www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 


HỒ XUÂN HƯƠNG
Nếp Sống Hiện Sinh
Lê Phụng
 

 

 

Quyển 1

Kỳ 9:

 

 

II 

 

 

Đào sâu hơn về vấn đề t́m ra những yếu tố tạo nên hoàn cảnh khiến tự do của con người bị giới hạn , Jean Paul Sartre t́m ra năm yếu tố. Một là chỗ đứng của ta, ma place, tỷ như nước của ta, nhà của ta; hai là quá khứ của ta mon passé, mà ta hoàn toàn chịu trách nhiệm và từ đó ta xây dựng tương lai tốt đẹp hơn cho ta; ba là những người đến với ta cũng như nhng sự việc xẩy đến cho ta mà ta không có cách nào lường trưóc hay ngăn chặn được, mes entours, bốn là kẻ đồng loại với ta, mes prochains, đó là nhng người ở quanh ta hay ta tới gần họ, những người mà tự do của họ tạo nên giới hạn cho tự do của ta; và năm là cái chết của ta, ma mort.

Trong giới hạn của cảo luận này, những trang kế tiếp xin chỉ xét riêng v cái chết, yếu tố thứ năm trong năm yếu tố kể trên.

 

Đối với Jean Paul Satre, cái chết luôn luôn bất ngờ, không ai biết trước được lúc nào ḿnh sẽ chết. Cái chết luôn luôn phi lư, v́ cái chết chấm dứt cuộc sống này và mọi sự chỉ có ư nghĩa trong cuộc sống và trong tương lai vậy mà cái chết cắt đứt sự sống và tương lai, nên cái chết thành phi lư. Thế nên cái chết tước bỏ ư nghĩa của cuộc sống. Thí dụ như nếu cái chết đến vói Nguyễn Du truóc khi Nguyễn Du hoàn thành Truyện Kiều, th́ Nguyễn Du chẳng phải là Nguyễn Du tác giả Truyện Kiều mà người Việt Nam ai ai cũng hâm mộ.

 

Tệ hơn nữa, cái chết là chiến thắng của tha nhân. Sau khi ta chết, ta chỉ c̣n sống trong kư ức của tha nhân, mỗi khi tha nhân chợt nghĩ đến ta. Phải chăng v́ vậy mà Nguyễn Du viết :

 

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên Hạ thùy nhân khấp Tố Như

dịch là :

 

Ba trăm năm lẻ về sau

Khóc Tố Như biết c̣n bao nhiêu người

 

trong bài Đọc Tiểu Thanh Kư?

Trở lại lập luận của Jean Paul Sartre, sau khi con người ta nhắm mắt xuôi tay, ta chỉ c̣n là một vật thể trong kư ức của tha nhân. Vậy thời sau cái chết, ta chẳng cỏn hơn ǵ một vật thể: thế là ta mất tự do. Trước mắt tha nhân, cái ta chỉ c̣n là cái ta tại ngă. Điểm này tựa như việc Nguyễn Du ngày nay không c̣n sống để bảo các tác giả chuyên môn sáng tác những tập sách đính chính Truyện Kiều rằng họ là những người tạo ra những d bản mới của Truyện Kiều. Tồn tại trong kư ức tha nhân, dầu là được thờ phụng trong miếu đường, cũng không c̣n là sống. Đó là nội dung truyện Thần Quy chép trong sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử 22:

Thầy Trang câu ở sông Bộc. Vua Sở sai hai quan đại phu dến nói rằng:

 

- Xin đem đất nước để phiền ngài ....

Thầy Trang cầm cần câu chẳng quay lại mà rằng:

 

- Tôi nghe nước Sở có rùa thần, chết đă ba ngh́n năm. Nhà vua đựng trong ḥm vải, cất ở miếu đựng. Con rùa ấy mong chết để lại bộ xương quư giá, hay mong sống mà lê đuôi trong bùn lầy?

