www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 3:

III


Cái Chết

 

 

Cái chết dường là một câu hỏi làm con người lo sợ nhất. Câu hỏi đó dường như là câu hỏi chính đặt giữa những thắc mắc của con người về lẽ huyền. Cái chết mang lại cho con người cái ǵ? Ư nghĩa của cái chết là ǵ? Ba câu hỏi đó đă được nhiều nhà triết học tây phương nghiên cứu, nhưng dường như là chưa có ai có câu trả lời xác đáng.

Trong sách Nam Hoa Kinh, Trang Tử, chương Chí Lạc, theo bút pháp đặc biệt của ông, cũng đă từng nhiều phen trả lời những câu hỏi này. Tiêu biểu là đoạn sau đây[11]:

 

Thầy Trang sang Sở, thấy cái đầu lâu không, có h́nh trọc lốc, xâu bắng chiếc roi ngựa, nhân mà hỏi rằng :

- Kia ngươi tham sống mất lẽ, mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi có truyện mất nước; có tội ŕu búa mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi có nết chẳng hay, thẹn nỗi để xấu cho cha mẹ vợ con, mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi chrết đói chết rét mà dến nỗi này chăng? Hay v́ xuân thu ngươi đă đáng thế này chăng?

Nói thế rồi gối chiếc đầu lâu mà ngủ. Nửa đêm đầu lâu hiện lên trong chiêm bao mà rằng:

- Lời ngươi nói giống như kẻ biện sĩ. Phàm những truyện ngươi nói đều là lụy cho đời người. chết th́ không có nhưng cái ấy. Ngươi muốn nghe thuyết chết chăng?

Thầy Trang đáp :

- Phài!

Đầu lâu nói:

- Chết th́ không có vua ở trên, không có tôi ở dưới. Cũng không có truyện bốn mùa. Theo đó lấy Trời Đất làm Xuân Thu. Dù cái sướng của kẻ nghảng mặt sang Nam mà làm vua cũng không thể hơn được

Thầy Trang không tin hỏi

- Tôi sai thần Tư Mệnh làm sống h́nh ngươi; cho ngươi nẩy ra  xương thịt, de dẻ; trả lại cha mẹ vợ con, làng xóm, kẻ quen biết cho ngươi. Ngươi muốn thế chăng?

Đầu lâu nhăn mặt nhăn trán mà rằng:

Tôi sao có thể bỏ cái sung sướng của ông vua quay mặt về phương Nam, mà lại chịu cái khó nhọc ở nhân gian?

Tiêu biểu cho con người buông bỏ cái có, dựng như không có h́nh ảnh nào tượng trưng rơ rệt hơn chiếc đầu lâu. Chiếc đầu lâu rỗng, không những không c̣n ǵ  là cái có ngoại lai mà cái có nội thân, như bộ năo cũng đă chút bỏ. Câu chuyện của Trang Tử trao đổi với cái đầu lâu trên đây, cho thấy dương như khi chút bỏ cái có đến như h́nh ảnh cái đầu lâu, th́ con người đă đồng nhất được vói cái diệu huyền, hay nói vắn tắt theo ngôn từ Đạo Lăo là con người đă huyền đồng. Trang Tử không cho biết là cơi diệu huyền này như thế nào. Nhưng cái đầu lâu th́ cho ḿnh sung sướng như ông vua, không phải một ông vua bận bịu v́ việc trị nước dẹp loạn, mà một ông vua ngảnh mặt về Nam, ông vua thủa nước nhà thanh b́nh. Trong cảnh đó, cái đầu lâu khước từ không nhận lại những cái có: cha mẹ vợ con làng xóm. Lời khước từ này tương tự như lời Thằng Bờm khước từ ba ḅ chín trâu, ao sau cá mè cùng bè gỗ lim và con chim đồi mồi mà mỉm cười với nắm sôi. Lời khước từ của cái đầu lâu c̣n cho thấy h́nh ảnh của ḍng nước mắt nàng Lệ Cơ sau khi biết mùi sô hoạn bên vua nước Tấn, để hiểu ra tại sao con người trong cơi chết c̣n hối tiếc là đă mong sống dài hơn trên trần thế. Tóm lại Trang Tử cho người đọc thấy là cơi chết không có ǵ đáng sợ, mà dương như Trang Tử muốn cho người đọc thấy là trong cơi chết có thể có lắm điều hấp dẫn.

