www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 


HỒ XUÂN HƯƠNG
Tiếng Nói Đại Chúng
Lê Phụng
 

 

 

Quyển 2

 

Kỳ 18: (tiếp Kỳ 17)

 

         Điểm đáng lưu ư về công tŕnh giải văn của Đỗ Long Vân, mà ông gọi là một cách đọc mới, là điểm ông đă không đưa ra một huyền thoại hay một tài liệu để chứng minh tiểu sử của Hồ Xuân Hương để rổi lấy tiểu sử soi sáng thơ Hồ Xuân Hương như các nhà phê b́nh khác. Trái lại, ông phân tích thơ Hồ Xuân Hương để t́m ra cơ cấu của thơ Hồ Xuân Hương, rồi Đỗ Long Vân đề nghị một cơ cấu động rồi từ đó t́m ra một chân dung mới của Hồ Xuân Hương. Nói ngắn lại Đỗ Long Vân bẻ thơ ra để t́m tác giả, như vậy đặt cạnh phương pháp thông thường lấy đời tác giả để soi sáng thơ, người đọc thấy hai phưong pháp này tạo thành một ṿng kín.

 

         Cảo luận này có cùng khởi điểm với Đỗ Long Vân: Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ của người Việt Nam mà không lưu tâm tới những thoại dựng quanh nữ sĩ; và coi tất cả thơ, không trừ một bài nào, theo truyền thuyết của nữ sĩ đều do chính nữ sĩ sáng tác. Cũng như Đỗ Long Vân, cảo luận này không nhắm b́nh thơ Hồ Xuân Hương, mà chỉ cùng bạn đọc đọc thơ Hồ Xuân Hương, nhưng không đọc theo phương pháp của phái cơ cấu đọc như đọc những áng thơ đại chúng sáng tác bằng tiếng nói đại chúng, không ai biết tác giả cùng niên lịch sáng tác. Cảo luận này đọc thơ Hồ Xuân Hương bng cách đối chiếu những h́nh ảnh Hồ Xuân Hương dùng trong thơ, gọi ngắn là thi ảnh với thi ảnh của những áng thơ đă in xâu vào tiềm thức đại chúng như nhng câu ca dao, nhưng bài thơ Việt Âm cổ, hay rộng hơn nhưng h́nh ảnh trong hội họa cũng như nhng thi ảnh trong kinh sách Đạo Giáo. Mục đích của cảo luận không phải là đi t́m sự thật về Hồ Xuân Hương hay giải quyết những nghi vấn về Hồ Xuân Hương của giới khảo cứu. Mục đích của cảo luận chỉ là để tô đậm thêm ḷng yêu thơ Hồ Xuân Hương của người đọc.

 

         Cảo luận này dựng trên một căn bản rất thực tiễn: Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ. Thế nên không gian trong thơ Hồ Xuân Hương là một không gian đầy ắp nữ tính. Thời gian trong thơ Hồ Xuân Hương là thời gian nữ giới, temps de la femme, theo Marie Cardinal 7. Thời gian này không do đồng hồ nguyên tử định nhịp mà đập theo cái đồng hồ sống trong thân thể người nữ hay nói theo Hồ Xuân Hương là đập theo cái hồng nhan của người nữ, theo kinh kỳ và gián đoạn bằng những chu tŕnh sinh con làm mẹ. Thời gian này do đó không thể dùng để tạo lập một trật tự thời gian v́ khác hẳn với thời gian liên tục. Thời gian liên tục thường biểu thị bằng một trục nằm ngang.

 

         Thế nên thời gian nữ giới biểu thị bằng một trục đứng thẳng. Theo Gaston Bachelard 8 thời gian đứng thẳng lên cao xuống thấp tùy theo con ngựi khi tâm thân an lạc hay ch́m đắm trong cảnh tâm thân bất ổn. Kết quả này phải chăng là căn bản thực tiễn cho ḍng nước ẩn Đỗ Long Vân đă nh́n thấyqua trực giác trong thơ Hồ Xuân Hương?

 

         Tiếng nói đại chúng khác hẳn ngôn ngữ cổ điển. Trong ngôn ngữ cổ điển, những tiếng chửi rủa, những h́nh ảnh liên quan đến hạ bộ, hay phần dưới thân thể thẩy đều coi là những lời tục tĩu những chữ cấm kỵ. Trong thơ văn những lời tiếng này dường như ít ai xử dụng. Trái lại trong tiếng nói đại chúng những lời tục tĩu, những tiếng chửi rủa, những h́nh ảnh biểu thị phần dưới thân thể đó, trong một mức độ vừa phải, tùy theo môi trường, tỷ như những ngày hội hè đ́nh đám, ngoài chốn phố phường chợ búa, lại là những ngôn từ thông dụng, nhiều khi được coi là duyên dáng, bởi lẽ những ngôn từ và h́nh ảnh đại chúng thường có khả năng chọc cười rất mạnh.

 

         Thế nên, người đọc thơ Hồ Xuân Hương thấy như nữ sĩ là người đầu tiên sử dụng tiếng nói đại chúng trong toàn bộ thơ nôm dường như để thay thế cho những từ ngữ cùng những điển cố Hán Việt thông dụng và như sáng lập ra một ḍng thơ nôm mới tách rời ḍng thơ nôm cổ điển cũng như ḍng thơ Việt Âm cổ kính.

 

         Tiếng nói đại chúng rất giầu h́nh ảnh, do vậy đọc thơ Hồ Xuân Hương, người đọc không khỏi nhớ tới lời Tô Đông Pha một nhà thơ kiêm họa sĩ ca ngợi thơ và tranh Vương Duy người nhà Đường:

 

Thi trung hữu họa

Họa trung hữu thi.

 

nghĩa là:

 

Trong thơ có tranh

Trong tranh có thơ.

 

         Giới hán học đă viết nhiều về nét họa trong thơ Vương Duy. Ngược lại tới nay chưa ai t́m được một bức họa đích thực là của Vương Duy, thế nên thơ trong họa của Vương Duy là một điểm bỏ ngỏ trong mối giao duyên giữa thơ và họa Trung Quốc. Hồ Xuân Hương không phải là một họa sĩ, nhưng thơ Hồ Xuân Hương tŕnh bầy nhiều h́nh ảnh về nữ tính. T́m trong họa sử thế giới, người đọc thơ Hồ Xuân Hương gặp Gustave Courbet (1818-1877), một họa sĩ người Pháp cũng dùng đường nét và mầu sắc tŕnh bầy nữ tính trên khung vải. Thế nên giữa thơ Hồ Xuân Hương và tranh Gustave Courbet có nhiều đề tài trùng hợp, khiến người đọc thơ Hồ Xuân Hương như thấy tranh Courbet trong thơ và người xem tranh Gustave Courbet như thấy thơ Hồ Xuân Hương trong tranh.

 


 

7 Marie Cardinal, Autrement dit, Grasset, Paris 1977, p.97

 

8 Gaston Bachelard, L’Intuition de l’Instant, Le Livre de Poche, Paris 1992, p. 107

 

 

 

Xem Kỳ 19

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com