Thơ & Truyện Nguyễn Văn Nghệ            |             www.ninh-hoa.com

NGUYỄN VĂN NGHỆ

Người làng Phong Ấp, xă Ninh Binh, Ninh Ḥa.

Tốt nghiệp K.19 Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa Học Huế

 

 

Hiện cư ngụ tại VN


 

 

 

 

 

 


VĂN MIẾU KHÁNH H̉A

Nguyễn Văn Nghệ
 

  

 

    Đi t́m dấu tích Văn miếu dinh B́nh Khang

    Có người đặt câu hỏi: Dưới thời các chúa Nguyễn, vùng đất dinh B́nh Khang( sau đổi thành dinh B́nh Ḥa, trấn B́nh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa đă có xây dựng Văn miếu để thờ tự Đức Khổng tử và các bậc tiên hiền, tiên nho chưa? Trả lời câu hỏi trên, các bậc cố lăo cũng chỉ căn cứ vào sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn và bảo là chưa có. Ngoài ra các bậc cố lăo c̣n cho biết thêm là dưới thời các chúa Nguyễn, ở Đàng Trong chỉ có Phú Xuân(Huế), Trấn Biên( Biên Ḥa) và Quảng Nam có Văn miếu mà thôi. (1)

    Nhưng khi đọc sách Đại Nam thực lục tôi lại thấy ghi vào tháng 10 năm Quư Sửu(1793) Nguyễn vương (Phúc Ánh) “đặt 25 miếu phu cho Văn miếu B́nh Khang” (2)

    Qua chi tiết trên cho ta biết là dưới thời các chúa Nguyễn vùng đất dinh B́nh Khang(nay là tỉnh Khánh Ḥa) đă có Văn miếu rồi chứ không phải đợi đến thời vua Gia Long mới xây dựng.

    Vấn đề được đặt ra là Văn miếu B́nh Khang được xây dựng tại địa điểm nào và vào năm nào?

    Nghi vấn được đặt ra trước tiên là Văn miếu B́nh Khang phải được xây dựng gần lỵ sở của dinh B́nh Khang. Lỵ sở của dinh B́nh Khang trước năm 1802 đóng tại xă Phước Đa, huyện Quảng Phước (nay thuộc Trung tâm Thị xă Ninh Ḥa, bên bờ bắc sông Dinh) (3).Ngoài sách Đại Nam nhất thống chí, tôi t́m đọc Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định soạn. Đây là cuốn địa chí có thể xem là xưa nhất dưới triều Nguyễn. Sách được soạn xong và dâng lên vua vào tháng 11 năm Bính Dần(1806) (4). Gần đây sách được xuất bản nhưng chỉ có phần dịch nghĩa và nguyên văn chữ Hán, không có phiên âm. Trong phần Trạm Ḥa Mỹ xin phiên âm: “ nhị thập tầm chí Toàn Thạnh cựu dịch (5), lưỡng bàng khô thổ, hữu cư dân trù mật, tây biên bát thập tầm, tiền triều kư lục dinh tại thử, nhất bách cửu thập tầm chí cựu Văn Thánh miếu, kim miếu di kiến tại Diên Khánh thành phụng sự”  (hai mươi tầm đến trạm Toàn Thạnh cũ, hai bên đất khô, dân cư rất trù mật, qua hướng tây 80 tầm là nơi lỵ sở dinh kư lục của tiền triều, đi 191 tầm đến miếu Văn Thánh cũ, nay miếu này được di chuyển đến thờ tại thành Diên Khánh) (6).