Phải chăng v́ vậy, trong những bài thơ Nguyễn Khuyến viết về cái chết, trên ba ngả:

.   cái chết của người,
.   cái chết của ta, và
.   cái chết của người thân của ta

người đọc thơ đều không gặp những h́nh ảnh đáng ghê sợ?

Tiêu biểu cho ư thơ về cái chết của người, Nguyễn Khuyến có hai bài. Một là bài :

 

春 夜 憐 蛾
Xuân Dạ Liên Nga

羨 爾 纖 纖 一 羽 翰 
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn
投 明 而 死 死 而 安
Đầu minh nhi tử tử nhi an
若 為 倘 猝 臨 宜 
Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị
到 得 逡 巡 辯 亦 難
Đáo đắc thoan tuần biện diệc nan
素 賦 知 能 猶 未 泯
Tố phú tri năng do vị dẫn
當 前 名 利 不 相 關
Đương tiền danh lợi bất tương quan
孤 燈 殺 爾 猶 憐 爾
Cô đăng sát nhĩ do liên nhĩ
到 得 成 灰 淚 未 乾
Đáo đắc thành hôi lệ vị can.

 

dịch là

 

Đêm Xuân Thương Con Thiêu Thân

Khen mi đôi cánh nhỏ nhoi
Chết nơi lửa sáng chết rồi yên thân
Phải đâu thảng thốt liều thân
Mà là thấy chết gian truân chẳng sờn
Lương năng trời phú vẹn tṛn
Không màng danh lợi nay c̣n mấy ai
Lao vào lửa thương cho mày
Xác thành tro bụi khốn thay lệ trào.

 

Hai là bài:

 

悼 落 蠅

Điệu Lạc Dang 

睡 起 窗 開 酒 半 傾
Thụy khởi song khai tửu bán khuynh
青 蠅 何 事 又 營 營
Thanh dăng hà sự hựu doanh doanh
所 求 一 粒 能 充 腹
Sở cầu nhất lạo năng sung phúc
何 必 如 簧 柞 巧 聲
Hà tất như hoàng tác xảo thanh
憐 爾 祗 堪 倚 樊 棘
Liên nhĩ chỉ kham ỷ phàn cước
欺 人 不 覺 落 藜 羹
Khi nhân bất giác lạc lê canh
天 工 生 化 真 多 事
Thiên công sinh hoá chân đa sự
避 暑 驅 氛 意 未 平
Tị thử khu phân ư vị b́nh.

 

dịch là

 

Thương Con Nhặng

Tỉnh ra rựơu cạn nửa be
Nhặng xanh đâu đến vo ve bên ḿnh
Cơm rơi nửa hạt bụng ph́nh
Mà sao bắng nhắng sáo sinh chẳng ngừng
Kiếp mi bờ bụi đáng thương
Khinh người ch́m bát canh xuông đáng đời
Đặt bày sinh hóa thợ trời
Kẻ đi tránh nắng v́ ngươi bực ḿnh.

 

Riêng với bài Đêm Xuân Thương Con Thiêu Thân, có thời người ta cho rằng tác giả làm bài thơ này khi nghe tin ông nghè Giao Cù, tức Vũ Huy Lợi, người làng Giao Cù, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, chủ mưu đánh chiếm tỉnh Nam Định. Việc không thành, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt và xử chém.

