www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 5:

IV


Về Vườn

 

 

Như đă bàn trong đoạn viết về bài Di Chúc, Nguyễn Khuyến về hưu năm 50 tuổi và  ông dặn bảo con ghi lên bia mộ ông ḍng chữ :

quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu

Điều này làm người đọc có thể hiểu là việc cáo quan của ông là việc khiến ông hài ḷng nhất trong suốt cuộc đời.  Hiểu như vậy, trong những trang kế tiếp, cảo luận này theo rơi truyện ông cáo quan trong thơ của ông.

Điểm đáng chú ư là việc ở hay về là một việc bất cứ nhà nho nào đă từng đem sở học ra pḥ vua giúp nước đều phải đương đầu khi cao tuổi. Thế mà trong thơ, kề từ ngày Nguyễn Khuyến trở lại Vườn Bùi người đọc thường gặp những h́nh ảnh tiêu biểu của Đào Tiềm. Ai cũng biết là Đào Tiềm, qua bài Quy Khứ Lai Hề Từ, đă là nguồn thi hứng cho hầu hết những nhà thơ đời đời sau ông, trong ḍng thơ về truyện ở hay về trên toàn cơi Đông Á. H́nh ảnh ba luống cúc, năm cây liễu rồi ư muốn nghỉ việc quan v́ ra làm quan không v́ năm thưng gạo đă là những h́nh ảnh cổ điển hay đúng hơn, không it th́ nhiều đă quen thuộc với người đọc thơ Đông Á. Ngoài những h́nh ảnh kể trên, Đào Tiềm c̣n được xưng tụng v́ nết ưa rượu. Thoại kể rằng ông ra làm quan, công điền nhà vua cấp cho ông, ông bắt cấy nếp đễ lấy gạo nấu rượu. Bà Đào Tiềm phải van  nài măi ông  mới cho phép cấy một it lúa tẻ đề cho gia đ́nh ông đủ bát ăn.

 

Ngoài đức uống rượu, Đào Tiềm c̣n nổi danh v́ góp tiếng cười vào Ba Tiếng Cười Suối Hổ, Tam Tiếu Hổ Khê. H́nh ảnh Đào Tiềm bên Suối Hổ, là h́nh ảnh tiêu biểu cho Đào Tiềm trong những năm tháng cuối đời ông. Trong tiểu sử Đào Tiềm, A. R Davis 25 trích sách Lư Sơn Tạp Kư của Mao Đức Kỳ cho biết là từ khi từ quan, Đào Tiềm về ở ẩn tại đất Lật Lư , thường lui tới Chùa Đông Lâm, lúc đó nhà sư Tuệ Viễn chủ tŕ. V́ mến Đào Tiềm, nhà sư Tuệ Viễn phá lệ, cho người đi mua rượu để tiếp đón Đào Tiềm. Tuệ Viễn là người đă sáng lập ra phái Tịnh Thổ và Bạch Liên Hội vào năm 402 26. Hội Bạch Liên này c̣n tồn tại tới nay. Trích sách Lư Sơn Kư, A. R. David cho hay thêm là bên chùa Đông lâm có một con suối nhỏ, tại đó có nhiều hổ, mỗi khi  nhà sư Tuệ Viễn bước qua suối th́ đàn cọp gầm lên vang dội. Do dó ḍng suối mang tên là Hổ Khê, hay Suối Hổ. Một hôm nhà sư Tuệ Viễn tiễn Đào Uyên Minh và nhà nho đạt đạo Lục Tu Tỉnh, vô t́nh bước qua ḍng suối, ba người bàn bạc cười nói át cả tiếng hổ. H́nh ảnh ba người cười nói này gợi hứng cho  họa sư Thạch Khác, thế kỷ thứ X, vẽ thành bức Tam Tiếu Hổ Khê, sau đó Tô Đông Pha, đời Tống, có viết một bài tán bức tranh này. Trước đó, đời Đường,  Lư Bạch có bài Tứ Tuyệt đầu đề là Biệt Đông Lâm Tự Tăng cũng lấy hứng từ truyện kể trên. Ngày nay, bức ảnh và truyền thuyết về Tam Tiếu Hổ Khê là tiêu biểu cho sự ḥa hợp giữa tam giáo, Nho Lăo Phật. Riêng đối với Đào Tiềm, sau khi từ quan về Lật Lư vui cảnh đồng ruộng, phải chăng Đào Tiềm cũng đổi hướng cuộc sống, quay về cơi diệu huyền của Lăo Giáo vào khúc cuối đời?

