www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



Hồ Quư Ly
 
Nghi Ngờ Sách Luận Ngữ
Lê Phụng
 

 

 

 

PHẦN 1:

 

 

 

Năm 938, Ngô Quyền thắng quân của Hoằng Thao, thái tử nhà Hán, tại sông Bạch Đằng, cởi được ách Bắc thuộc hơn một ngàn năm, mở đường cho các triều Đinh, Lê, Lư, Trần và Hồ. Suốt khoảng 500 năm đầu nền tự chủ của người Việt Nam, không triều đại nào không có nạn người phương Bắc sang xâm lược. Quân phương Bắc tràn xuống nước Việt Nam, thường chỉ thắng được một vài trận đầu rồi lại bị đánh lui về Trung Quốc. Duy có vụ quân nhà Minh thắng quân nhà Hồ, thời quân nhà Minh đô hộ nước Việt Nam tṛn hai chục năm mới bị Lê Lợi đánh đuổi về Trung Quốc. Cuộc xâm lăng này khác hẳn mọi cuộc xâm lăng trước đó và khác cả cuộc xâm lăng sau đó vào thời Lê Mạt-Tây Sơn. Cuộc xâm lăng vào cuối đời nhà Hồ, dưới mắt các sử thần là cuôc chinh phạt của nhà Minh v́ lư do nhà Hồ đă cướp ngôi nhà Trần, nên cũng giống như nhiều cuộc chinh phạt trước: triều đ́nh phương Bắc, nhân dịp có việc thoán nghịch trong triều đ́nh nước Nam mà mang quân xâm lấn. Đọc sử nhà Minh, người đọc thấy một điểm khiến cuộc xâm lăng này khác hẳn mọi cuộc xâm lăng khác.

Thật vậy, theo lịch sử nước Đại Ngu. Hồ Quư Ly giữ tục nhà Trần, làm vua chưa tṛn một năm th́ nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương. Bẩy năm sau, vua Minh Thành Tổ sai quân sang xâm chiếm nước Đại Ngu. Khốc liệt hơn mọi lần quân Trung Quốc xâm chiếm nước ta, lần này ngày 21 tháng tám năm 1406 Minh Thành Tổ đích thân ra lệnh cho tướng Chu Năng thi hành việc đốt sách đập bia nước Đại Ngu.

 

Khoản ba của lệnh, trích dẫn từ sách Việt Kiệu Thư, của Lư Văn Phượng, sử thần nhà Minh soạn năm 1540, trong đó có đoạn như sau:

 

Khi binh lính vào tới nước [An Nam], trừ các sách kinh và bản in của  đạo Phật, đạo Lăo th́ không thiêu hủy; ngoài ra, hết thẩy mọi sách vở văn tư cho đến cả những loại ca lư dân gian, hay sách dậy trẻ, một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay th́ đều phải ǵn giữ cẩn thận, c̣n các bia do An Nam dựng th́ phá hủy tất cả, một chữ không để c̣n.

 

Triều đ́nh Minh Thánh Tổ kiểm tra đốc thúc chặt chẽ việc quân nam chinh đốt sách đập bia. Vào ngày 16 tháng sáu năm 1407, Vua Minh Thành Tổ gửi tiếp một lệnh thứ hai trong đó có đoạn như sau :

Nhiều lần đă bảo các ngươi rằng phàm sách vở An Nam có tất thẩy những sách vở văn tự ǵ, kể cả các câu ca lư dân gian, các sách dậy trẻ con như loại ‘thượng đại nhân, khưu ất dĩ, và tất thẩy các bia mà xứ ấy dựng lên th́ một mảnh một chữ, hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại. nay nghe nói những sách vở do quân lính bắt được, không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Quân lính phần đông biết chữ, nếu đâu đâu cũng cùng làm vậy th́ khi đài tải sẽ bị mất mát nhiều. Từ nay các ngươi phải làm đúng như lời sắc trước, truyền cho quân lính hễ thấy sách vở văn tự ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay, không được lưu lại.

 

Ngày 24 tháng sáu năm 1407, vua Minh Thành Tổ ban sắc lệnh thứ ba :

 

Nay An Nam đă b́nh định xong [...] các kư sự, thư thiếp đă từng phát đi từ trước, cùng các sổ ghi chép mà Thành Quốc Công đă lĩnh, hoặc các sổ trù nghị mọi việc đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu tồn một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại rơi vào tay bọn kia th́ rất bất tiện.

 

Triều đ́nh Trung Quốc, qua mọi thời đại đă nhiều lần đem quân sang xâm chiếm nước Việt Nam, nhưng sao chỉ riêng lần này, ngoài việc đốt sách đập bia một chữ không để c̣n mà c̣n cố t́nh dấu diếm hành động này? Người đọc sử tự hỏi là phải chăng v́ Khổng Học từ các đời Hán, Đường, Bắc Tống, Nam Tống, Nguyên tới đời nhà Minh là ṇng cốt của đế quyền Trung Quốc. Bài bác đạo Khổng là truyện giữa Bách Gia, thời Chiến Quốc, đă khiến Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học tṛ. Nay Hồ Quư Ly viết sách Minh Đạo bài bác Khổng Tử, phải chăng vua nhà Minh phải noi gương Tần Thủy Hoàng quyết liệt đốt sách đập bia nước Đại Ngu để bảo vệ đế quyền cho ḍng họ Chu?

