www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 6:

IV


Về Vườn (tiếp)

 

 

 

Trở lại bài Quy Khứ lai hề Từ, tới tám câu tiếp theo, Đào Tiềm tả một cách tường tận tử lúc thuyền gần tới bến, từ xa ông nh́n thấy mái nhà thanh bạch của ông,  tới lúc ông tới cổng được các con cùng tiểu đồng của ông ra đón, vào tới nhà cơm rượu đă sẵn sàng ông nhấp rượu nh́n hàng cây cảnh,tựa song nam cám ơn trời đă cho ông dùng đủ hàng ngày. Tiếp tới là  bốn câu mô tả cảnh ông ḥa ḿnh với tụ nhiên trong nhưng ngày đầu tiên trở lại quê xưa. Gậy cầm trong tay, tựa bên gốc thông ông thấy cánh chim chiều đang  bay về tổ, và ngẩng nh́n ra xa ông chỉ thấy mây tỏa bồng bềnh. Con chim về tổ này phải chăng tượng trưng chính ông, mây tỏa chân trời kia phải chăng là cảnh phù hoa nơi đô hội mà ông đă để lại sau lưng?

Trở lại bài Trở Vê Vườn Cũ, hai câu ba và bốn dường như Nguyễn Khuyến tự nhủ là, nay đă về già, thú lâm tuyền là thú chăm sóc mấy chồi cây ngay trong sân nhà, và thứ đọc sách, bạn với ông Huyện Bành Trạch Đào Tiềm với Ôn Công Tư Mă Quang, làm thơ uống rượu, bởi nay tóc đă bạc rồi, truyện t́m gặp Lỗ Hầu, trổ tài trị quốc b́nh thiên hạ, trong t́nh thế nương dâu băi biển  là giấc mơ đả tàn. Rồi ông ngâm câu đầu tiên của bài Quy Khứ Lai Hề Từ :

Quy khứ lai hề hồ bất quy..

H́nh ảnh con chim chiều về tổ và đám mây đùn cao cuối trời tiêu biểu chi ư muốn từ quan về ẩn trên đây cũng là hai h́nh ảnh Nguyễn Khuyến dùng trong bài :

 

Kinh Đề Sơ Phát29 

Trù trướng kim chiêu ngă độc hành
Tân vân nhất mạt viên sơn thanh
Thu đa thử khí ḥa tiên thực
Vũ thấp sa điền vị khả canh
Dă đỗ bất tri hà xứ thực
Hàn cầm do học khứ niên thanh
Tà duơng hồi thủ vân yên ngoại
Đa thiểu tương tri tại Lạc Thành.

 

dịch là

 

Vừa ra Khỏi Kinh Thành

Đường dài ngại bước xa xôi
Xanh lam đầu núi cuối trời mây giăng
Nắng thu đồng lúa sớm vàng
Mưa chưa đủ nước đồng hoang khó cày
Chưa vào mùa đỗ mùa khoai
Chim về trốn lạnh lạc loài xôn xao
Sậy lau mây khói dạt dào
Kinh thành bạn cũ c̣n bao nhiêu người

 

Trong bài thơ trên, h́nh ảnh con chim chiều về tổ trong thơ Đào Tiềm chuyển biến thành con chim tránh rét trong thơ Nguyễn Khuyến, mây đùn đầu núi trong thơ Đào Tiềm chuyển thành đám mây khói trên bụi lau. Con chim trốn lạnh phải chăng vẫn  tượng trưng cho người thơ muốn về hưu, và đám mây khói trong bụi lau phải chăng vẫn là h́nh ảnh cuộc đời làm quan mà tác giả đă để lại trong triều? Đằng khác, h́nh ảnh đồng lúa chín vàng, thửa ruông thiếu mưa chưa cày để trồng khoai trồng đỗ, tác giả nh́n thấy bên đường, là nhưng h́nh ảnh gần như it ai dùng trong thơ Việt Âm và thơ nôm. Đưa những h́nh ảnh đó vào bài thơ ghi lại buổi giă biệt kinh đô về nghỉ hưu, phải chăng Nguyễn Khuyến bắt đầu suy nghĩ về mối ưu tư cửa nhà nông thay v́ những ưu tư v́ vua v́ nước? Về mặt văn học, h́nh ảnh đồng lúa ruộng khoai vườn đỗ cũng là những h́nh ảnh thường gặp trong thơ Đào Tiềm, khiến người đời sau đồng thanh chấp nhận Đào Tiềm là người khơi nguồn cho ḍng thơ điền viên  Phải chăng những h́nh ảnh đó trong thơ Nguyễn Khuyến đă khiến nhiều nhà phê b́nh cũng coi Nguyễn Khuyến là một nhà thơ Điền Viên?