 

Trở lại với thơ Nguyễn Khuyến, người đọc thấy nết hay rượu cũng là một nét đặc thù của người thơ. Hơn nữa, hơi khác với Đào Tiềm là ngoài những bài thơ bàng bạc sắc Đạo, Nguyễn Khuyến c̣n có nhiều bài khác mênh mang mầu Thiền.

 

Trong ḍng thơ Việt Âm, Nguyễn Khuyến viết nhiều bài ghi lại ỳ muốn noi gương Đào Tiềm về sống với ruộng vườn. Bài thứ nhất là bài :

 

Sơ Chí Đà Tẫn Phụng Tống
Đương Sự Chư Quan27 

Hồi thủ cô lăng lệ ám san
Hạc thư tạo dạ đáo tùng quan
Đương niên khởi hạp trung hưng tá
Thánh thế năng dung tích bệnh nhân
Vị tử gian nan sầu bạch phát
Tử sinh lăo tán ái thanh san
Cố viên nhẫn sự hoàng hoa ước
Nguyện phóng Uyên Minh tam kính hoàn.

 

dịch là

Mới Tới Cửa Biển Đà Nẵng
Kính Gửi Chư Vị Đương Sự

Ngước nh́n thành nội lệ giàn
Tuân lệnh vua tới cửa Hàn đêm qua
Trung hưng nào thiếu tài ba
Xin vua cho kẻ bệnh già về hưu
Tóc sương buồn cảnh xế chiều
Non xanh nước biếc là điều ước mơ
Hoa vàng chót lỡ hẹn ḥ
Uyên Minh ba luốn vườn xưa xin về.

 

Hai câu kết cho người đọc thơ thấy ước mong của Nguyễn Khuyến sóm được quay Vườn Bùi sống vui cảng điền viên như Đào Tiềm trước mười lăm thế kỷ.

Bài thứ hai là bài :

 

Họa Đáp Hoàng Tham Tri
Tặng Hồi Nguyên Vận28

Tái xuất hà tâm bác nhất quan
Thẩn lao nhị thụ tthập niên gian
Thiếiu Lăng ly loạn tần ngâm khổ
Bành Trạch Quy lai cửu ái nhàn
Lăo nhỡn kỷ hồi kinh kiến hải
Dư sinh thử nhật hảo hoàn san
Tế thời bằng quận quần công lực
Vô sự sài môn vĩnh tự quan.

dịch là

 

Họa Nguyên Vận Thơ Hoàng Tham Tri
Tặng Ngày Hồi Hưu

Lại ra lần nữa làm quan
Thân này hai bận mười năm đủ rồi
Ngâm thơ Đổ Phủ thương đời
Noi gương Bành Trạch yên vui cảnh vườn
Mắt già dâu biền ngại ngần
Sống thừa t́m chốn gửi thân yên ḷng
Giúp đời nhờ sức chư ông
Cửa sài đóng chặt nhưng mong bấy rầy.

 

Để có căn bản đối chiếu thơ Đào Tiềm và thơ Nguyễn Khuyến, trên mach thơ đi từ việc buông bỏ vật thể ngoại thân, từ quan về vườn rồi chuyển dần tới lẽ huyền, người đọc thơ xin chép lại đây bài văn vần nổi danh của Đào Tiềm:

 