     Về phía tây của lỵ sở dinh B́nh Khang xưa là xă Phước An (sau đổi thành Phước Lư, nay thuộc xă Ninh B́nh) có Văn chỉ huyện Tân Định (sau đổi thành Văn chỉ Ninh Ḥa) được xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844).Lần theo dấu vết tôi t́m đến thăm Văn chỉ Ninh Ḥa và được Ban Quản lư Văn chỉ Ninh Ḥa tặng cho tập sách T́m hiểu Khổng miếu Ninh Ḥa , trong đó có bài viết Văn miếu ở Ninh Ḥa có phiên âm và dịch thoát tờ giấy đất  của Văn chỉ Ninh Ḥa: “…Sự duyên bổn xă địa phận g̣ Miếu xứ nhất khoảnh nội hữu hoang nhàn nhất sở, đông cận…, tây cận…Cựu hữu Văn miếu thiết lập tại thử thượng. Thượng niên phụng dị, miếu vũ hồi tỉnh sùng tự; kỳ g̣ Miếu xứ lưu vi hoang nhàn. Tư, bổn huyện, cử nhân , tú tài, thừa tỉnh chương trùng tu miếu vũ tại g̣ Miếu cựu chỉ... Tư cung tờ.

     “ Thiệu Trị tứ niên, bát nguyệt , sơ ngũ nhật” (Lư trưởng Mai Văn Bửu kư, áp triện).

   Xin dịch thoát:

  “…Nguyên vùng g̣ Miếu thuộc địa phận làng chúng tôi, trong đó có một khoảnh đất bỏ hoang, đông giáp…, tây giáp…Trước đă có Văn miếu thiết lập trên đất ấy. Đầu năm nay, thể theo sự ngưỡng vọng, coi xét lại miếu vũ để thờ cúng cho trang nghiêm, mà g̣ Miếu vẫn bỏ hoang.Nay các vị cử nhân, tú tài của huyện ta, vâng theo công văn tỉnh trùng tu lại ngôi miếu trên nền cũ tại g̣ Miếu… Nay làm giấy để cung cấp” (7).Giấy đất này làm vào ngày mùng 5, tháng 8 , năm Thiệu Trị thứ 4 (1844).

   Điểm đáng lưu ư trong tờ giấy đất ấy là : “ Cựu hữu Văn miếu thiết lập tại thử thượng” (Trước đă có Văn miếu thiết lập trên đất ấy). Vậy có thể là Văn miếu dinh B́nh Khang chăng? Để chắc chắn tôi xin được xem nguyên bản bằng chữ Hán tờ giấy đất ấy và Ban Quản lư Văn chỉ Ninh Ḥa đă vui vẻ cho xem, ngoài ra c̣n tặng tôi một bản photocopy để nghiên cứu. Sau khi nghiên cứu tờ giấy đất bằng chữ Hán ấy, tôi nhận thấy trong khi phiên âm từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ, người phiên âm và dịch nghĩa đă ngắt câu sai, dẫn đến là khi dịch nghĩa sai theo. Tác giả bài viết đă ngắt câu như sau: “Cựu hữu Văn miếu thiết lập tại thử thượng/ Thượng niên phụng dị, miếu vũ hồi tỉnh sùng tự” (Trước đă có Văn miếu thiết lập trên đất ấy. Đầu năm nay, thể theo sự ngưỡng vọng, coi xét lại miếu vũ để thờ cúng cho trang nghiêm). Ngắt câu đúng sẽ như sau: “Cựu hữu Văn miếu thiết lập tại thử/ Thượng thượng niên phụng di miếu vũ hồi tỉnh sùng tự” (Xưa có Văn miếu thiết lập tại đây. Năm xưa di dời Văn miếu về tỉnh thờ tự). Cụm từ “thượng thượng niên” dùng để chỉ về quá khứ, về năm xa xưa. Với chi tiết : “Cựu hữu Văn miếu thiết lập tại thử. Thượng thượng niên phụng di miếu vũ hồi tỉnh sùng tự” rất là khớp với Hoàng Việt nhất thống dư địa chí: “Cựu Văn Thánh miếu, kim miếu di kiến tại Diên Khánh thành phụng sự”. Như vậy chúng ta xác định được địa điểm xây dựng Văn miếu dinh B́nh Khang.