H́nh ảnh con chim chiều về tổ và đám mây đùn cuối trời cùng h́nh ảnh lũ con đứng bên cổng mừng cha và h́nh ảnh tiểu đồng đón chủ, ngày Đào Tiềm về tới nhà cũng là h́nh ảnh sống động chủ chốt Nguyễn Khuyến dùng trong  bài

 

Hoàn Gia Tác30 

Phong trần thập tải nhất hoàn gia
Mấn dỉ thành sương nhăn hựu hoa
Cự kính tùng trung đa thác ngạn
Phi hồng vân ngoại độc tư ta
Hậu môn đồng hỷ ông quy hỹ
Trương tiết nhân truyền tử thị da
Tỷ ỷ hàn song vô nhất thoại
Canh thâm lộ trọng nguyệt sơ tà

 

dịch là

 

Tới Nhà

Mười năm gió bụi tới nhà
Mắt mờ tóc bạc ḷng già ngổn ngang
Lùm thông ngơ cũ ngỡ ngàng
Cánh hồng đơn chiếc mây giăng bộn bề
Trẻ reo bên cổng ông về
Bạn xưa dừng gậy hề hề mừng ông
Khôn lời ngồi tựa bên song
Canh khuya sương lạnh trăng trong xế dần.

 

Chú tiểu đồng nhanh nhẩu trong thơ Đào Tiềm đổi thành h́nh ảnh ông bạn già người cùng xóm biến đổi bài thơ khởi hứng từ thơ Trung Quốc thành một bài thơ nôm mang mầu sắc làng xóm Việt Nam. Phải chăng đó cũng là một điểm đặc biệt trong thơ Nguyễn Khuyến.

Dầu là ở Trung Quốc hay ở Việt Nam, cuộc sống của nhưng ông quan về hưu cũng có nhiều điểm giống nhau. So sánh cuộc sống của Đào Tiềm tại Lật Lư với cuộc sống của Nguyễn Khuyến ở Vườn Bùi, qua nửa thứ hai của bài Quy Khứ Lai Hề Từ, dường như Đào Tiềm có phần vất vả hơn Nguyễn Khuyến. Đào Tiềm phải nhúng tay vào việc canh tác: ông phải đánh xe mui, chèo thuyền nan đi coi đồng cùng bạn điền:

 

Bạn điền báo dịp đầu xuân
Luỗng ây coi lúa đồng lần phiên ta
Xe mui vưọt quăng đường xa
Băng sông cậy lá thuyền hoa thăm đồng

 

Cuộc sống lao động không làm ông mệt mà trái lại cho ông nhiều giây phút sảng khoái, cũng như nhiều th́ giờ ngắm cảnh đồng quê:

 

Trong veo khe uốn khúc ṿng
Bên dựng g̣ chất đống chồng vây quanh 
Đương mùa cỏ mượt cây xanh
Suối tuôn róc rách dập dềnh nước trôi.

 

Trở về với thơ Nguyễn Khuyến người đọc nhớ tới bài:

 

觀 穫
Quan Hoạch

暑 氣 炎 烝 夏 日 長
Thử khí viêm chưng hạ nhật trựng
儒 家 田 事 太 紛 忙
Nho gia điền sự thái phân mang
每 愁 有 粟 多 生 熱
Mỗi sầu hữu túc đa sinh nhiệt
又 恐 無 禾 且 乏 粮
Hự khủng vô ḥa thả phạp lương
薪 飯 兼 收 連 本 榖
Tân phăn kiêm thu liên bản cốc
庾 囷 只 在 及 肩 墻
Dữu khuân chỉ tại cập kiên tường
世 間 萬 事 能 如 願
Thế gian vạn sự năng như nguyện
風 欲 盈 門 粟 滿 堂
Phong dục doanh môn túc măn đường.