歸 去 來 兮 詞
Quy Khứ Lai Hề Từ

歸 去 來 兮 田 園 將 蕪 胡 不 歸
Quy khú lai hề điền viên hoang vu hồ bất quy
既 自 以 心 形 惕 奚 惆 悵 而 獨 悲
Kí tự dĩ tâm vi h́nh dịch hề trù trưóng nhi độc bi
悟 已 往 之 不 諫 知 來 者 之 可 追
Ngộ dĩ văng chi bất gián tri lai giả chi khả truy
實 迷 途 其 未 遠 覺 今 是 而 胙 非
Thực mê dồ ḱ vị viễn giác kim thị nhi tạc phi
舟 搖 搖 以 輕 颺 風 飄 飄 而 吹 衣
5Chu dao dao dĩ khinh dưong phong phiêu phiêu nhi xuy y
問 征 夫 以 前 路 恨 晨 光 之 熹 微
Vấn chinh phu dĩ tiền lộ hận thần quang chi hi vi
乃 瞻 衡 宇 載 欣 載 奔
Năi chiêm hành vũ tái hân tái bôn
僮 僕 歡 迎 稚 子 候 門
Đồng bộc hoan nghênh trĩ tử hậu môn
三 徑 就 荒 松 匊 猶 存
Tam kính tựu hoang tùng cúc do tồn
攜 幼 入 室 有 酒 盈 撙
10Huề ấu nhập thất hữu tửu doanh tôn
引 壺 觴 以 自 酌 眄 庭 柯 以 怡 顏
Dẫn hồ thương dĩ tự chước miện đ́nh kha dĩ di nhan
倚 南 窗 以 寄 傲 審 容 膝
Ỷ nam song dị kí ngạo thẩm dong tất chi dị an
園 日 涉 以 成 趣 門 雖 設 而 常 關 
Viên nhật thiệp dĩ thành thú môn tuy thiét nhi thương quan
策 扶 老 以 流 憩 時 矯 首 而 遐 觀
Sách phù lăo dĩ lưu khế thời kỷ thủ nhi hà quan
雲 無 心 以 出 岫 鳥 倦 飛 而 知 還
15Vân vô tâm dĩ xuất tụ điểu quện phi nhi tri hoàn
景 翳 翳 以 將 入 撫 孤 松 而 盤 桓
Cảnh ế ế dĩ tương nhập phủ cô tùng nhi bàn hoàn
歸 去 來 兮 請 息 交 以 絕 游
Quy khứ lai hề Thỉnh tức giao dĩ tuyệt du
世 與 我 而 相 遺 復 駕 言 兮 焉 求
Thế dữ ngă nhi tương di phục giá ngôn hề yên cầu
悅 親 戚 之 情 話 樂 琴 書 以 消憂
Duyệt thân tích chi t́nh thoại lạc cầm thư dĩ tiêu ưu
農 人 告 余 以 春 及 將 有 事 於 西 疇
20Nông nhân cáo dư dĩ xuân cậptương hữ sư ư tây trù
或 命 巾 車 或 棹 孤 舟
Hoặc mệnh cân xa hoặc trạo cân chu
既 窈 以 尋 壑 亦 崎 嶇 而 輕 邱
Ki yểu điệu dĩ tầm hác diệc ḱ khu nhi kinh khưu
木 欣 欣 以 向 榮 泉 涓 涓 而 始 流
Mộc hân hân dĩ hướng vinh tuyền quyên quyênnhi thủy lưu
羨 萬 物 之 得 時 感 吾 生 之 行 休
Tiện vạn vật chi đắc thời cảm ngô sinh chi hành hưu
已 矣 乎
25Dĩ hĩ hồ
寓 形 宇 內 復 幾 時 曷 不 委 心 任 去 留
Ngụ h́nh vũ nội phục kỷ th́ hạt bất ủy tâm nhiệm khứ lưu
胡 為 遑 遑 欲 何 之
Hồ vi hoàng hoàng dục hà chi
富 貴 非 吾 願 帝 鄉 不 可 期
Phú quư phi ngô nguyện đế hương bất khả kỳ
懷 良 辰 以 孤 往 或 植 杖 而 耘 耔
Hoài lương thần dĩ cô văng hoặc thực trượng nhi vân ti
登 東 皋 以 舒 嘯 臨 清 流 而 賦 詩
Đang đông cao dĩ thư khiếu lâm thamh lư nhi phú thi
聊 乘 化 以 歸 盡 樂 夫 天 命 復 奚 疑
30Liêu thừa hóa dĩ qui tận lạc phù thiên mệnh phục hề nghi.

 