Ngày nay, đọc hai bài thơ trên đây, Nguyễn Khuyến làn lượt thương con thiêu thân chết thiêu trong lửa đèn, và thương con nhặng xanh chết ch́m trong bát canh, người đọc tự hỏi phải chăng hai bài thơ này nối dài ḍng thơ từ bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trăi qua bài Hành Lạc Từ của Nguyễn Du? H́nh ảnh con thiêu thân lao vào lửa đèn đâu có khác h́nh ảnh Ba Di Thúc Tề chê thóc nhà Chu chết đói trên núi Thú Dương và h́nh ảnh con nhặng chết trong bát canh gợi lên h́nh ảnh của Đạo Chích chết v́ tham lợi trên g̣ Đông Lăng. Lấy h́nh ảnh con thiêu thân thay thề h́nh ảnh Bá Di và Thúc Tề và h́nh ảnh con nhặng xanh thay thế h́nh ảnh Chích Cược phải chăng là biệt tài dùng h́nh ảnh thực tế để thay thế điển cố, đưa thơ nôm ra khỏi vùng ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, và vẫn giữ được ư chính tiêu biểu cho việc buông danh bỏ lợi? Điều đáng ghi nhận khác là nếu Nguyễn Khuyến viết hai bài thơ trên đây trước khi từ quan th́ phải chăngNguyễn Khuyến dùng hai cái chết đáng thương của con thiêu thân và con nhặng xanh để tự nhủ ḿnh buông danh bỏ lợi, khi Nguyễn Khuyến đối mặt với truyện từ quan về vườn Bùi?

H́nh ảnh cái chết của người trong thơ Nguyễn Khuyến c̣n đọc thấy trong bài:

 

己 丑 九 月 連 夜 風 雨
Kỷ Sửu Cử Nguyệt Liên Dạ Phong Vũ
獨 坐 無 聊
Độc Tọa Vô Liêu
引 滿 不 止 又 聞 同 邑 
Dẫn Măn Bất Chỉ Hựu Văn Đồng Ấp
一 老 徂 落
Nhất Lăo Tồ Lạc
因 感 作 云
Nhân Cảm Tác Vân

江 山 風 雨 近 重 陽
Giang sơn phong vũ cận trùng dương
貧 病 歸 來 酒 後 狂
Bần bệnh quy lai tửu hậu cuồng
聞 道 西 鄰 亡 一 老
Văn đạo tây lân vong nhất lăo
不 知 此 去 是 何 鄉
Bất tri thử khứ thị hà hương
死 生 尻 脊 真 閒 事
Tử sinh khào tích chân nhàn sự
號 泣 笙 簫 枉 斷 腸
Hào khấp sinh tiêu uổng đoạn trường
醉 矣 添 杯 又 添 醉
Túy hĩ thiêm bôi hựu thiêm túy
憑 窗 仰 面 看 蒼 蒼
Bằng song ngưởng diện khán thương thương.

 

dịch là

 

Năm Kỷ Sửu, Tháng Chín, Mưa 
Gió Mấy Đêm Liền
Một Ḿnh Ngồi Buồn, Rượu 
Uống Không Ngừng Lại Nghe Tin 
Ông Già Trong Làng Mới Mất 
Cảm Xúc Làm Thơ

 

Trùng dương mưa gió xạc xào
Hưu quan nghèo bệnh rượu vào thơ ra
Xóm Tây có đám ông già
Chuyến này chẳng biết ông qua quê nào
Xương cùng xương sống lạ đâu
Khóc than kèn sáo thêm đau đớn ḷng
Say rồi uống nữa say cuồng
Bầu trời u ám ngoài song ngẩng nh́n.

Tiết trùng dương nhằm ngày 9 tháng 9, khi xưa là ngày các cụ họp bạn uống rượu ngâm thơ, nhưng năm kỷ sửu (1889) này sắp tới lễ Trung Dương th́ trời mưa to gió lớn, Nguyễn Khuyến, đă về hưu, lại thêm bệnh tật, uống rượu làm thơ một ḿnh. Trong cảnh cô đơn đó, người thơ nghe thấy tiếng kèn đám ma một ông già bên xóm tây. Cái chết của ông lăo này khiến Nguyễn Khuyến xúc động tự hỏi  chuyến này ông lăo qua quê hương nào?  Câu hỏi này dẫn ngựi đọc thơ về chương Đại Tông Sư sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử[12]:

Thầy Tang Hộ, thầy Mạnh Tử Phan, thầy Cầm Trương [...] làm bạn với nhau. [...] Rối thầng Tang Hộ chết ... [Hai người bạn] kẻ sắp khúc, kẻ gẩy đàn họa nhau mà hát: “Này anh Tanh Hộ ơi! Này anh Tang Hộ ơi! Anh đă trở lại đời thật của anh rồi.”

