Thơ & Truyện Nguyễn Văn Nghệ            |             www.ninh-hoa.com

NGUYỄN VĂN NGHỆ

Người làng Phong Ấp, xă Ninh Binh, Ninh Ḥa.

Tốt nghiệp K.19 Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa Học Huế

 

 

Hiện cư ngụ tại UK


 

 

 

 

 

 

 

HUYỆN TÂN ĐỊNH ĐƯỢC TÁI SINH
Nguyễn Văn Nighệ
 

  

 Chiều ngày 07/07/2015 toàn thể đại biểu dự kỳ họp thứ 10, Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Khánh Ḥa khóa V đă thông qua nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chánh Thị xă Ninh Ḥa để thành lập huyện mới Tân Định.

Địa giới hành chánh huyện mới Tân Định: Phía Đông giáp Thị xă Ninh Ḥa và huyện Vạn Ninh; Phía Tây giáp huyện M’Drak tỉnh Daklak và huyện Khánh Vĩnh; Phía Nam giáp huyện Khánh Vĩnh; Phía Bắc giáp huyện M’Drak tỉnh Daklak và huyện Sông Hinh tỉnh Phú Yên.

Huyện Tân Định trong quá khứ.

Tháng 3 năm Quư Tỵ(1653), vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm xâm lấn Phú Yên, chúa Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lộc (không rơ họ) làm Thống binh, Xá sai Minh Vũ (không rơ họ) làm Tham mưu, lănh 3000 quân đi đánh. Quân vượt đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, đánh thẳng vào thành, nhân đêm phóng lửa đánh gấp, cả phá được. Bà Tấm trốn chạy. Lấy được đất đến sông Phan Rang. Bà Tấm sai con là Xác Bà Ân mang thư xin hàng. Hùng Lộc đem việc báo lên. Chúa y cho, khiến lấy sông Phan Rang làm giới hạn, từ phía đông sông đến địa đầu Phú Yên chia làm hai phủ là Thái Khang(nay là Ninh Ḥa) và Diên Ninh(nay là Diên Khánh). Phủ Thái Khang có hai huyện: Quảng Phước và Tân Định; phủ Diên Ninh có ba huyện: Phước Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu. Đặt dinh Thái Khang(nay là Khánh Ḥa) cho Hùng Lộc trấn giữ (1)

Như vậy đơn vị hành chánh huyện Tân Định được khai sinh từ năm 1653. Những ghi chép về huyện Tân Định trong sử sách rất mờ nhạt.

Huyện Tân Định thời vua Gia Long đến thời vua Tự Đức

Tháng 11 năm Canh Ngọ(1810) vua Gia Long “hạ lệnh cho từ Quảng B́nh trở về Nam đến B́nh Ḥa( nay là Khánh Ḥa- TG) làm địa bạ. Chiếu rằng: “Chính sự tốt trước hết là từ cương giới. Triều trước kinh lư việc dân, ruộng đất có sổ, cương giới rơ ràng. Từ khi biến cách về sau(nội chiến giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn-TG), sổ sách tản mát, đầu thời trung hưng chưa kịp sửa chữa. Gián hoặc có người xin trưng và tranh kiện, th́ phần nhiều mờ mịt, không do đâu mà quyết định. Vậy hạ lệnh cho các dinh trấn báo khắp cho xă dân, đều cứ theo số ruộng đất công tư, thực trưng và bỏ hoang, ghi rơ mẫu sào, đẳng hạng ,xứ sở, bốn bên, hạn trong ba tháng làm xong sổ dâng lên. Quan sở tại phải nghiêm cấm nha lại, không được tạ sự quấy nhiễu” (2)

Qua các địa bạ của các xă, thôn trong huyện Tân Định khai báo năm 1811 c̣n lưu giữ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia được nhà nghiên cứu Nguyễn Đ́nh Đầu hệ thống và cho xuất bản tác phẩm “Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn- Khánh Ḥa” vào năm 1995. Từ đó chúng ta mới biết vào năm 1811 huyện Tân Định có 3 tổng: tổng Hạ, tổng Thượng, tổng Trung (3)

                       Tổng Hạ gồm có 10 xă, 8 thôn, 1 xứ :

   - An Phú xă                        - Mỹ Thuận thôn

   - An Phước thôn                - Ng̣i Láng thôn

   - An Thạnh Đông xă           - Phú Lộc xă

   - An Thạnh Tây xă             - Phước Thạnh xă

   - Bàu Than xứ                    - Tân Lập thôn

   - Hội An xă                        - Thanh Châu xă

   - Hội B́nh xă                     - Thuận An xă

   - Mỹ An Đông xă                - Vạn An xă

   - Mỹ An Tây thôn               - Vạn Phước thôn

   - Mỹ Chánh thôn

     Đường thiên lư đi qua các xă, thôn, xứ của tổng Hạ huyện Tân Định: An Thạnh Tây x. (1959 tầm), Bàu Than xứ (305 tầm), Mỹ An Tây t.(210 tầm), Phú Lộc x.(1850 tầm), Thuận An x.(104 tầm 2 thước 5 tấc), Vạn An x.(55 tầm),Vạn Phước t.(500 tầm).

