www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 


HỒ XUÂN HƯƠNG
Tiếng Nói Đại Chúng
Lê Phụng
 

 

 

 

Quyển 2

Kỳ 31: (tiếp Kỳ 30)

 

5

 

Bài Hậu Nhân trên đây, nguyên gồm 4 chương, mỗi chương bốn câu. Cảo luận này xin trích dẫn hai chương cuối. Đây là bài thứ 151, trong Thi Kinh, bản của Mao Hanh và Mao Trương, kèm lời đề tựa và chú giải của nhà

Tống Nho Chu Hy.

 

Kinh Thi là một bộ sách gồm ba trăm lẻ năm bài phong dao rất cổ của người Trung Quốc. Theo Chu Hy:

gọi là phong dao v́ đó là li dân phát ra bởi chịu sự cảm hoá của người trên, mà lời ấy lại đủ để cảm hóa người, như vật nhân có gió mà động và phát thành tiếng, rồi tiếng ấy trở lại làm rung động vật.

Nhà viết sử Tư Mă Thiên, trong thiên Khổng Tử Thế Gia cho hay là Khổng Tử đem ba trăm lẻ năm thiên trong Kinh Thi ra mà đàn ca cho hợp với âm thanh của Thiều, Vũ, Nhă, Tụng. Đời sau có nhiều người tin rằng Khổng Tử san định Kinh Thi, nhưng lại có nhiều người khác vẫn hoài nghi việc đó. Đằng khác, theo sách Luận Ngữ, Khổng Tử coi Kinh Thi là một cuốn sách rất quan trọng trong ngôn ngữ Trung Quốc:

 

Bất học Thi, vô dĩ ngôn

(Quư Thị, Luận Ngữ)

 

nghĩa là

 

Không học Thi th́ nói không thông.

 

đồng thời Khổng Tử quy định cách đọc Kinh Thi:

 

Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: tư vô tà

(Vi Chính Luận Ngữ)

nghĩa là:

 

Kinh Thi có ba trăm thiên, như thâu gồm trong một lời: không nghĩ bậy.

 

Nhiều nhà b́nh giải Kinh Thi căn cứ trên lời này của Khổng Tử mà đề cao giá trị luân lư của Kinh Thi.

 

Kinh Thi là một tuyển tập những câu phong dao cổ, không rơ tác giả từng thiên là ai. Giới nghiên cứu mạnh ai người đó đưa ra nhận xét riêng về gốc tích mỗi thiên. Thí dụ như thiên mở sách dưới đây:

 

Quan Thư

(Chu Nam )

 

I

 

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quan Tử hảo cầu

 

II

 

Sâm si hạnh thái

tả hữu lưu chi

Yểu điệu thục nữ

Ngộ mỵ cầu chi

Cầu chi bất đắc

Ngộ mỵ tư bặc

Du tai Du tai

Triển chuyển phản trắc

 

III

 

Sâm si hạnh thái

Tả hữu thể chi

Yểu điệu thuịc nữ

Cầm sắt vĩ chi

Sâm si hạnh thái

Tả hữu mạo chi

Yểu điệu thục nữ

Chung cổ lạc chi.

dịch là:

I

 

Ríu rít chim cưu

Đầu sông cồn ngoài

Yểu điệu cô gái

Ước mong chàng trai

 

II

 

Rau hạnh ngắn dài

Trái phải thuận hái

Yểu điệu cô gái

Thức ngủ cầu mong

Cầu mong chẳng toại

Du tai Du tai

Trở trăn canh dài

 

III

 

Rau hạnh ngắn dài

Trái phải chọn hái

Yểu điệu cô gái

Sắt cầm thân ái

Rau hạnh ngắn dài

Trái phải lựa hái

Yểu điệu cô gái

Trống dồn vui tai.

 

 


 

 

 

 

Xem Kỳ 32

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com