Trong câu kế tiếp, chữ khào nghĩa là xương cùng, tích là xương sống lại dẫn người đọc về chương Đại Tông Sư sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử [13]

Tử Tự, Tử Dư, Tử Lê, Tử Lai, bốn người nói với nhau rằng: “Ai biết lấy cái không làm đầu, lấy cái sống làm xương sống, lấy cái chết làm xương cùng; ai biết được lẽ sống chết c̣n mất chỉ là một thể, chúng ta sẽ cùng người ấy làm bạn.” Bốn người nh́n nhau cười, không ai thấy nghịch trong ḷng, đoạn cùng nhau làm bạn.

Phải chăng, như qua lời Trang Tử,  việc sống chết chỉ là lẽ thường, ông lăo xóm tây phen này, biết đâu chẳng như thầy Tang Hộ, về quê thực của ông. Kèn trống khóc than chỉ làm đau ḷng người sống, riêng người thơ tiếp tục uống thêm rượu, đă say say thêm, ngửa mặt nh́n trời u ám một mầu?

 

H́nh ảnh cái chết của chính ḿnh tới với Nguyễn Khuyến qua hai thơ dưới dây. Môt là bài:

 

Đề Ảnh 14

Ngô nhiễn ngô diện b́
Ngô tâm ngô phất trị
Nhật nguyệt tu thiêm bạch
Phong trần sắc tiệm tuy
Bách bôi h́nh tặng ảnh
Thiên tả ngă vị tùy
Ngưởng phủ phất hà tưởng
Yên ba vô tạn kỳ.

 

dịch là

 

Đề Ảnh

Nh́n ngoài chỉ thấy da ta
Ḷng ta th́ đến chính ta chẳng tường
Tháng ngày râu tóc điểm sương
Xạm đen gió bụi dặm trường mầu da
Nh́n h́nh trăm chén chuốc ta
Ngàn sau chẳng biết ta là ai đây
Trông lên nh́n xuống cao dầy
Tân kỳ sóng nước khói mây mịt mùng.

 

Hai là bài:

 

 

Bài Muộn

II
五 十 衰 翁 白 髮 新
Ngũ thập suy ông bạch phát tân
不 堪 憂 病 且 憂 貧
Bất kham ưu bệnh thă ưu bần
花 軒 月 影 知 非 客
Hoa hiên nguyệt ảnh tri phi khách
竹 徑 風 聲 疑 有 人
Trúc kính thanh phong nghi hữu nhân
一 枕 黃 粱 真 亦 夢
Nhất chẩm hoang lương chân diệc mộng
千 年 去 鶴 我 何 身
Thiên niên khứ hạc ngă hà thân
坐 看 即 羨 扇 中 老
Tọa khan khước tiễn phiến trung lăo
倚 澍 啣 杯 不 計 春
Ỷ thụ hàm bôi bất kế xuân.

 

dịch là

Giải Buồn

I

Năm mươi già ốm tóc sương
Lo nghèo lo bệnh hết đương nổi rồi
Hiên trăng vắng bạn lẻ loi
Tre già kẽo kẹt ngỡ người tới thăm
Tỉnh mơ một giấc kê vàng
Ngàn năm thành hạc thân tàn hóa ai
Ngồi nh́n h́nh quạt trong tay
Lăo ông nâng chén dựa cây kệ đời.

 

H́nh ảnh cái chết len vào trong bài Đề Ảnh trong câu:

 

Thiên tả ngă hà vi:

 

nghĩa là:

 

Ngàn năm nữa ta là ai?

 

Và trong bài Giải Muộn II, qua câu :

 

Thiên niên khứ hạc ngă hà thân

 

Giới nghiên cứu giải thích câu này bắng điển sau đây :

 

Đinh Lệnh Uy đời Hán, tu tiên tại núi 
Linh Hư, sau hóa thành hạc bay về đất 
Lưu, lượn trên không mà đọc thơ.