   Hiện nay du khách đi trên Quốc lộ 26 (trước gọi là Quốc lộ 21) từ Ninh Ḥa đi Buôn Ma Thuột, sau khi băng qua khỏi đường xe lửa khoảng vài trăm mét nh́n về vùng ruộng phía Nam sẽ thấy mặt sau của Văn chỉ Ninh Ḥa. Văn chỉ Ninh Ḥa hiện nay được xây dựng trên nền cũ của Văn miếu dinh B́nh Khang.

   Vấn đề c̣n lại là xác định mốc thời gian xây dựng Văn miếu dinh B́nh Khang. Đây là một vấn đề nan giải, v́ trong sách Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn không thấy ghi chi tiết này!

      Cũng theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí trong phần ghi chép về Trạm Ḥa Mỹ, xin phiên âm: “Tam thập nhị tầm chí cựu Trù Thành tự, tiền triều Cai bạ Cẩm Long hầu sở lập, tiền diện hữu thạch hôi tường nhất bức, chí Bính Th́n niên triệt thử tường, thủ chuyên doanh trúc Văn Thánh miếu, kim tự hủ tệ” (Ba mươi hai tầm đến chùa Trù Thành cũ, chùa do Cai bạ Cẩm Long hầu lập nên từ thời tiền triều, mặt trước có bức tường đá vôi, đến năm Bính Th́n (1796) lệnh phá bức tường này lấy đá xây Văn miếu, nay chùa ấy đă hư hỏng” (8)

     Trong bản dịch, dịch giả lại chua năm Bính Th́n là năm 1796. Ấy là do dịch giả suy luận một cách vơ đoán mà thôi. V́ vào năm 1793 Nguyễn vương(Phúc Ánh) đă “đặt 25 miếu phu cho Văn miếu B́nh Khang” rồi! Vậy, Văn miếu dinh B́nh Khang phải được xây dựng vào những năm Bính Th́n trước đó.

     Người Việt đến định cư tại vùng đất hiện nay gọi là Khánh Ḥa vào năm Quư Tỵ(1653). Từ năm Quư Tỵ(1653) đến năm Bính Th́n(1796) có hai năm Bính Th́n là năm Bính Th́n (1676) và Bính Th́n (1736).

    Theo phương pháp loại suy, ta có thể loại bỏ năm Bính Th́n (1676), v́ năm này chỉ cách thời điểm người Việt bắt đầu đến định cư ở vùng đất mới chỉ có 23 năm mà thôi, cho nên chưa thể xây dựng Văn miếu được. Vả lại đá để xây dựng Văn miếu được lấy từ một bức tường của chùa Trù Thành được Cai bạ Cẩm Long hầu cho xây dựng trước đó. Vậy chỉ c̣n lại năm Bính Th́n (1736) mà thôi. Năm Bính Th́n (1736) chính là năm xây dựng Văn miếu dinh B́nh Khang.

    Văn miếu dinh B́nh Khang được di kiến từ xă Phước An, huyện Tân Định vào xă Phú Lộc, huyện Hoa Châu

   Năm 1802, sau khi thống nhất đất nước , vua Gia Long cho dời lỵ sở dinh B́nh Khang từ xă Phước Đa, huyện Quảng Phước vào đóng tại thành Diên Khánh.

    Tháng giêng nhuận năm Quư Hợi (1803) vua Gia Long “sai các dinh trấn đều lập nhà Văn miếu, mỗi miếu đặt 2 người điển hiệu, lễ sinh và miếu phu đều 30 người” (9)

    Tháng 3 năm Quư Hợi (1803) vua Gia Long đổi dinh B́nh Khang thành dinh B́nh Ḥa (10). Văn miếu dinh B́nh Khang được đổi thành Văn miếu dinh B́nh Ḥa.