 

Hai quan đại phu đáp

 

- Mong sống mà lê đuôi trong bùn lầy.

 

Thầy Trang nói:

 

- Đi thôi! Tôi sẽ lê đuôi ở trong bùn lầy.

 

Hơn nữa, chính tha nhân, kẻ c̣n nghĩ đến ta sau khi cái chết đến với ta rồi cũng chết. Khi kẻ c̣n nhớ đến ta cũng chết, cái bóng của ta cũng tắt nốt.

 

Dầu con cái của ta có thờ cúng ta trên bàn thờ tổ tiên rồi cũng tới ngày ngũ đại mai thần chủ, tấm bài vị ghi tên tuổi ta rồi cũng có ngày cháu chắt ta mang ra đốt.

 

Cái chết là cái không. Lo âu cũng chẳng c̣n, bởi c̣n sống, c̣n tự do mới có lo âu. Cái chết làm cái sống thành vô nghĩa. Jean Paul Sartre viết 23:

 

la mort n’est jamais ce qui donne son sens à la vie : c’est au contraire ce qui lui ôte par principe toute signfication.

 

Điểm tương đồng giữa triết thuyết của Jean Paul Sartre và thơ H Xuân Hương là điểm con người sau cái chết trở thành vật thể trong kư ức của tha nhân, và nhất là điểm cái chết khiến cái sống thành vô nghĩa. Hai điểm tương đồng đó người đọc thơ thấy rơ trong ba bài thơ sau đây. Một là bài :

 

Khóc Tổng Cóc

 

Chàng Cóc ơi chàng Cóc ơi

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi

Ṇng nọc đứt đuôi từ đây nhé

Ngàn vàng không chuộc dấu bôi vố.

 

Cái chết không báo trước đến với ông Tổng Cóc, cắt đứt duyên t́nh hay ư nghĩa của mối nhân duyên giữa thiếp và chàng. Ông Tổng Cóc, trong kư ức người thơ là con ṇng nọc, biểu hiện ư nghĩ của người thơ về ông Tổng Cóc thủa thiếu thời. Ân t́nh cũ ông Tổng Cóc từng san sẻ vói người thơ nay chỉ là dấu bôi vôi. Mối lương duyên giữa ông Tổng Cóc và người thơ thu lại thành hai vật thể, và trở nên vô nghĩa sau cái chết của ông Tổng Cóc.

Thứ hai là bài :

 

Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường

 

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tương ôi

Cái nợ ba sinh đă trả rồi

Chôn chặt văn chương ba thước đất

Tung hê hồ thỉ bốn phương trời

Cán cân tạo hóa rơi đâu mất

Miệng túi càn khôn khép lại rồi

Hăm bẩy tháng trời đà mấy chốc

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi.

 

Cái chết đột ngột tới với ông phủ Vĩnh Tường cắt đứt cuộc trăm năm giữa người thơ và ông Phủ Vĩnh Tường. Văn hay chữ tốt của ông phủ Vĩnh Tường trở thành vật đem chôn vùi dưới ba thước đất. Chí khí cao xa của ông phủ Vĩnh Tương cũng bay theo gió tan khắp bốn phương trời, sự nghiệp văn chương, ước vọng dọc ngang trong ṿng trời đất của ông phủ Vĩnh Tường đều đứt quăng và tất cả trở thành vô nghĩa, đúng như lởi Jean Paul Satre viết 24:

Si nous devons mourir, notre vie n’a pas de sens parce que ses problèmes ne recoivent aucune solution et parce que la signification même des problèmes demeure indéterminée.


Th
ể xác ông phủ Vĩnh Tương, trong kư ức người khóc ông phủ hóa thành cái cán cân, và đối ứng với cái cán cân đó người khóc ông phủ cũng hoá thành cái túi. Nhưng chỉ hai mươi bẩy tháng sau, tới kỳ măn tang, rồi tiếp theo là sự lăng quên, h́nh bóng ông phủ trong kư ức người khóc ông phủ rồi cũng phai nḥa.