 

Nguyễn Khuyến dường như không tin vào điều này nên, cũng như trong bài Đề Ảnh, ông tự hỏi, một ngàn năm nữa tấm thân của ông sẽ thành ai? Câu hỏi này khiến người dọc nhớ tới hai câu của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Kư, trong Thanh Hiên Thi Tập15

 

不 知 三 百 餘 年 後
Bất tri tam bách dư niên hậu
天 下 誰 人 泣 素 如
Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như

 

dịch là

Ba trăm năm lẻ về sau
Khóc Tố Như biết c̣n bao nhiêu người.

 

Người đọc tự hỏi phải chăng, cũng giống Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến qua hai bài thơ trên đây, dưong như c̣n chưa dứt khoát với chính ḿnh trong ba chữ thân hậu danh?

Sửa soạn đợi cái chết của chính ḿnh, Nguyễn Khuyến để lại cho hậu thề bài:

 

遺 囑 文 
Di Chúc Văn

我 年 值 八 八
Ngă niên trị bát bát
我 數 逢 九 九
Ngă số phùng cửu cửu
嗟 哉 我 德 涼
Ta tai ngă đức lương
壽 紀 邁 先 考
Thọ kỷ mại tiên khảo
嗟 哉 我 學 淺
Ta tai ngă học thiẻn
魁 然 占 龍 首
Khôi nhiên chiếm long thủ
豈 非 先 考 齡
Khởi phi tiên khảo linh
留 以 錫 爾 父
Lưu dĩ tích nhĩ phụ
豈 非 先 考 名
Khởi phi tiên khảo danh
不 做 以 留 後
Bất tố dĩ lưu hậu
平 日 無 寸 功
B́nh nhật vô thốn công
俯 仰 已 慚 負
Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ
足 矣 亦 何 求
Túc hỷ diệc hà cầu
死 葬 勿 淹 久
Tử táng vật yêm cửu
死 幸 得 全 歸
Tử hạnh đắc toàn quy
葬 幸 得 親 附
Táng hạnh đắc thân phụ
棺 衾 不 可 美
Quan khâm bất khả mỹ
只 以 斂 足 手
Chỉ dĩ liễm thủ túc
具 饌 不 可 豊
Cụ soạn bất khả phong
只 以 答 奔 走
Chỉ dĩ đáp bôn tẩu
不 可 寫 祝 文
Bất khả tả chúc văn
不 可 為 對 句
Bất khả vi đối cú
不 可 設 銘 旌
Bất khả thiết minh tinh
不 可 題 神 主
Bất khả đề thần chủ
不 可 達 門 生
Bất khả đạt môn sinh
不 可 訃 僚 友
Bất khả phó liêu hữu
賓 客 不 可 招
Tân khách bất khả chiêu
賵 吊 不 可 受
Phúng điếu bất khả thụ
此 皆 纍 於 生
Thử giai lụy ư sinh
死 者 亦 奚 有
Tử giả diệc hề hữu
惟 以 重 吾 過
Duy dĩ trọng ngô quá
囂 然 眾 多 口
Hiêu nhiên chúng đa khẩu
惟 於 葬 之 日
Duy ư táng chi nhật
旗 扁 導 前 柩
Kỳ biển đạo tiền cữu
竽 工 八 九 人
Vu công bát cửu nhân
吹 送 列 左 右
Xuy tống liệt tả hửu
草 草 死 葬 完
Thảo thảo tử táng hoàn
酹 我 以 杯 酒
Lỗi ngă dĩ bôi tửu
爰 題 某 石 碑
Viên đề mộ thạch bi
皇 阮 故 休 叟
Hoàng Nguyễn cố hư tẩu.

 

Tác giả tự dịch là:

 