    Đại Nam nhất thống chí soạn dưới thời vua Duy Tân đă viết về Văn miếu Khánh Ḥa: “ Ở xă Phú Lộc, phía tây bắc tỉnh thành, dựng năm Gia Long thứ 2 (1803), trùng tu năm Tự Đức thứ 2 (1849)” (11).

    Vua Gia Long cho “di kiến” Văn miếu dinh B́nh Khang từ xă Phước An, huyện Tân Định vào địa điểm mới là xă Phú Lộc, huyện Hoa Châu (sau năm 1832, huyện Hoa Châu được sáp nhập vào chung với huyện Phước Điền)

      Tháng 7 năm Mậu Th́n (1808) đổi dinh B́nh Ḥa thành trấn B́nh     Ḥa (12), Văn miếu cũng được đổi thành Văn miếu trấn B́nh Ḥa. Năm 1832 trấn B́nh Ḥa được đổi thành tỉnh Khánh Ḥa (13) và Văn miếu cũng được đổi thành Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa.

   Trong tác phẩm Xứ Trầm Hương, cụ Quách Tấn đă viết về Văn miếu Khánh Ḥa: “ Xây cất năm Gia Long thứ hai (1803). Trước kia ở phía trên nổng g̣ tục gọi Ḥn Tháp. Sau bị lụt sông Cái lở vào tận chân miếu,        nên phải dời miếu xuống hướng Đông. Đó là vào năm Tự Đức thứ             hai (1849)” (14)

    Bài viết Văn miếu Diên Khánh của nhà nghiên cứu Nguyễn Man Nhiên đăng trên trang ninhhoatoday.net ở mục “Sưu tầm biên khảo” có đề cập đến  Văn miếu trấn B́nh Ḥa: “Theo kư ức các vị bô lăo ở địa phương, văn miếu trấn B́nh Ḥa xưa xây dựng tại chân núi Ḥn Tháp, ở đầu làng Phú Lộc về phía tây nam, gần bờ sông Cái. Lúc mới lập có miếu chính và miếu Khải Thánh, lợp cỏ tranh.

  “ Do nơi đây gần bờ sông, mùa mưa nước lũ xâm thực, đất bị sạt lở vào tận chân miếu, nên đến năm Tự Đức thứ 2 (1849) địa phương di dời Văn miếu đến chỗ mới cách địa điểm cũ khoảng 1.000 mét về hướng đông. Lần này miếu được tu bổ và dựng thêm Tả vu, Hữu vu”

   Theo Nhà nghiên cứu Ngô Văn Ban viết về việc di dời Văn miếu B́nh Khang về Diên Khánh: “ …xây dựng ở Phú Lộc( nay thuộc thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh) vào năm Gia Long thứ 2(1803), đó là Văn miếu B́nh Ḥa. Ban đầu Văn miếu tỉnh được xây dựng ở khu vực Ḥn Tháp, nhưng do nước sông Cái Nha Trang thường làm xói lở nên đến năm 1849 (đời vua Tự Đức năm thứ 2), dời xuống phía đông, ngay nơi Văn miếu Diên Khánh hiện nay” (15)

  Riêng nhà nghiên cứu Nguyễn Man Nhiên th́ dựa vào “kư ức các vị bô lăo địa phương”, c̣n nhà nghiên cứu Quách Tấn và Ngô Văn Ban không biết dựa vào tài liệu nào mà lại khẳng định Văn miếu dời vào vùng đất Diên Khánh được xây dựng đầu tiên lại Ḥn Tháp và đến năm 1849 dời xuống địa điểm mà hiện nay là Văn miếu Diên Khánh?

