh́n như cái nh́n của người viết những gịng này khi chưa mổ mắt thong manh). Cảnh trong bài thơ là cảnh chung quanh mà Nguyễn Khuyến thực t́nh nh́n thấy như một bức tranh siêu thực. Đó là điểm mà Xuân Diệu với ư muốn hiểu thơ bằng lô-gích không tài nào hiểu được. Người đọc thơ chợt nhớ tới truyện xưa hoàng khuyển ngọa hoa tâm  mà thương hại cho kẻ múa bút sửa thơ ngựi.

Ngoại trừ bốn câu đầu bài Ẩm Tử đệ ngũ thủ, xét trên h́nh ảnh, người đọc thơ thấy như có sự song song với bài Du Sơn Tự của Nguyễn Trăi và bài Thu Ẩm của Nguyễn Khuyến. cảnh thơ của bài Ẩm Tửu đệ ngũ thủ, trải rộng tử khóm cúc chân rào đông, chuyền sang rặng núi trời nam rồi tới vách đá mây giăng, rồi hướng lên cao lưng trời thấy cánh chim chiều. Trong không gian bao la đó, thực sự nẩy ra một ư lạ. Đào Tiềm t́m chữ nói ra th́ t́m không thấy lời.  Điểm then chốt là sụ kiện không có lời để giăi ư của tác giả. Cái không này, biết đâu là Đào Tiềm đă chẳng huyền đồng, nhưng v́ câu thứ hai của bộ Đạo Đức Kinh:

Danh khả danh vô thường danh

mà khiến Đào Tiềm không có lời giăi tỏ. Bởi cái ư nẩy ra trong cảnh bao la trức mắt Đào Tiềm, mà không có chữ giăi bày.

Rồi sang bài Du Sơn Tư của Nguyễn Trăi. Người thơ buộc thuyền gác chèo vội vă lên chùa lậy Phật vào một buổi chiều. Người thơ lên chùa không thấy tượng Phật, không thấy tiếng chuông tiếng mơ, mà chỉ thấy mây từ xa về làm lạnh giương thiền, thấy hoa rụng xuống suối đưa hương, Chỉ nghe thấy tiếng vượn chỉ nh́n thấy bóng trúc trên đồi hoang, để rồi trong tâm nhà thơ nẩy ra một ư lạ, mà Nguyễn Trăi t́m lời nói ra liền quên lời. Sự t́m lời rồi quên lời phải chăng là Nguyễn Trăi đă kiếm dược ra lời, nhưng bởi chủ trương:

bất lập văn tự

của thiền giả mà thành Nguyễn Trăi quên liền.

 

 


 

 


[51] Thiền Luận Tập Hạ, Bản dịch của Tuệ Sỹ, Ấn quán Thăng Long, Sai G̣n 1973, tr. 337.
[52] Rectorat de l’Université Indochine, Quốc Văn Giáo Khoa thư lớp Sơ Đẳng, tr.34
[53] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 242.
[54] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, Hà Nội 1979, tr. 48.
[55] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, sách đă dẫn, tr.50.

 

 

 

 

 

 

Xem Kỳ 10

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com