 

Trên một hướng khác, vua Minh Thành Tổ hai lần ban lệnh cho quân lính tiêu hủy sách vở không những là loại ghi chép văn tự mà c̣n tiêu hủy cả những ca lư dân gian và sách dậy trẻ con. Người đọc sử dường như thấy sự liên quan giữa lệnh này và sách Thi Nghĩa của Hồ Quư Ly. Thật vậy, đúng như lời bàn của sử thần Ngô Sĩ Liên, Hồ Quư Ly viết sách này hoàn toàn theo ư riêng, không theo tập truyền của Chu Tử. Sách Thi Nghĩa nay không c̣n, nhưng tên sách và lời bàn của sử gia Ngô Sĩ Liên cho thấy là Hồ Quư Ly bàn về Kinh Thi, một tập sách do Khổng Tử san định, sau đó có rất đông nhà nho b́nh giải, hằng dùng làm chuẩn đích cho phong tục tập quán Trung Quốc. Sách này mang dùng tại An Nam và An Đông theo đường lối, như Ngô Sĩ Liên đă nói : cốt chuốt cho bóng thêm, mà không bàn căi thêm, dĩ nhiên đă khiến phong tục An Nam cũng như An Đông ngày càng bị đồng hóa với phong tục Trung Quốc. Nay Hồ Quư Ly, vẫn nói theo Ngô Sĩ Liên, chia nguồn tách ḍng, viết sách Thi Nghĩa. Sách Thi Nghĩa của Hồ Quư Ly phải chăng là để ǵn giữ phong tục nước Đại Ngu, và bởi vậy triều đ́nh vua Minh Thành Tổ phải ban sắc lệnh cho đoàn quân nam chinh tiêu diệt cả nhưng câu ca lư dân gian cùng sách dậy trẻ con, những ǵ xây nền đắp móng cho phong tục nước Đại Ngu?

 

Điểm thứ ba là lệnh phải giữ bí mật lệnh đốt sách đập bia phải chăng là không muốn để quốc sách lập lại phong tục Lạc Việt của Hồ Quư Ly trở nên một phong trào lan tràn tới các phiên quốc khác của đế quốc Trung Hoa?

 

Người đọc sử ngày nay không ai khỏi ngạc nhiên v́ ba sắc lệnh trên đây của Minh Thành Tổ. Câu hỏi là bởi sao mà Minh Thành Tổ đă ban bố ba sắc lệnh này? Trả lời câu hỏi đó không có cách ǵ hơn là trở lại cuốn Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên để t́m xem Hồ Quư Ly đă làm những ǵ khiến vua phương Bắc nổi giận đến vậy? Sách Đại Việt Sử Kư Toàn Thư* , quyển VIII chép:

 

Quư Ly làm sách Minh Đạo, 14 thiên dâng lên, đại khái cho Chu Công là Tiên Thánh, Khổng Tử là tiên sư; ở văn miếu thờ Chu Công ở chính giữa ngảnh về phương Nam, Khổng Tử ở bên ngảnh về phương tây; cho sách Luận Ngữ có bốn chỗ ngờ, như Khổng Tử ra mắt nàng Nam Tử, ở nước Trần hết lương, Công Sơn Phật Bột gọi mà Khổng Tử muốn đến, v.v...

 

Khổng Tử, quê ở ấp Trâu, nước Lỗ. Cha mẹ đi cầu tự tại núi Ni Khâu, sinh ra Khổng Tử ở nước Lỗ năm thứ 22 đời Lỗ Tương Công, và đặt tên là Khâu nghĩa là cái g̣, tên chữ là Trọng Ni. Không ai biết thầy học của Khổng Tử là ai.  Chỉ biết người đời sau tôn ông là Vạn Biểu Thế Sư, ông thầy vạn năm của cả cơi Đông Á từ Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Quốc Việt Nam, Tân Gia Ba. Ông để lại năm bộ kinh là Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc và Kinh Dịch, san định từ những sách cổ mà thành. Cuốn Luận Ngữ, không rơ tác giả là những ai, ghi chép lời Khổng Tử nói cùng các môn đệ. Cùng với sách Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử họp thành Tứ Thư một bộ sách căn bản của Khổng Học, từ ngoài hai ngàn năm qua là những sách học để tu thân tề gia trị quốc và b́nh thiên hạ của người Đông Á.

 

Trở lại việc Hồ Quư Ly dâng sách Minh Đạo. Sách Minh Đạo nay không c̣n, nên không ai biết Hồ Quư Ly nghi ngờ sách Luận Ngữ ra sao.