  Trước tiên ta xét Ḥn Tháp là đất thuộc xă Đại An (sau đổi thành xă Đại Điền, và sau đó phân thành tứ thôn và Ḥn Tháp thuộc thôn Đại Điền Tây), chứ không phải thuộc xă Phú Lộc. Ḥn Tháp thuộc phía tây của xă Phú Lộc và thành Diên Khánh. Đại Nam nhất thống chí soạn thời vua Tự Đức ghi chép về Văn miếu Khánh Ḥa: “Ở phía tây bắc ngoài tỉnh thành, thuộc địa phận xă Phú Lộc” (16)

   Sau khi di kiến từ xă Phước An, huyện Tân Định th́ dựng ngay tại đất xă Phú Lộc, chứ không hề xây dựng ở khu vực Ḥn Tháp nào cả! Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định soạn xong năm 1806 viết về Văn miếu tại xă Phú Lộc: “ Chí đại giang, giang bắc thuộc Hoa Châu huyện, phụ lũy Phú Lộc xă địa phận, tự bắc nhi thượng, cửu bách lục thập ngũ tầm, hữu tân kiến Văn Thánh miếu tam ṭa, hôi tường, mao cái, lễ sanh tam thập tam nhân, phụ lũy dân tam thập nhân, tự thừa nhất nhân” (Đến sông lớn[sông Phú Lộc, nơi có cầu Hoa Bông, nay là cầu Thành- TG], phía bắc sông là xă Phụ lũy Phú Lộc thuộc huyện Hoa Châu. Từ phía bắc đi lên 965 tầm có 3 ṭa miếu Văn Thánh mới lập, tường vôi mái tranh, lệ cắt cử lễ sanh 33 người và dân phụ lũy 30 người, từ phu 1 người) (17)

   Từ cầu Hoa Bông (nay là cầu Thành) lên đến Văn Thánh miếu là 965 tầm (mỗi tầm tương đương 2, 12m) . Như vậy chiều dài quy ra mét là 2.045m. Đó là đường đi quanh co thời ấy, hiện nay từ cầu Thành lên đến địa điểm có Văn miếu Khánh Ḥa trước đây khoảng 1500m .

    Theo Địa bạ Gia Long năm 1811 khu vực đất có Văn Thánh miếu trên địa phận xă phụ lũy Phú Lộc là 3 mẫu, 4 sào( 1 khoảnh) (18).

   Như vậy thông tin cho rằng Văn miếu Khánh Ḥa dựng lúc đầu vào năm 1803 tại địa điểm Ḥn Tháp và đến năm 1849 cho di dời về phía đông là hoàn toàn sai lạc không có căn cứ.

   Chúng ta cũng cần phân biệt là miếu được di dời từ địa điểm A sang địa điểm B gọi là “di kiến”, c̣n ở tại vị trí cũ được sửa sang lại gọi là “trùng tu” hoặc “tu bổ”.

   Đầu năm 1948 theo lệnh “tiêu thổ kháng chiến” của Việt Minh, Văn miếu Khánh Ḥa bị đốt cháy hoàn toàn, nhưng may thay chiếc đại hồng chung không để trong Văn miếu nên thoát khỏi biển lửa và hiện nay Văn miếu Diên Khánh đang kế thừa đại hồng chung ấy (trên thân đại hồng chung không có khắc chữ nào cả nên không thể biết niên đại của nó).

   Từ năm 1948 đến năm 1959, diện tích 3 mẫu 4 sào đất của Văn miếu Khánh Ḥa trở thành công thổ của làng Phú Lộc, nền Văn miếu Khánh Ḥa trở nên hoang vu, một số hộ dân Công giáo xung quanh đă đến đống gạch đổ nát ấy để thu nhặt những viên gạch vồ c̣n nguyên vẹn đem về sử dụng.

    Ngoài ra trong tác phẩm Xứ Trầm hương cho độc giả biết về Văn miếu Khánh Ḥa: “Hiện nay miếu chỉ c̣n là một ngôi nhà ngói ba gian hai chái, trung trung, và cũ kỹ” (19). Xin khẳng định là sau năm 1948 Văn miếu Khánh Ḥa tại làng Phú Lộc chỉ là một đống hoang tàn. Những điều mà cụ Quách Tấn mô tả ở trên, đó là những cơ sở của Văn miếu Diên Khánh được di dời từ địa điểm ở G̣ Ṣng thuộc làng Phước Tuy (xă Diên Phước) về cất trên nền bỏ hoang của Văn miếu Khánh Ḥa tại làng Phú Lộc (xă Diên Thủy)vào năm 1959.