Rồi tới bải thứ ba :

 

Bỡn Bà Lang Khóc Chồng

 

Văng vẳng bên tai tiếng khóc ǵ

Thương chồng nên nỗi khóc tỉ ti

Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo

Cay đắng chàng ơi vị quế chi

Thạch nhũ trần b́ sao để lại

Quy thân liên nhục tẩm mang đi

Dao cầu thiếp biết trao ai nhẽ

Sinh kư chàng ơi tử tắc quy.

 

Xuôi tay nhắm mắt, ông lang trở thành những vị thuốc trong kư ức bà lang. Sau cái chết của ông lang, cái ngọt bùi trước kia ông bà lang chia xẻ cùng nhau nay chỉ c̣n là mùi cam thảo. Sau cái chết của ông lang những cay đắng ông bà lang cùng nhau chịu đưng nay hóa thành vị quế chi. Sau cái chết, những ǵ ông lang đề lại là thạch nhũ trần b́, nhng ǵ ông lang mang đi là quy thân liên nhục, tất cả đều là những vị thuốc, những vật thể. Dao cầu thuyền tán, nhưng đồ nghề của ông lang nay thành vật vô chủ. Cái chết dẫu là về, nhưng chuyến về này biến cái sống thành cái sống gửi ngắn ngủi và vô nghĩa.

 

Điều đáng lưu ư trong ba bài bài Khóc Tổng Cóc, Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường và bài Bỡn Bà Lang Khóc Chồng là những nét tương đồng giữa cái nh́n của Hồ Xuân Hương và cái nh́n của Jean Paul Sartre về cái chết.

Đối với Jean Paul Satre, cái chết chẳng khác ǵ một sự việc ngẫu nhiên xẩy ra, chẳng khác ǵ con người cũng ngẫu nhiên ra đời. Cái chết bất thần tới không ai đoán trước được lúc nào, dầu ai ai cũng biết là ḿnh sẽ chết, khiến con người thấy như cái chết hoàn toàn không liên quan tới đời sống. Cái chết hoàn toàn phi lư, cái chết chỉ là sự đứt đoạn, người chết không c̣n hiện tại, không c̣n tương lai, chỉ có quá khứ. Cái chết không phải là một thành quả, v́ con người tới phút trút hơi thở cuối cùng vẫn c̣n mong ước đi tới, c̣n mong ước đi xa hơn nữa. Điều đáng lưu ư là trong mười bẩy trang luận về cái chết, Jean Paul Sartre không một lời nhắc tới cái chết trong tôn giáo, mặc dầu bất kỳ người dân Chúa nào cũng biết câu của thánh Paul trong thư gửi tín đồ La Mă [Rm 8 :34] :

Chúa Giêsu Kitô cũng chết

 

là bước đầu dẫn tới truyện phán xét cuối cùng, ṇng cốt của đạo Chúa.

 

Thời Hồ Xuân Hương, dầu không ai biết rơ năm tháng, người đọc cũng có thể nghĩ rằng, trước cái chết, người Việt Nam chẳng ai không biết là ai ai cũng phải chết, Đức Phật Thích Ca cũng phải diệt độ vào niết bàn. Vậy mà trong ba bài thơ trích dẫn trên đây ngoài lời tục ngữ sống gửi chết về, H Xuân Hương không một lời chúc hương hồn người quá cố sớm về cơi cực lạc, không một lời nhắc tới phần thiêng liêng sau cái chết. Phải chăng đó cũng là một điểm tương đồng giữa Hồ Xuân Hương và Jean Paul Sartre?

 


 

22 Nhượng Tống, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Xuân Thu tái Bản, Huston, Texas, USA, tr. 247.

23 Jean Paul Sartre, l’Être et le Néant, sách đă dẫn, p. 584.

24 Jean Paul Sartre, L’Être et le Néant, sách đă dẫn, p. 584

 

 

 

Xem Kỳ 10

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com