                   Tổng Thượng gồm có 14 xă, 18 thôn:

 - An Đằng An Thuận thôn           - Ḥa An xă

 - An Lâm thôn                             - Hội Sơn thôn

 - An Phú Lộc Sơn thôn                - Mỹ Lộc xă

 - An Xuân xă                               - Ngọc An thôn

 - Bàu Đá thôn                              - Phú Mỹ xă

 - B́nh An xă                                - Phú Quư thôn

 - Chiêm Dân Đồng Hương xă     - Phước An thôn

 - Diêm Tràng xă                           - Quy Phú xă

 - Đại An xă                               - Sơn Điền Nàng Hai thôn

 - Đông An thôn                          - Tân An xă

 - Đồng Cam thôn                       - Thạnh An tứ chánh thôn 

  - Đồng Tre thôn                          - Thạnh Toàn xă

 - Đồng Xuân thôn                         - Thuận An xă

 - G̣ Găng Đại thôn                      - Trường Lộc xă

 - G̣ Găng tiểu thôn                      - Tứ Chánh thôn

 - G̣ Trại thôn                              - Vạn Toàn thôn

Các xă Đồng Xuân, xă Ḥa An và thôn Ngọc An đă mất địa bạ. Tổng Thượng, huyện Tân Định không có đường Thiên lư đi qua. Riêng xă Chiêm Dân Đồng Hương  (nay thuộc xă Ninh Thượng) có sở đất diện tích 6 thước 2 tấc là thần từ miếu thờ Thiên Y. Theo lời truyền miệng của người xưa là cho đến thời vua Gia Long xă Chiêm Dân Đồng Hương vẫn c̣n người Chiêm Thành (Chàm) sinh sống cho nên mới có tên “ Chiêm Dân”.

          Tổng Trung có 13 xă , 9 thôn

- An Ấp xă ( nay là Phong Ấp)   - Phước An thôn

- An Ḥa xă (Xuân Ḥa)           - Phước An xă (Phước Lư)

- An Phụng xă (Nghi Phụng)      - Phước Lộc xă

- An thành xă (B́nh Thành)     - Quang Hiện thôn (Quang Vinh)

- Đồng Dài thôn                          - Tân Thủy thôn

- Hương Thạnh xă                       - Thạch Thành xă

- Mỹ Cang thôn (Phụng Cang)    - Thạnh Mỹ xă

- Mỹ Hoa xă (Mỹ Lợi)                - Toàn Thạnh xă (Mỹ Hiệp)

- Phú Đa thôn ( Phú Đa )             - Tuân An thôn (Tuân Thừa)

- Phú Ḥa thôn                            - Vĩnh Phước thôn

- Phú Vinh xă                             - Xuân An xă ( Điềm Tịnh)

Hai thôn mất địa bạ thôn Phú Ḥa (An Phú Ḥa Hương) và thôn Tân Thủy. Đường Thiên lư qua hai xă của tổng Trung: xă Toàn Thạnh (911 tầm) và xă Mỹ Hoa (830 tầm).

    Đầu đời Gia Long chưa đặt chức Tri phủ phủ B́nh Ḥa và chức Tri huyện huyện Tân Định, công việc hành chánh do Quản đạo đồn B́nh Ḥa quản lư. Năm Minh Mạng thứ nhất(1820) bỏ chức Quản đạo đồn B́nh Ḥa, đặt Tri huyện huyện Tân Định kiêm lư công việc huyện Quảng Phước. Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), bỏ chức Tri huyện huyện Tân Định, giao cho Phủ kiêm lư. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) đặt lại chức Tri huyện huyện Tân Định, thuộc Phủ thống hạt (4)

      Huyện lỵ của huyện Tân Định ở xă Mỹ Thạnh (sau đổi Mỹ Hiệp- TG), dựng năm Minh Mạng thứ 13 (1832)

     Dưới thời vua Gia Long, tổng Hạ huyện Tân Định không tiếp giáp với đầm Nha Phu, do các xă, thôn ven biển nằm dưới sự quản lư của đơn vị hành chánh thuộc Hà Bạc, huyện Quảng Phước. “Buổi quốc sơ mở mang bờ cơi, dựng lập phủ huyện, hễ những nơi gần núi, ven biển th́ lập làm Thuộc” (5). Đến tháng 5 năm Đinh Hợi (1827) “ Đổi các Thuộc từ Thừa Thiên trở vào Nam đến B́nh Ḥa làm Tổng, cho thuộc các huyện sở hạt. Trước đây Thuộc vẫn là Thuộc, không lệ vào huyện, đến bây giờ mới sai xét theo địa thế, nơi nào gần tiện th́ đổi lệ vào” (6). Như vậy những xă thôn ven biển của Thuộc Hà Bạc trước đây giáp với huyện Tân Định từ đây được sáp nhập vào huyện Tân Định.

  Vào cuối thời vua Tự Đức huyện Tân Định lănh 3 tổng 74 xă thôn và chỉ ghi vắn tắt như vậy mà thôi, không thấy ghi tên các xă, thôn. (7)

  Huyện Tân Định thời vua Đồng Khánh

 Theo như quyển Đồng Khánh dư địa chí tỉnh Khánh Ḥa bằng chữ Hán được soạn vào đầu thời vua Đồng Khánh (1886-1888)ghi chép về huyện Tân Định:, “ Ninh Ḥa phủ thống hạt, huyện lỵ tại Hiệp Trung tổng, Mỹ Thạnh xă địa phận, tứ diện trúc ly, thông trường tam thập trượng…Huyện hạt tam tổng, đinh cai nhất thiên tam bách bát thập nhị nhân” (thuộc phủ thống hạt, huyện lỵ ở tại địa phận xă Mỹ Thạnh, tổng Hiệp Trung, bốn mặt rào tre, chu vi 30 trượng…Trong huyện có 3 tổng dân đinh cộng là 1382 người).

      Quyển Đồng Khánh dư địa chí là quyển địa chí duy nhất dưới triều Nguyễn có ghi rơ tên tổng, xă, thôn trong tỉnh Khánh Ