www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


Tư Duy Trong

Thơ NGUYỄN KHUYẾN
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 2:

II 
Cái Có

 

Cái có là vũ trụ của vật thể. Gabriel Marcel t́m ra là cái có gồm hai loại. Một là loại cái có ở ngoài thân thể con người, gọi cái có ngoại thân. Con người lấy cái có ngoại thân làm của tư hữu, tỷ như tiền của, danh giá, quyền thế. Nhưng cái có đó con người giành lấy cho ḿnh, xử dụng riêng cho ḿnh, nhưng cũng có thể bị kẻ khác tước đoạt mất. Cái có thứ hai là cái có tại thân, tỷ như kiến thức, đức hạnh, kinh nghiệm, mà không ai khác có thể đoạt của ta được. Nhưng tất cả nhưng cái có tại thânđó rồi cũng mất khi thân ta không c̣n.

Cái có ngoại thân cần thiết cho cái sống, nhưng từ Đông sang Tây, mọi tôn giáo cũng như nhiều triết gia nhiều nhà thơ thựng khuyên con người coi nhẹ cái có ngoại thân để trở về lẽ huyền. Tiêu biểu cho ḍng thơ này là bài sau đây của Nguyễn Trăi (1380-1442):

 

崑 山 歌
Côn Sơn Ca

崑 山 有 泉
Côn Sơn hữu tuyền
其 聲 冷 冷 然
Kỳ thanh lănh lănh nhiên
吾 以 為 琴弦
Ngô dĩ vi cẩm huyền
崑 山 石有 
Côn Sơn hữu thạch
雨 苔 洗 鋪 碧 
Vũ tẩy đài phô bích
吾 以 為 簞 席
Ngô dĩ vi đan tịch
崑 山 有 松
Côn sơn hữu tùng
萬 里 翠 童 童
Vạn lư thuư đồng đồng
吾 於 是 乎 偃 息 其 中
Ngô ư thị hồ yển tức kỳ trung
林 中 有 竹
Lâm Trung hữu trúc
千 畝 印 寒 綠
Thiên mẫu ấn hàn lục
吳 於 是 乎 吟 嘯 其 測 
Ngô ư thụ hồ ngâm khiếu kỳ trắc
問 君 何 不 歸 去 來
Vấn quân hà bất quy khứ lai
半 生 塵 土 是 膠 梏
Bán sinh trần thổ thị giao cốc 
萬 鐘 九 鼎 何 必 然
Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên
飲 水 飯 蔬 隨 分 足
Ẩm thuỷ phạn sơ tuỳ phân túc
君 不 見
Quân bất kiến
董 卓 黃 金 盈 一 塢
Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ
元 載 胡 椒 八 百 斛
Nguyên Tải hồ tiêu bát bách hộc
又 不 見
Hựu bất kiến
伯 夷 與 叔 齊
Bá Di dữ ThúcTề
首 陽 餓 死 不 食 粟
Thú Dương ngạ tử bất thực túc
賢 愚 兩 者 不 相 侔
Hiền ngu lương giả bất tương mâu
亦 各 自 求 其 所 欲
Diệc các tự cầu kỳ sở dục
人 生 百 歲 內
Nhân sinh bách tuế nội
畢 竟 同 草 木
Tất cánh đồng thảo mộc
歡 悲 憂 樂 迭 往 來
Hoan bi ư lạc dđệt văng lai
一 榮 一 謝 還 相 續
Nhất vinh nhất tạ hoàn tưong tục
丘 山 華 屋 亦 偶 然
Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên
死 後誰榮更 誰 縟
Tử hậu thuỳ vinh cánh thuỳ nhục
人 間 若 有 巢 由 徒
Nhạn gian nhược hữu Sào So dồ 
勸 渠 聽 我 山 中 曲
Khuyến cừ thính ngă sơn trung khúc.

 

dịch là

 

Côn Sơn Ca

Núi Hun có suối quanh co
Nước tuôn róc rách nhỏ to tiếng đàn
Núi Hun vách đá ngút ngàn
Thạch bàn mưa trải một làn rêu xanh
Dặm dài thông biếc đan cành
Vắt chân nằm khểnh bên ghềnh ngắm mây
Rừng sâu vạn mậu trúc gầy
Nghêu ngao ngâm vịnh với đầy ư tho
Nẻo về sao vẫn hững hờ
Nửa đời lấm bụi chần chờ chi đây
Đỉnh chung rũ sạch nà hay
Cơm rau nước lă qua ngày đử no
Ngươi chẳng thấy
Ngọc vàng Đổng Trác đầy kho
Họ Nguyên thừ tám trăm bồ hồ tiêu
Lại chẳng thấy
Di Tề nước mất nhà xiêu
Thú Dương bỏ thóc giữ điều đục trong
Hiền ngu dẫu chẳng chung đường
Chữ dục là muốn một tuồng như nhau
Cỏ cây người thế khác đâu
Trăm năm mục nát đất sâu chôn vùi
Đổi thay lo sướng buồn vui
Một ṿng một héo một tươi một mầu
G̣ hoang điện ngọc khác sao
Nhục vinh nhắm mắt ai nào hơn ai
Sào Do trần thế lũ bay
Ta mời cả bọn nghe bài Núi Hun.

 

Trong tám câu đầu của bài thơ, Nguyễn Trăi lấy tiếng suối Núi Hun làm đàn, lấy đá núi Hun làm chỗ ngả lưng, lấy rừng thông núi Hun làm vườn cảnh, lấy rừng trúc của núi Hun làm cảnh thơ. Nguyễn Trăi vào kho Trời chung, chọn vật thể làm thú vui riêng cho ông. Trong nguồn vui đó, Nguyễn Trăi thấy đỉnh chung  là những ǵ cần phải rũ sạch khỏi tay; bát cơm rau chén nước lă mới thực là cái cần thiết. Phải chăng đó là ư muốn về hưu đă tới với Nguyễn Trăi? Nguyễn Trăi nhớ tới Đổng Trác, một gian thần nhà Hán, nhớ tới Nguyên Tải, một nhân vật chưa biết đích xác là ai, nhưng chắc chắn là một người tích lũy nhiều của cải; rồi Nguyễn Trăi nhớ tới Bá Di và Thúc Tề. Dương Quảng Hàm chú thích về Bá Di và Thúc Tề như sau[6]:

Di, Tề: tức Bá Di và Thúc Tề, hai người con vua nước Cô Trúc đời nhà Ân bên Tàu. Khi cha sắp mất, dặn lập Thúc Tề. Cha mất rồi Thúc Tề nhường cho Bá Di. Bá Di nói: “Mệnh cha như vậy”, bèn trốn đi. Thúc Tề cũng không lên ngôi và trốn đi. Khi vua Chu Vương đánh nhà Ân, hai ông giữ cương ngựa cản lại; đến lúc Vũ Vương đánh thua nhà Ân, làm vua trong thiên hạ, hai ông lấy việc ăn thóc nhà Chu làm xấu hổ, đi lên núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, sau chết đói.

Nhưng người hiền hay kẻ ngu  đều có một điểm giống nhau. Đó là ḷng ham chuộng ngoại vật. Nhưng con người và cỏ cây này có khác ǵ nhau, dẫu từng sở hữu những cái có tại thân vẫn có thời buồn vui, như cây cỏ có thời tươi héo. Rốt cuộc, nhưng rồi con người chẳng khác ǵ cỏ cây cũng tan biến vào ḷng đất. Vậy thời điện ngọc khác ǵ g̣ hoang, nhục khác nào vinh. Kết luận, Nguyễn Trăi mời tất cả những ai c̣n muốn noi gương Sào Do, (hai người cao sĩ về đời vua Đường Nghiêu bên Tàu, mà vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho và đều không nhận) vào núi Hun nghe ông hát bài ca núi Hun.

Tiếp đó là bài từ của Nguyễn Du (1765-1820)

 

行 樂 詞
Hành Lạc Từ

俊 犬 黃 白 毛
Tuấn khuyển hoàng bạch mao
金 鈴 繫 秀 頸
Kim linh hệ tú cảnh
輕 衫 少 年 郎
Khinh sam thiếu niên lang
牽 向 南 山 嶺
Khiên hướng Nam sơn lĩnh
南 山 多 香 麋
Nam Sơn đa hương mi
血 肉 甘 且 肥
Huyết nhục cam thả ph́
金 刀 切 玉 饌
Kim đao sơ ngọc soạn
美 酒 累 百 卮
Mỹ tửu lũy bách chi
人 生 無 百 載 
Nhân sinh vô bách tải
行 樂 當 及 期
Hành lạc đương cấp kỳ
無 為 守 貧 賤
Vô vi thủ bần tiện
窮 年 不開眉
Cùng niên bất khai mi
夷 齊 無 大 名
Di Tề vô đại danh
蹠 蹻 無 大 名
Chíc Cược vô đại lơi
中 壽 只 八 十
Trung thọ chỉ bát thập
何 事 千 年 計
Hà sự thiên niên kế
有 犬 且 須 殺
Hữ u khuyển thả tu sát
有 酒 且 須 傾
Hữu tửu thả tu khuynh
眼 前 得 喪 已 難 認
Nhăn tiền đắc táng dĩ nan nhẫn
何 事 茫 茫 身 後 名
Hà sự mang mang thân hậu danh.

 

dịch là

 

Bài Ca Hành Lạc

Cầy tơ tốt khoáy tốt khoang
Cổ đeo một chiếc nhạc vàng thêm xinh
Chàng trai áo ngắn phong phanh
Núi Nam ngắm hướng tênh tênh bước về
Núi Nam có lắm nai quê
Tiết thơm thịt béo hả hê mọi đàng
Món ngon bát ngọc dao vàng
Rượu tăm trăm chén nào màng tỉnh say
Đời người trăm tuổi mấy ai
Kíp thời hành lạc kẻo mai xuân tàn
Giữ chi nếp sống nghèo nàn
Quanh năm quần quật làm ăn ngập đầu
Di Tề nào có danh cao
Lại coi Chích Cược có giầu hơn ai
Tám mươi tuổi đà sống dai
Ngàn năm tính chuyện đường dài uổng công
C̣n cầy c̣n miếng dồi ngon
C̣n be rượu trắng ta c̣n bữa say
Mất c̣n trước mắt nào hay
Ngàn năm danh lợi lăo đây cóc màng.

 

Trong bốn câu đầu bài hành, Nguyễn Du tạo nên hai h́nh ảnh, một chàng trai áo ngắn và một con cầy, lông trắng khoáy vàng, cả hai cùng đi về Núi Nam. Trong thơ cổ điển, chữ Núi Nam này biễu thị cho cái chết. Điều đáng chú ư là trong bốn câu tiếp, Nguyễn Du cho biết là tại Núi Nam này có nhiều hương mi, hay nôm na là cầy thơm, đễ làm những món ngon, có bát ngọc dao vàng, có rượu ngon ê hề. Điểm này dẫn người đọc thơ về với sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Sách, Nam Hoa Kinh,  chương Tề Vật Luận[7]:

Lệ Cơ, con của vị phong nhân xứ Ngại, gả cho vua nước Tấn. Khi về nhà chồng, lụy ướt dầm bâu. Kịp khi đến hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm mùi sô hoạn, rối lại hối hận giọt lệ ngày xưa. Ta biết đâu kẻ chết lại không hối hận v́ ḿnh đă mong được sống thêm.

Đằng khác, Nguyễn Du nhắc tới Di Tề cùng với Chích Cược, khiến một lần nữa người đọc thơ lại nhớ tới chương Biền Mẫu, sách Nam Hoa Kinh[8]:

Tiểu nhân th́ chết theo lợi, kẻ sĩ th́ chết theo danh [...] Bá Di chết v́ danh ở dưới núi Thú Dương, Đạpo Chích chết v́ lợi ở trên g̣ Đông Lăng. Hai bên cách chết chẳng giống, song đều cùng là tàn sống, hại tính cả. Chắc ǵ Bá Di là phải mà Đạo Chích là trái. Người thiên hạ đều chết theo cả.

Phải chăng, v́ nh́n cái chết như vậy, Nguyễn Du mượn rượu, rong chơi, buông danh bỏ lợi, quên cả truyện lưu danh thơm đời sau?