dịch là

Bài Từ Trở Về

Về đi sao chẳng về đi
Ruộng hoang đồng cỏ đợi chi chưa về
H́nh này bó buộc thân kia
Biết ai than thở vợi chia nỗi sầu
Việc qua chuộc lại được nào
Từ nay riêng chuyện mai sau lo lường
Lạc chưa xa dẫu lầm đường
Khôn nay nghĩ lại thẹn thùng dại xưa
Con đ̣ thuận gió nhẹ đưa
Áo bay lờ lững chèo khua lững lờ
Hỏi thăm đường lối bạn đ̣
Giận trời chậm sáng mới mờ rạng đông
Mái quê thanh bạch xa trông
Bước chân rảo bước sớm mong đến nhà
Tiểu đồng đón chủ chạy ra
Lũ con bên cổng mừng cha đă về
Hoang vu ba luống nảo nề
Cúc tùng mới đó bộn bề khác xưa
Bước vào tay giắt con thơ
Rượu ṿ cơm bữa đơn sơ sẵn sàng
Chuốc ḿnh nghiêng chén uống tràn
Ngắm hàng cây cảnh hân hoan mỉm cười
Song nam ngối dựa thảnh thơi
Duỗi chân đủ chỗ duyên trời khéo may
Thăm vườn thành thú ngày ngày
Cổng ngoài lấp kín then cài kín bưng
Dạo quanh gậy chống bước ngừng
Chân trời xa thẳm mịt mùng vời trông
Đầu non mây tỏa bềnh bồng
Lối về đà mỏi cánh hồng nản bay
Bóng chiều bát ngát miệt tây
Gốc tùng đứng dựa phút rầy thảnh thơi
Chuyến này về thực về rồi
Lời chào nhắn gừi cùng người tới lui
Mùi đời chẳng hợp ngán mùi
Lẽ nào gắng gượng kịp lùi hóa hay
Xóm làng thân thuộc xum vầy
Vui cùng đèn sách tháng ngày rảnh thân
Bạn điền báo dịp đầu xuân
Luỗng Tây coi lúa đồng lần phiên ta
Xe mui vượt quăng đường xa
Băng sông cậy lá thuyền hoa thăm đồng
Trong veo khe uốn khúc ṿng
Bên đường g̣ chất đống chồng vây quanh
Mênh mông cỏ mượt cây xanh
Suối tuôn róc rách dập dềnh nước trôi
Đương mùa vạn vật xanh tươi
Riêng ta đà chút già rồi ngán thay
Đường đời đà tới khúc này
C̣n bao năm tháng nữa đây mà chờ
Ở về sao măi lững lờ
C̣n chi suy nghĩ vẩn vơ nhọc ḷng
Lợi danh chẳng đợi chẳng mong
Cung tiên xa thẳm cũng không có màng
Ước mong được buổi rảnh rang
Nghỉ tay vun xới chiều vàng dạo chơi
Lên cao thở mạnh một hơi
Bên khe thi tứ đầy vơi dạt dào
H́nh hài phó mặc trời cao
Thuận theo con tạo vui nào vui hơn.

 

Bài từ trên đây dường là nguồn hứng của Nguyễn Khuyến sáng tác bài  hát nói

 

Trở Về Vườn Cũ

Vườn Bùi chốn cũ
Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây
Trông ngoài sân dua nở mấy chồi cây
Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế
Bành Trạch cầm xoang ngâm trước ghế
Ôn Công rượu nhạt chuốc chiều xuân
Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khăn
Tính thương hải tang điền qua mấy lớp
Người chớ giận Lỗ hầu chẳng găp
Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi
Muốn về sao chẳng về đi.

 

Bài hát nói trên đây tương ứng với bài từ Việt Âm:

 

裴 園 舊 宅 歌
Bùi Viên Cựu Trạch Ca

裴 園 吾 舊 宅
Bùi viên ngô cựu trạch
四 十 年 今 日 賦 歸 來
Tứ thập niên kim nhật phú quy lai
松 松 菊 菊 梅 梅 
Tùng tùng cúc cúc mai mai
膘 然 有 丘 壑 林 泉 之 逸 趣
Phiêu nhiên hũu khâu hác lâm tuyền chi dật thú
彭 澤 素 琴 吟 舊 句
Bành Trạch tố cầm ngâm cựu cú
溫 公 樽 酒 樂 餘 春
Ôn Công tôn tửu lạc dư xuân
東 風 回 首 淚 沾 巾
Đông phong hồi thủ lệ triêm cân
渺 茫 際 滄 海 桑 田 經 幾 度
Diểu mang tế thương hải tang điền kinh kỉ độ
君 莫 嘆 魯 侯 之 不 遇
Quân mặc thán Lỗ hầu chi bất ngộ
鬅 鬆 白 髮 復 何 為
Bằng tông bạch phát phục hà vi
歸 去 來 兮 胡 不 歸
Quy khứ lai hề hồ bất quy.