 

dịch là

 

Xem Gặt

Ngày hè nắng chói nắng chang
Nhà nho mùa gặt xốn xang bận ḷng
Thóc hơn e nóng nực hơn
Thóc cao lại sợ chẳng ḅn đủ ăn
Bếp rơm gạo mới ngon cơm
Vựa đầy tường thấp ngang tầm bờ vai
Sự cầu nếu ứng được ngay
Xin cơn gió mát thóc đầy một kho.

 

Việc đống áng bận rộn ngày hè làm nguyễn Khuyến xốn xang, nhưng qua bái thơ trên đây, dường như ông không phải trực tiếp mó tay vào một việc ǵ như Đào Tiềm.

So với Nguyễn Khuyến, trong mùa gặt hái, Đào Tiềm dường như bận rộn hơn nhiều. Đào Tiềm ghi lại cảnh bận rộn đó trong bài ngũ ngôn dưới đây 31:

 

庚 戌 歲 九 月 中 
Canh Tuất Tuế Cửu Nguyệt Trung 
於 西 田 穫 旱 稻
Ư Tây Điền Hạn Hoạch

人 生 歸 有 道
Nhân sinh quy hữu đạo
衣 食 固 其 端
Y thực cố kỳ đoan
孰 是 都 不 營
Thục thị đô bất doanh
而 以 求 自 安
Nhi dĩ cầu tự an
開 春 理 常 業
Khai xuân lư thường nghiệp
歲 功 聊 可 觀
Tuế công lư khả quan
晨 出 肆 微 勒
Thần xuất tứ vi lặc
日 入 負 禾 還
Nhật xuất phụ ḥa hoàn
中 山 饒 霜 露
Trung sơn nhiêu sương lộ
風 氣 亦 先 寒
Phong khí diệc tiên hàn
田 家 豈 不 苦
Điền gia khởi bất khổ
弗 獲 辭 此 難
Phất hoạch từ thử nan
四 體 誠 乃 疲
Tứ thể thành năi b́
庶 無 異 患 干
Thứ vô dị hoạn can
盥 濯 息 簷 下
Quán trạc tức diêm hạ
斗 酒 散 襟 顏
Đẩu tửu tán khâm nhan
遙 遙 洎 溺 心
Diêu diêu Tư Nịch tâm
千 載 乃 相 關
Thiên tải năi tương quan
但 願 長 如 此
Đăn nguyện trường như thử
躬 耕 非 所 歎
Cung canh phi sở thán.

 

dịch là

 

Gặt Lúa Mùa Tại Tây Điền
Giữa Tháng Chín Nam Canh Tuất

Là người chữ đạo hằng noi
Đủ ăn đủ mặc ai thời chẳng mong
Đói cơm thiếu áo long đong
Cách nào noi đạo an ḷng hôm mai
Đầu xuân lo việc cấy cày
Đến ngày được gặt là ngày nên công
Rạng đông đă vội ra đồng
Chiều vàng lúa cạn c̣ng lưng quảy về
Đường đồi suơng xuống lạnh tê
Muộn thu gió lốc bốn bề gian nan
Nghề nông vất vả muôn vàn
Ngày mùa đồng áng nhọc nhằn đà quen
Mỏi ṛi mỏi ră tay chân
Chẳng lo tai vạ yên thân bấy chầy
Tắm xong nằm nghỉ hiên ngoài
Rượu ṿ một đấu nhấp hoài thiu thiu
Nịch Tư tích cũ đuổi đeo
Ngàn năm t́nh nghĩa vẹn điều bấy nay
Mong sao được măi như như vầy
Tự tay vun bón cấy cầy chẳng than.

