www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 


HỒ XUÂN HƯƠNG
Tiếng Nói Đại Chúng
Lê Phụng
 

 

 

Quyển 2

Kỳ 24: (tiếp Kỳ 23)

 

2

 

Những nhận xét trên cho thấy tục lệ thờ bộ phận sinh dục, thờ hành vi giao cấu, theo giới nghiên cứu tín ngưỡng, là do ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ giao lưu với văn hóa cùng tập tục người Việt rồi thâm nhập vào vô thức tập thể người Việt.

Đằng khác, không riêng văn hoá Ấn Độ có tục thờ bộ phận sinh dục và các hành vi giao cấu. Đạo Huyền Lăo, rất phổ quát trong đại chúng với các phép dưỡng sinh cũng có những tập tục tương tự trong việc dùng hành vi

giao cấu vào việc luyện phép trường sinh. Một số chi phi Phật Giáo Mật Tông, với khá đông tín đồ, cũng dùng những hành vi giao cấu làm phép tu tập.

 

Phải chăng những h́nh tượng Ấn Độ cũng như h́nh ảnh trong sch trường sinh Đạo Lăo hay Mật Tông đă xâm nhập vơ thức tập thể, do đó phản ánh vào thơ Hồ Xuân Hương mà thành ra ḍng thơ tiêu biểu qua những bài trích dẫn trên đây rồi thnh dịng thơ lời thanh ư tục, một dịng thơ đối xứng với thể văn của nhiều truyện tiếu lâm hay câu đố tục giảng thanh?

 

Trả lời câu hỏi này thật không đơn giản. Trên các h́nh tượng Ấn Độ, tính khiêu dâm lộ rơ: động tác của các người trong h́nh tượng cũng như lời văn trong sách Trường Sinh hay trong Kinh Mật Tông là h́nh ảnh và lời mô tả những động tác giao hoan của một cặp nam nữ. Trên mặt trống đồng cũng như trong thơ Hồ Xuân Hương những h́nh ảnh đều tự nó không có tính khiêu dâm, nhưng phối hợp những h́nh ảnh đó gợi cho người xem h́nh hay đọc thơ h́nh ảnh của một cuộc giao hoan.

 

Từ những nhận xét trên và trở lại bài Đánh Cờ Người, người đọc thơ H Xuân Hương ghi nhận hai điểm sau đây. Một là việc bầy bàn son quân ngà là một thú giải buồn. Cuộc đấu trí giữa người nam người nữ diễn tiến trong ánh đèn sáng tỏ, chứ không phải trong bóng tối.

Câu kế:

Cấm ngoại thỉ không ai được biết

 

theo nghĩa đen, cho thấy là tác giả bài Đánh Cờ Người không muốn có cảnh ngồi chầu ŕa mách nước bên bàn cờ. Theo ư ngoài lời, câu chuyện giữa chàng và thiếp đồng t́nh lúc đêm khuya, trong pḥng riêng không một ai được quyền nḥm ngó.

 

Hai là những h́nh ảnh dùng trong bài thơ chính là những chuyển biến trên bàn cờ, từ khi đôi bên nam nữ mới ra quân cho tới khi bên nam chiếu bí bên nữ. Từ những h́nh ảnh đó, người đọc thơ liên tưởng tới những hành vi giao hoan giữa chàng với thiếp qua một vài h́nh ảnh hai nghĩa thông thường trong ngôn ngữ đại chúng Việt Nam.

 

Thế nên bài Đánh Cờ Người có thể coi là một trong những bài thơ khơi nguồn cho ḍng thơ lời thanh ư gợi cảm, thường gặp trong vườn thơ nôm của đại chúng nhưng dường như ít gặp trong ḍng thơ nôm cổ điển cũng như vắng tiếng trong vườn thơ Việt Âm.

Thật vậy, trong thơ Hồ Xuân Hương có bài:

 

Vịnh Cái Quạt

 

Mười bẩy hay là mười tám đây

Cho ta yêu dấu chẳng rời tay

Mỏng dầy chừng ấy chành ba góc

Rộng hẹp dường này cắm một cây

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát

Yêu đêm không phỉ lại yêu ngày

Hồng hồng má phấn duyên v́ cậy

Chúa dấu vua yêu một cái này.

 

bài thơ luật biến thể thành câu đố lưu truyền trong đại chúng:

Rành rành ba góc rành rành

Khi th́ khép lại khi th́ vành ra

Khi vui th́ sướng thay là

Khi buồn th́ chảy nước ra ŕ ŕ.

 

giảng là cái quạt.

 

Ḍng thơ lời thanh ư gợi cảm này có thể coi như ḍng thơ nối ḍng thơ nôm của những nhà khoa bảng với ḍng thơ của đại chúng. Nét độc đáo của ḍng thơ này là Hồ Xuân Hương đă mang nụ cười dân gian vào văn học

cổ điển, đưa thơ nôm ra khỏi khuôn phép nho giáo của thơ Đoàn Thị Điểm, Ôn Như Hầu, Bà Huyện Thanh Quan. Tiếp theo Hồ Xuân Hương, trong ḍng thơ lời thanh ư gợi cảm người đọc thơ gặp một số bài thơ của Nguyễn Công Trứ viết sau khi cụ Thương Ngàn Hống đă về hưu, rồi tới Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương.
 

 


 

 

 

 

Xem Kỳ 25

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com