Di Chúc

Kém hai tuổi xuân đầy chín chục
Số sinh ra gặp lúc dương cùng
Đức thày đă mỏng mỏng mong
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy
5Học chẳng có rằng hay chi cả
Cưỡi đầu ngưởi kể đă ba phen
Tuổi là tuổi của gia tiên
Cho nên thày được hưởng niên lâu dày
Ấy thủa trước ông mày chưa đỗ
10Hoá bây giờ để bố làm xong
Ơn vua chửa chút đền công
Cúi trông thẹn đất ngửa trông thẹn trời
Sống được tiếng trên đời trọn vẹn
Chết được về quê quán hương thôn
15Mới hay trăm sự vuông tṛn
Sống lâu đă trải chết chôn chờ ǵ
Đồ khâm liệm chớ nề xấu tốt
Kín chân tay đầu gót th́ thôi
Cỗ đừng to lắm con ơi
20Hễ ai chạy lại khuyên mời người ăn
Tế đừng có viết văn mà đọc
Đối trướng đùng gấm vóc làm chi
Minh tinh con cũng bỏ đi
Mời quan đề chủ con th́ chớ nên
25Môn sinh chẳng tống tiền đạt giấy
Bạn của thầy cũng vậy mà thôi
Khách quen chớ viết thiếp mời
Ai đưa phúng điếu con thời chớ thu
Chẳng qua nợ để cho người sống
30Chết đi rồi c̣n ngóng vào đâu
Lại mang cái tiếng to đầu
Khi nay bày biện khi sau chê bàn
Cờ biển của vua ban ngày trước
Khi đưa thầy con rước đầu tiên
35Lại thuê một lũ phường kèn
Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng
Việc tống táng nhung nhăng qua quít
Cúng cho thầy một it rượu hoa
Đề vào mấy chữ trong bia
40Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu.

 

Viết bài Di Chúc trên đây, dường như Nguyễn Khuyến đă nh́n thẳng vào cái chết của chính ḿnh. Về vấn đề này, Gabriel Marcel viết 16:

 

Lorsque je tente de prendre conscience de ma situation d’existant et que je la considère par rapport à ce que j’appelle mon avenir, je constate que seul apparait indubitable cette proposition : je mourrai sans que je puisse le moindre du monde me prononcer sur les conditions d’espace et de temps qui seront celles de ma mort.

 

Cái chết chắc chắn sẽ đến với mọi người trong tất cả chúng ta, nhưng chúng ta không một ai có mảy may kinh nghiệm về cái chết. Trên thực tế,  theo Gabriel Marcel, cái chết đặt con người vào giữa ḷng lẽ diệu huyền. Tại đó mỗi người chúng ta đều được tự do hành xử để cái chết sắp tới của ḿnh có ư nghĩa theo sự chọn lựa của ḿnh trong suốt cuộc sống. Trong cuốn En Chemin Vers Quel Éveil17 ,Gabriel Marcel, khi đó đă 84 tuổi, sáu tuần lễ trưóc khi từ trần, đưa ra nhận xét rằng người cao tuổi, đă hoàn tất được sự nghiệp, đă tự cho là ḿnh chu toàn được mọi bổn phận, đă t́m ra cho ḿnh được ư nghĩa của đời sống, thời dễ dàng chấp nhận cái chết hơn nhưng kẻ chưa thành đạt, hay kẻ có một cuộc sống khó khăn đầy rẫy thất bại.

 

Trở lại bài Di Chúc, trong chín câu đầu Nguyễn Khuyến nói với đàn con về những điều may mắn của đời ông, trước ngưỡng cửa cái chết : đức mỏng mà lại hưởng tuổi thọ hơn cha, học không hơn ai mà thi đỗ đầu ba lần, tuổi thọ lả do cha ông để lại cho ông, và đỗ cao để hoàn thành mộng thi cử của cha ông.

 

Truyện ông được hưởng tuổi thọ của cha chép trong gia phả, chi thứ ḍng họ Nguyễn ở Vị Dạ là khi ông c̣n nhỏ ốm nặng, cha ông nguyện được chết thay con, sau đó ông lành bệnh và năm ông 18 tuổi th́ cha ông từ trần. Truyện này Nguyễn Khuyến ghi lại trong hai câu mở đầu bài Cận Thuật :

 

Ngô bệnh ngô thân đại tích linh
Hất kim tứ thập tứ niên linh

 

dịch là

 

Ta đau cha nguyện chết thay<
Bốn bốn năm lẻ tới nay xa vời

 

Tiếp theo, Nguyễn Khuyến viết hai câu :

 

Cánh vô thực học t́ suy thế
Thặng hữu hư danh quán đại đ́nh

 

dịch là

 

Vô tài thực học giúp đời
Đỗ đầu đ́nh hội đè người hư danh:

 

Hai câu này phải chăng chứng tỏ là Nguyễn Khuyến coi nhẹ việc thi cử thành đạt của ông : việc ông đi học đi thi đỗ đạt chỉ để đáp đền ơn cha ông

 

Ấy thủa truớc ông mày chưa dỡ
Hoá bây giờ để bố làm xong

 

Nguyễn Khuyến hài ḷng với ḿnh v́ việc báo hiếu này, rối ông c̣n thỏa măn là được về quê quán di dưỡng tuổi già, thế nên lúc này, đối mặt với cái chết, ông b́nh thản viết:

Sống lâu đă trải chết chôn chờ ǵ?

 

Tiếp theo, ông dăn ḍ con về việc làm đám tăng : đồ khâm liệm không cần tốt xấu, cỗ bàn không cần hậu hĩ linh đ́nh. Rồi tới tám điều không được làm: không viết văn tế, không làm câu đối, không đặt minh tinh, không đề thần chủ, không mời học tṛ, không cáo phó với bè bạn, không mời khách khúa, không nhận phúng viếng. Rồi Nguyễn Khuyến dặn con ngày đám rước cờ biển vua ban đi trước, có phường bát âm đi hai bên quan tài đưa tiễn. Những điều dặn ḍ này khiến người đọc nghĩ rằng Nguyễn Khuyến muốn buông bỏ những điều ông đă làm trong cuộc đời làm quan làm thầy của ông. Đặc biệt là khi chôn cất xong ông dặn con tưới lên mộ ông một chén rượu trắng, phải chăng ông c̣n muốn giữ h́nh ảnh ông say của ông. Và trên bia ghi vắn tắt :

Quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu. phải chăng v́ việc ông sớm xin về hưu là một việc ông tự cho là đắc ư nhất trong đời ông? Phải chăng đó là điều mà ông đă làm được để thực hiện câu của Trang Tử18:

 

khéo nuôi cái sống của ta là khéo liệu cái chết của ta

 

Tóm lại, qua bài Di Chúc trên đây, Người đọc đă thấy Nguyễn Khuyến b́nh tĩnh nh́n vào cái chết của ḿnh, thu xếp việc cuối cùng cũa đời ḿnh và thản nhiên đi về quê thật của ông.

 

 

 


 

[11]Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 284-285.
[12] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 133-134
[13] TrangTử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 131.
[14] Chưa tim được bản chữ nho.
[15] Mai Mộng Liên, Nguyễn Du Toàn Tập, sách đă dẫn tr. 185 :
[16] Gabriel Marcel, Etre et Avoir, vol.1: Journal Métaphysique (1928-1933),Gallimard, Paris 1927 p. 171-172
[17] Gabriel Marcel, En Chemin vers quel éveil, Gallimard, Paris 1971, p.160
[18] Trang Tử Nam Hoa Kinh, chương Đại Tông Sư,bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 128.
[19] Le Mythe de Sisyphe, Gallimard, Paris 1942, p. 16
[20] Le Mythe de Sisyphe, sách đă dẫn, p. 27.
[21] Gabriel Marcel, Journal métaphysique (1938-1943). Parus dans Présence et Immortalité, coll. Homo Sapien, Flamarion, Paris 1959, p.140.
[22] Cuốn Thi Văn Nguyễn Khuyến, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội 1971, tr. 425 ghi chú là chưa rơ tác giả khóc bà nào. Cuốn Thi Hào Nguyễn Khuyến Đời và Thơ do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, viện Văn Học Xuất bản năm 1994, trang 478, không cho biết xuất xứ và lư do, ghi là có lẽ tác giả khóc bà vợ thứ hai, tức là bà Nguyễn Thị Thục; Cuốn Nguyễn Khuyến, Tác Phẩm & Dư Luận, Tuấn Thành và Anh Vũ tuyển chọn, Nhà Xuất bản Văn Hoc, Hà Nội ,2002, tr. 206, cũng không cho biết xuất xứ cùng lư do, ghi là có lẽ tác giả khóc bà thứ hai.
[23] Chưa t́m được bản chữ nho
[24] Réné Davignon, Le Mal Chez Gabriel Marcel, sách đă dẫn, p.133

 

 

 

 

 

Xem Kỳ 4

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com