www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 


HỒ XUÂN HƯƠNG
Tiếng Nói Đại Chúng
Lê Phụng
 

 

 

Quyển 2

Kỳ 26: (tiếp Kỳ 25)

 

3

 

Nhận xét về tương quan giữa thơ Hồ Xuân Hương và thơ Nguyễn Khuyến trên đây khiến người đọc thơ có thể tin rằng Nguyễn Khuyến khởi hứng từ thơ Hồ Xuân Hương để viết ra bài thơ lời thanh ư khơi dục dưới đây:

 

Thu vén giang sơn một cắp tṛn

Ngh́n thu sương nguyệt tuyết không ṃn

Biết chăng chỉ có ông Hà Bá

Mỉm mép cười thầm với nước non.

 

Bài thơ có hai đầu đề. Một bằng chữ nho: Thiếu Phụ Nhân Phóng Uế Tại Hà Hạn, Hí Vịnh. Nghĩa là: Vịnh Đùa Cảnh Người Đàn Bà Phóng Uế Ở Bờ Sông. Một bằng chữ nôm là: Gái Rửa L... Bờ Sông. Nhà giáo kiêm nhà văn Nguyễn Công Hoan19 sửa lại là: Gái Rửa Đít Bờ Sông cho hợp với logic theo ư thức hệ của ông. Nếu không có đầu đề, và chỉ căn cứ trên những h́nh ảnh trong bốn câu thơ không dễ dàng có thể luận ra điều Nguyễn Khuyến, dùng lời thanh ư gợi cảm đùa rỡn trong thơ. Hơn nữa, Nguyễn Khuyến c̣n dùng h́nh ảnh văn học đại chúng vào thơ chữ Hán. Tam Nguyên Yên Đổ sáng tác bài Vũng Lội Đường Ngang, rồi tự dịch sang chữ Hán.

 

Đi xa hơn nữa trong việc đối chiếu thơ văn Nguyễn Khuyến với thơ HXuân Hương người đọc thấy nghi vấn sau đây về thân thế Hồ Xuân Hương.

 

Trong thơ Hồ Xuân Hương có bài:

 

Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường

 

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

Cái nợ ba sinh đă trả rồi

Chôn chặt văn chương ba thước đất

Tung hê hồ thỉ bốn phương trời

Cán cân tạo hóa rơi đâu mất

Miệng túi càn khôn khép lại rồi

Hăm bẩy tháng trời đà mấy chốc

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi.

 

và bài:

 

Khóc Tổng Cóc

 

Chàng Cóc ơi Chàng Cóc ơi

Thiếp bén duyên Chàng có thế thôi

Ṇng nọc đứt đuôi từ đây nhé

Ngh́n vàng không chuộc dấu bôi vôi.

 

Trong thơ văn Nguyễn Khuyến, tương truyền có đôi câu đối:

 

Thiếp kể từ lá thắm xe duyên, khi vận tía lúc cơn đen, điều khôn nhờ bố đỏ.

 

Chàng dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng con răng trắng, tím gan tím ruột với ông xanh.

 

tương truyền tác giả làm hộ cho vợ một người thơ nhuộm khóc chồng. Tác giả đă dùng những mầu sắc: thắm, tía, đen, điều, đỏ, vàng, trắng, tím xanh để ngầm tả nghề thợ nhuộm.

 

Tương truyền Nguyễn Khuyến c̣n có thêm đôi câu đối:

Viếng Người Thợ Rèn Nhà cửa để lầm than, con thơ dại lấy ai rèn cặp Cơ đồ đành bỏ bễ, vợ trẻ trung lắm kẻ đe loi với những h́nh ảnh than, rèn cặp, bễ, đe loi, gợi lại một số dụng cụ của người thợ rèn.

 

Cách chơi chữ này trong đôi câu đối của Nguyễn Khuyến hệt như cách chơi chữ trong bài thơ luật duới đây của Hồ Xuân Huơng:

 

Bỡn Bà Lang Khóc Chồng

 

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc ǵ

Thương chồng nên nỗi khóc tỉ ti

Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo

Cay đắng chàng ơi vị quế chi

Thạch nhũ trần b́ sao để lại

Quy thân liên nhục tẩm mang đi

Dao cầu thiếp biết trao ai nhẽ

Sinh kư chàng ơi tử tắc quy

 

Cam thảo, quế chi, thạch nhụ trần b́, quy thân, liên nhục cũng như dao cầu v.v.. đều là những vị thuốc cùng dụng cụ làm thuốc mô tả sinh hoạt của ông lang khi c̣n sống.

 

Lối chơi chữ này trong bài Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường là văn chương, hồ thỉ tạo hóa càn khôn, gợi lại h́nh ảnh ông Phủ vốn xuầt thân là nhà nho. Đàng khác, trong bài Khóc Tổng Cóc, những h́nh ành ṇng nọc, dấu bôi vôi, gợi lên h́nh ảnh con Cóc, tên của ông tổng.

 

 



 

19 Tạp Chí Văn Học, số tháng 5 năm , Hà Nội, 1972.

 

 

Xem Kỳ 27

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com