    Văn miếu Khánh Ḥa thời hiện đại 

  Năm 1958 Tỉnh Hội Khổng Học Khánh Ḥa được thành lập và do Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa bị thiêu hủy vào năm 1948 nên chưa có nơi để Tỉnh hội tổ chức tế tự, hàng năm việc cử hành lễ Thánh đản

(ngày 27/08 âm lịch là ngày sinh Đức Khổng tử), Tỉnh hội phải nhờ địa điểm Văn chỉ Vĩnh Xương (thôn Phương Sài, xă Nha Trang Tây, nay là 123 đường Phương Sài, phường Phương Sơn, Nha Trang).

   Ngày 23.10.1963 Thiếu tá Tỉnh trưởng Khánh Ḥa là Lê Tập cấp giấy phép cho Tỉnh hội Khổng học Khánh Ḥa làm sở hữu chủ một khu đất với diện tích 1980 mét vuông tại thôn Phước Hải (nay ở số 30 đường Lê Hồng Phong).

    Ngày 19.08.1964 Thiếu tá Tỉnh trưởng Khánh Ḥa là Nguyễn Thọ Lộc cấp giấy phép xây dựng Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa. Ngày 31.08.1964 lễ mở móng khởi công xây dựng Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa và đến tháng 07.1965 công việc xây cất được hoàn tất (20). Từ đây Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa trở thành nơi cúng tế và sinh hoạt của Tỉnh hội Khổng học Khánh Ḥa. Việc cúng tế và sinh hoạt của Văn miếu Khánh Ḥa kéo dài đến ngày 02.04.1975 th́ chấm dứt. Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa được chính quyền cộng sản dùng làm Trụ sở Ủy ban Phường Phước Hải. Hiện nay đi ngang qua Ủy ban Phường Phước Hải số 30 đường Lê Hồng Phong ta sẽ thấy những họa tiết trang trí trên nóc mái Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa vẫn c̣n lưu giữ tới hôm nay.

    Những đồ từ khí ở Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa đi về đâu?

   Sau ngày 02.04.1975 chế độ cộng sản tự động tịch thu Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa ở đường Lữ Gia (nay là Lê Hồng Phong), tất cả đồ từ khí trong Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa vẫn giữ y nguyên. Sau khi biến Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa thành Trụ sở Ủy ban phường Phước Hải th́ không biết những đồ từ khí ấy lưu lạc về đâu?

   Trung tuần tháng 10.2014 tôi đi tham quan đ́nh Phước Hải, kế cận bên tay phải của đ́nh Phước Hải là miếu Bà Thiên Y. Trong miếu Bà Thiên Y có một cái đại hồng chung, tôi đến bên để quan sát và thấy trên 4 ô h́nh chữ nhật trên cùng của thân đại hồng chung có khắc sâu vào 4 đại tự bằng chữ Hán: KHỔNG HỌC TỈNH HỘI  và một ô chính giữa thân đại hồng chung có khắc 4 chữ Hán nhỏ hơn cũng cùng nét chữ như bốn chữ “ Khổng học Tỉnh hội” : ĐINH VỊ (MÙI) THU TẠO . (Tạo vào mùa thu năm Đinh Mùi). Như vậy chúng ta có thể khẳng định, đại hồng chung này được Văn miếu Khánh Ḥa làm sở hữu chủ vào năm 1967 sau khi Văn miếu xây cất xong. Đại hồng chung này không phải của Văn miếu đặt đúc mà mua lại của cơ sở đúc chuông, bởi v́ trên ṿng thân đại hồng chung có đúc nổi các chữ : Phật nhật tăng huy, Pháp luân thường chuyển.