 

Giới nghiên cứu thơ Đào Tiềm cho rằng chữ đạoĐào Tiềm dùng trong câu thứ nhất bài thơ này là đạo Khổng. V́ hai chữ Thư và Nịch trong câu thứ 17 đưa người đọc thơ về sách Luận Ngữ, thiên XVIII: Vi Tử, chương 6, Lê Phục Thiện dịch như sau 32:

Trường Thư, Kiệt Nịch đang cùng nhau cày ruộng. đức Khổng Tử đi qua, sai thầy Tử Lộ hỏi thămbến đ̣. Trường Thư hỏi: “Người cầm cương ngựa ngồi trên xe là ai?” Tử lộ đáp: “Là Thầy Khổng Khâu”. Trường Thư hỏi:”Có phải Khổng Khâu nước Lỗ không?” Tử Lộ đáp; “Phải”. Trường thư nói:: “Phải th́ đă biết bến đ̣ rồi”.

Tử Lộ lại hỏi Kiệt Nịch. Kiệt Nịch nói:’ Ngươi là ai?” Tử Lộ đáp: “Tôi là Trọng Do ». Kiệt Nịch hỏi: “Có phải là học tṛ Khổng Khâu không?” Tử Lộ thưa rằng: “Phải”. Kiệt Nịch nói;” Thiên hạ đều loạn lạc như nước chẩy cuồn cuộn; Khổng tử sẽ cùng ai thay đổi được? Vả lại ngươi đi theo kẻ sĩ tránh người vô đạo, sao bằng ta đi theo kẻ sĩ tránh đời?” Kiệt Nịch lại tiếp tục bừa phủ lúa giống, không ngừng.

Tử Lộ đi đến xe tŕnh lại. Đức Khổng Tử ngậm ngùi nói rằng: “Loài chim, loài thú không thể cùng người ta họp bầy. Nếu ta không thân với mọi người th́ thân với ai? Nều thiên hạ có đạo, Khâu này không cần phải sửa đổi nữa.”

Qua chương Luận Ngũ trên, Chu Hy cho thấy là Trường Thư và Kiệt Nịch là hai người ở ẩn. Ngẫu là cùng nhau cày ruộng. Câu truyện xẩy ra khi Khổng Tử tử nước Sở trở về nước Thái.

B́nh chương sách này, Tŕnh Tử nói rằng: “Thánh nhân không dám quên nhăng việc thiên hạ, nên nói như thế.” Trương Tử nói rằng: “Ḷng nhân của Thánh Nhân không v́ kẻ vô đạo mà bỏ mặc việc thiên hạ, nên ngài luôn luôn cố gắng t́m cách giúp đời”.

Trở lại bài thơ của Đào Tiềm. Sau một ngày mùa gặt với công việc đồng áng nặng nề, tắm rửa xong, nhấp một đấu rượu, nằm nghỉ bên hiên, nhớ tới  hai ẩn sĩ Trương Thư và Kiệt Nịch, thấy là ước mong trị nước b́nh thiên hạ không thắng nổi ước mong được sống tiếp trong hoàn cảnh vất vả chân tay nhưng đầu óc thư thả hiện tại. Phải chăng v́ vậy, Đào Tiềm cảm thấy việc về với ruộng vườn của ḿnh là một quyết định thích đáng?

Niềm vui của Đào Tiềm trong cảnh cáo quan về với ruộng vườn, dầu có vất vả tay chân, khiến người đọc thông cảm với mối lo của Nguyễn Khuyến bị triệu ra làm quan, trong bài:

 

見 吏
Kiến Lại

一 官 歸 去 六 年 餘
Nhất quan quy khứ lục niên dư
病 臥 猶 然 畏 簡 書
Bệnh lại do nhiên úy giản thư
叩 戶 卻 聞 來 有 吏
Khấu hộ khước văn lai hữu lại
迷 途 常 恐 出 無 車
Mê đồ thường khủng xuất vô cư (xa)
百 年 屈 指 今 逾 半
Bách niên khuất chỉ kim du bán
十 事 人 心 九 不 如
Thập sự nhân tâm cửu bất như
役 役 胡 勞 名 利 夢
Dịch dịch hồ lao danh lợi mộng
何 妨 長 與 醉 鄉 居
Hà phương trường dữ túy hương cư.