Đối chiếu với ḍng thơ Trung Quốc, bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trăi và bài Hành Lạc Từ của Nguyễn Du, người đọc nhớ lại bài thơ dưói đây của Đào Tiềm[9]:

 

己 酉 歲 九 月 九 日
Kỷ Dậu Tuế Cửu Nguyệt Cửu Nhật

靡 靡 秋 已 夕
Mỹ mỹ thu dĩ tịch
淒 淒 風 露 交
Thê thê phong lộ giao
蔓 草 不 復 榮
Mạn thảo bất phục vinh
園 木 空 自 彫
Viên mộc không tự điêu
清 氣 澄 餘 滓
Thanh khí trùng dư chỉ
香 然 天 界 高
Hương nhiên thiên giới cao
哀 蟬 無 留 響
Ai thiền vô lưu hưởng
叢 雁 鳴 雲 霄
Tùng nhạn minh vân tiêu
萬 化 相 尋 異
Vạn hoá tương tầm dị
人 生 豈 不 勞
Nhân sinh khởi bất lao
從 古 皆 有 沒
Ṭng cổ giai hữu một
念 之 中 心 僬
Niệm chi trung tâm tiêu
何 以 稱 我 情
Hà dĩ xưng ngă t́nh
濁 酒 且 自 陶
Trọc tửu thả tự đào
千 載 非 所 知
Thiên tải phi sở tri
聊 以 永 今 朝
Liêu dĩ vinh kim triêu

 

dịch là

 

Mùng Chín Tháng Chín
Năm Kỷ Dậu

Chùng ch́nh thu muộn chậm tàn
Sắt se gió thoảng từng làn quyện sương
Cỏ hoang vàng úa năo nùng
Cây khô lá rụng ngập ngừng vườn sau
Mầu trời trong vắt một màu
Ngàn cao thăm thẳm ngàn cao ngút ngàn
Ve sầu dứt tiếng thở than
Xôn xao tiếng nhạn gọi đàn chân mây
Cùng trong vạn hóa đổi thay
Cái ṿng lao khổ chẳng ai ngoài ṿng
Xưa rầy cái chết bận ḷng
Nghĩ vầy tan tác dạ trong hăi hùng
T́nh riêng riêng những ngại ngùng
T́m say rượu đục từng thưng uống tràn
Truyện ngàn sau đà chẳng ham
Sớm nay ngâm vịnh mượn làm niềm khuây.

 

Giới nghiên cứu về Đào Tiềm cho biết rằng Đào Tiiềm sáng tác bài thơ này khi được tin người em gái út của ông tạ thế. H́nh ảnh cái chết của người thân khiến người thơ giao động mạnh hơn, so với ư nghĩ về cái chết trong thơ Nguyễn Trăi và Nguyễn Du. Điều đáng ghi nhận khác là giới nghiên cứu đồng ư rằng Đào Tiềm cũng như phần đông thi nhân cổ điển mượn rượu và thơ để giải buồn, nhưng đồng thời cũng là t́m lối về vớilẽ huyền.

Đối mặt với cái chết của người dưng, liên tưởng tới cái chết của chính ḿnh, hay tự ḿnh lo liệu sửa soạn cho cái chết của chính ḿnh hay đau đớn xúc động v́ cái chết của người thân là ba ngả suy nghĩ của Gabriel Marcel về cái chết [10]. Đối mặt với cái chết, theo ba ngả nói trên, rồi buông bỏ danh lợi, mượn rượu và thơ t́m về với lẽ huyền là một nhánh thơ chính của Nguyễn Khuyến, nối dài ḍng thơ bàn về cái chết trong thơ ca Đông Á, mà người đọc thơ thấy rơ trong thơ Việt Âm và trong thơ Nôm. T́m hiểu nhánh thơ này của Nguyễn Khuyến là mục tiêu của những trang kế tiếp.

 

 

 


 

[6]Dương Quảng Hàm sách đă dẫn, tr. 272.
[7] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyên Duy Cần, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 237
[8] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, nhà xuất bản Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 164.
[9] Đào Uyên Minh Thi Tuyển, Từ Nguy tuyển chú, Joint Publication, Hong kông, 1989, tr. 58.
[10] Réné Davignon, Le Mal Chez Gabriel Marcel, Comment affronter la Souffrance et laMort. Edirtion du Cerf, Paris 1985, pp.111-139.

 

 

 

 

 

Xem Kỳ 3

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com