    Tôi hỏi ông từ giữ đ́nh : Đại hồng chung của Văn miếu Khánh Ḥa ở đường Lữ Gia sao lại ở miếu Bà Thiên Y vậy? Ông từ đ́nh cũng là dân sinh sống lâu đời ở phường Phước Hải vui vẻ trả lời: Cách nay khoảng 10 năm, ông Nguyên lúc ấy làm Chủ tịch phường Phước Hải đem cái đại hồng chung này tặng cho miếu Bà Thiên Y làng Phước Hải. Hiện nay ông Nguyên làm Bí thư phường Phước Hải.

    Đại hồng chung của Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa đang lưu lạc tại miếu Bà Thiên Y làng Phước Hải, c̣n những đồ từ khí khác th́ hiện đang lưu lạc về phương trời nào? Ngẫm mà đau xót!

    Văn miếu tỉnh Khánh Ḥa giống như con chim đầu đàn, mà con chim đầu đàn đă mất th́ mọi sinh hoạt về Nho học trong tỉnh bị tàn lụi như Văn chỉ Vĩnh Xương, hoặc hoạt động một cách tự phát như Văn miếu Diên Khánh, Văn chỉ Ninh Ḥa mà không được sự chỉ đạo của chính quyền tỉnh.

                                            

                      Nguyễn Văn Nghệ

                  Diên Khánh- Khánh Ḥa

 

        Chú thích:

1-         Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa, tập 1 , trang 25; tập 2, trang 384; tập 5, trang 74.

2-         Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Giáo dục, trang 300.

3-         Đại Nam nhất thống chí tập 3, Sđd, trang 93.

4-         Đại Nam thực lục tập 1, Sđd, trang 684.

5-         Trạm cũ Toàn Thạnh tọa lạc tại xă Toàn Thạnh( sau đổi thành xa Mỹ Hiệp. Gần khu vực ga xe lửa Ninh Ḥa hiện nay.

6-         Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Phan Đăng dịch và chú giải), Nxb Thuận Hóa. Phần chữ Hán trang 1681(9b); Phần dịch nghĩa trang 48.

7-         Ban Quản lư Văn chỉ Ninh Ḥa, T́m hiểu Khổng miếu Ninh Ḥa, Tập san lưu hành nội bộ số 1, 2003, trang 54.

8-         Lê Quang Định, Sđd. Phần chữ Hán trang 1681(9b); Phần dịch nghĩa trang 48.

9-         Đại Nam thực lục tập 1, Sđd, trang 546.

10-    Đại Nam thực lục tập 1, Sđd , trang 552.

11-    Đại Nam nhất thống chí Quyển 10&11 Tỉnh Phú Yên&Khánh Ḥa. Nha Văn hóa, Bộ Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng Ḥa, 1964, trang 95.

12-    Đại Nam thực lục tập 1, Sđd, trang 733.

13-    Đại Nam thực lục tập 3, Sđd trang

14-    Quách Tấn, Xứ Trầm Hương, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Ḥa, trang 229.

15-    Ngô Văn Ban, Lịch sử- Văn hóa Khánh Ḥa những ghi chép, Nxb Đà Nẵng, trang 212.

16-    Đại Nam nhất thống chí tập 3, Sđd, trang 117.

17-    Lê Quang Định , Sđd, Phần chữ Hán trang 1673(13b); Phần dịch nghĩa trang 51-52.

18-    Nguyễn Đ́nh Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn- Khánh Ḥa, Nxb TP.HCM, 1997, trang 210.

19-    Quách Tấn, Sđd, trang 229

20-    Xem tập sách Kỷ niệm khánh thành Văn miếu Khánh Ḥa mùa hè 1967

 

 

 

 

 


 
Nguyễn Văn Nghệ

 

7/2017

 

 

 

 

 

 

                                            

 

 

 

 

Thơ & Truyện Nguyễn Văn Nghệ           |             www.ninh-hoa.com