 

Điểm đặc sắc của Bài Bùi Viên Cựu Trạch Ca là nhịp điệu hát nói của bài thơ Việt Âm. Đó cũng là điểm đặc biệt để ǵới nghiên cứu âm nhạc trong thi ca đào sâu .

Cảnh Đào Tiềm diễn tả  trong bài Quy Khứ Lai Hề Từ là cảnh thơ ngày ông từ quan trở về Lật Lư. Đó cũng là cảnh thơ Nguyễn Khuyến ghi lại trong bài Trở Về Vườn Cũ ngày ông từ quan trở về Vườn Bùi. Ngày đó Đào Tiềm mới ngoài bốn mươi và Nguyễn Khuyến ngoài sáu mươi. T́nh thơ hai người có nhiều điểm tương đồng. Trong bốn câu đầu bài Quy Khứ Lai Hề Từ, Đào Tiềm tự nhủ với ḿnh là phải quên truyện mà ông tự coi là lầm đường để nh́n về tương lai. Câu truyện đó phải chăng là truyện ông đă ra làm quan? Hai câu đầu bài Trở vể Vườn Bùi Nguyễn Khuyến cho hay ông là nay ông đă già mới được  trở lại chốn cũ sau bốn mươi năm xa cách.

 

 

 


 


[25] A.R Davis, T’ao Yun Ming, his works and their Meaning, II, Cambridge University Press, Cambridge, 1983, p 187-188.
[26] Paul Jacob, Tao Yuan Ming, Oeuvres Complètes, Gallimard, Paris 1990 p. 60.
[27] Chưa t́m được bản chữ nho
[28] Chưa t́m được bản chữ nho
[29] Chưa t́m được bản chữ nho
[30] Chưa t́m được bản chữ nho
[31] Đào Uyên Minh Thi Tuyển, sách đă dẫn, tr. 60.
[32] Luận Ngữ, dịch giả Lê Phục Thiện, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1992, tr. 667.
[33] Paul Jacob, Tao Ying Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn, tr. 22.
[34] Lăo Tử Đạo Đúc Kinh, bản dịch của Nghiêm Toản, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 387-396.
[35] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần,, tr. 174-175
[36] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, tr. 236.
[37] James R.Ware, The Saying of Chuang Chou, Confucius Publishing Co. Đài Bắc Trung Hoa Dân Quốc năm 69, p.239. Câu này cũng chép trong sách Lễ Kư, quyền 17, tr. 9b-10s.
[38] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương Tống, sách đă dẫn, tr. 314.
[39] Với chữ đạm này, triết gia Francois Julien đă viết thành cảo luận Eloge de la Fadeur, Gallimard, Paris 1997..
[40] Theo sách Hậu hán Thư, vợ Nhu Trọng khuyên chồng trong cảnh từ quan ẩn dật chớ nên buồn v́ con ḿnh chẳng được bằng con người khác
[41] Hai lăo Trong, tên là Cầu Trọng  và Dương Trọng hai ẩn sĩ thường được nhắc nhờ  tới trong thơ văn cổ
[42] Sách Liệt Nữ Truyện chép sự tích vợ Lăo Lai là người khuyên chồng là lăo Lai không ra làm quan với vua nhà Chu.
[43] Quản Trọng và Bảo Thúc là gương sáng cho t́nh bạn trong sử Trung Quốc.Bảo Thúc chăm lo cho Quản Trọng suốt đời khiến Quản Trọng phải thốt thành lời: “Sinh ra ta là cha mẹ ta nhưng hiểu ta là Bảo Thúc”.
[44] Quy Sinh và Ngũ Cử là truyện cổ Trung Quốc chép trong sách Tả Truyện làm gương cho t́nh bạn không đổi từ lúc hàn vi cho tới khi vinh hiển .
[45] Paul Jacob, Tao Yuan Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn, p. 68.
[46] Nguyện Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, NXB Trẻ, Saigon tái bản, 1991, tr.368-369.
[47] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Xuân Thu tái bản, tại Hoa Kỳ, tr. 270.
[48] Trần lê Sáng, Phùng Khắc Khoan, Cuộc Đời và Thơ Văn, nhà xuất bản Hà Nội 1985, tr.48-49.
[49] Thiếu một vài chữ trong máy tính dể chép bản chũ nho.
[50] Đường Thi Tam Bách Thủ,  sách đă dẫn,
 tr. 244

 

 

 

Xem Kỳ 6

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com