 

T́m trong sách cổ như sách Mạnh Tử, Mạc Tử, Tuân Tử Lă Thị Xuân Thu, người đọc thấy những đoạn liên quan tới ba điểm trên đó Hồ Quư Ly nghi ngờ sách Luận Ngữ. Đối chiếu những đoạn đó cho thấy rằng phái nho học hữu vi qua những đoạn đó dường như vạch ra khoảng cách biệt giữa cách sử thế so với lời Khổng Tử nói. Phải chăng đó là việc phê phán Khổng Học trong việc tu thân? Đằng khác, phái vô vi, điển h́nh là sách Trang Tử Nam Hoa Kinh, đối chiếu học thuyết vô vi với học thuyết hữu vi để thấy việc Khổng Tử bôn ba khắp các nước chư hầu phục hưng đạo nhà Chu là một việc làm tựa như đẩy thuyền trên cạn, khó nhọc mà không công, chưa biết sức truyền đi của lẽ không phương là cái ứng với vật mà không cùng. Đó phải chăng cũng là việc bài bác Khổng Tử trên mặt học thuyết?

 

Người đọc sử không khỏi nghĩ rằng Hồ Quư Ly nêu ra ba điểm ngờ cũng là theo nẻo của phái nho học cả hữu vi lẫn vô vi để bài bác Khổng Tử và tôn Chu Công lên thay thế. Người đọc sử cũng không khỏi nghĩ rằng Khổng Học là ṇng cốt của đế quyền Trung Quốc mà nay Hồ Qúy Ly bài bác Khổng Tử phải chăng là lẽ khiến vua nhà Minh, phải sai quân tràn sang Đại Ngu đốt sách đập bia, để tránh việc tan vỡ của đế quốc Trung Hoa?

 

Bàn về những câu hỏi trên là mục tiêu của cảo luận này. Việc đó không phải là một việc giản dị. Bởi ngày nay, ở thời hậu hiện đại, postmoderne đang dần chuyển sang thời siêu hiện đại, hypermoderne, con người càng ngày càng mất niềm tin vào những thần quyền và những căn bản khoa học của những hệ ư thức làm nền móng cho chính trị, để giành lấy niềm tự do cho cá nhân, thoát khỏi những ràng buộc của tín điều, nhưng đồng thời đưa con người tới chỗ chối bỏ thang giá trị về đạo đức tập thể hằng có.

 

Đặc biệt trong vấn đề nhà Hồ tiếm ngôi nhà Trần và để đất nước rơi vào tay quân nhà Minh. người đọc sử tự hỏi phải chăng Hồ Qúy Ly chỉ là một gian thần của nhà Trần, gây rối loạn, thí vua cướp nước, hay Hồ Qúy Ly là một nhà cách mạng chân thành cố công tạo lập một địa đàng trên đất Đại Ngu cho người dân, dầu vượt ra ngoài khuôn khổ ba giường năm mối của đạo Khổng trong việc tôn thờ Thiên Tử của nhà Minh, khiến vua Minh phái quân tràn xuống miền Nam đốt sách đâp bia pḥng hờ nạn tan ră đế quốc Trung Hoa, vốn xây dựng trên nến tảng Khổng học?

 

Bắt đầu là truyện Khổng Tử ra mắt nàng Nam Tử chép trong sách Luận Ngữ trong chương thứ XXVI, thiên thứ sáu: Ung Dă như sau:

 

, . : , ! !

Tử kiến Nam Tử, Tử Lộ bất duyệt. Phu Tử chi viết :

“Dư sở phủ giả, thiên yếm chi! thiên yếm chi!”

 

Dịch là:

 

Khổng Tử đến viếng nàng Nam Tử, thầy Tử Lộ không bằng ḷng. Khổng Tử thề rằng: “Nếu ta đến viếng không hợp lẽ th́ trời bỏ ta! Trời bỏ ta”.

 

Chu Hy chú giải chương này như sau :

 

Vợ vua Linh Công nước Vệ tên là Nam Tử có tính dâm. Khổng Tử đến nước Vệ, nàng Nam Tử mời đến, Khổng Tử không thể từ chối, nên phải đến viếng. Vả lại, đời xưa, người làm quan ở nước nào có lệ đến viếng vợ vua nước ấy. Thầy Tử Lộ lấy làm nhục khi thấy Khổng Tử đến viếng người đàn bà dâm loạn, nên không vui ḷng. [...] Thánh nhân có đạo đức lớn, nói: «Ta đến viếng nàng Nam Tử, cũng có lẽ phải đến, c̣n điều bất thiện của người kia, ta có can dự ǵ.” Nhưng thầy Tử Lộ không xét lường được, Khổng Tử phải nói hai lần lời thề, muốn cho thầy Tử Lộ tin mà suy nghĩ cho ra lẽ.

 

 

XEM PHẦN 2


 

 

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG

 


 

 

 

 

www.ninh-hoa.com