 

dịch là

 

Thấy Nha Lại Tới

Cáo quan đă sáu năm rồi
Ốm đau vẫn sợ lệnh đ̣i chầu vua
Chợt đâu thấy có sai nha
Lại mừng v́ dă lầm nhà qua đây
Đời người quá nửa xuân này
Mười điều cả chín đều sai ư ḿnh
Gớm cho giấc mộng công danh
Làng say yên sống sao đành ra đi.

 

Về nghỉ hưu đă sáu năm, lại thêm đau ốm, Nguyễn Khuyến vẫn lo bị vua triệu ra làm quan. Như con chim từng bị trúng tên, nay sợ làn cây cong, Nguyễn Khuyến thấy bóng sai nha là đă lo, nhưng lần này lại mừng là nha lại lầm nhà lạc lối. Thoát ṿng danh lợi, lại không vất vả tay chân, như vậy phải chăng chính là điều hợp với sở thích của Nguyễn Khuyến? Hơn nữa, vui niềm vui sống cùng làng say phải chăng chính là niềm vui của cả hai người thơ Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến?

 

 


 



[25] A.R Davis, T’ao Yun Ming, his works and their Meaning, II, Cambridge University Press, Cambridge, 1983, p 187-188.
[26] Paul Jacob, Tao Yuan Ming, Oeuvres Complètes, Gallimard, Paris 1990 p. 60.
[27] Chưa t́m được bản chữ nho
[28] Chưa t́m được bản chữ nho
[29] Chưa t́m được bản chữ nho
[30] Chưa t́m được bản chữ nho
[31] Đào Uyên Minh Thi Tuyển, sách đă dẫn, tr. 60.
[32] Luận Ngữ, dịch giả Lê Phục Thiện, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1992, tr. 667.
[33] Paul Jacob, Tao Ying Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn, tr. 22.
[34] Lăo Tử Đạo Đúc Kinh, bản dịch của Nghiêm Toản, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 387-396.
[35] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần,, tr. 174-175
[36] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, tr. 236.
[37] James R.Ware, The Saying of Chuang Chou, Confucius Publishing Co. Đài Bắc Trung Hoa Dân Quốc năm 69, p.239. Câu này cũng chép trong sách Lễ Kư, quyền 17, tr. 9b-10s.
[38] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương Tống, sách đă dẫn, tr. 314.
[39] Với chữ đạm này, triết gia Francois Julien đă viết thành cảo luận Eloge de la Fadeur, Gallimard, Paris 1997..
[40] Theo sách Hậu hán Thư, vợ Nhu Trọng khuyên chồng trong cảnh từ quan ẩn dật chớ nên buồn v́ con ḿnh chẳng được bằng con người khác
[41] Hai lăo Trong, tên là Cầu Trọng  và Dương Trọng hai ẩn sĩ thường được nhắc nhờ  tới trong thơ văn cổ
[42] Sách Liệt Nữ Truyện chép sự tích vợ Lăo Lai là người khuyên chồng là lăo Lai không ra làm quan với vua nhà Chu.
[43] Quản Trọng và Bảo Thúc là gương sáng cho t́nh bạn trong sử Trung Quốc.Bảo Thúc chăm lo cho Quản Trọng suốt đời khiến Quản Trọng phải thốt thành lời: “Sinh ra ta là cha mẹ ta nhưng hiểu ta là Bảo Thúc”.
[44] Quy Sinh và Ngũ Cử là truyện cổ Trung Quốc chép trong sách Tả Truyện làm gương cho t́nh bạn không đổi từ lúc hàn vi cho tới khi vinh hiển .
[45] Paul Jacob, Tao Yuan Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn, p. 68.
[46] Nguyện Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, NXB Trẻ, Saigon tái bản, 1991, tr.368-369.
[47] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Xuân Thu tái bản, tại Hoa Kỳ, tr. 270.
[48] Trần lê Sáng, Phùng Khắc Khoan, Cuộc Đời và Thơ Văn, nhà xuất bản Hà Nội 1985, tr.48-49.
[49] Thiếu một vài chữ trong máy tính dể chép bản chũ nho.
[50] Đường Thi Tam Bách Thủ,  sách đă dẫn,
 tr. 244

 

 

 

 

Xem KỲ 7

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com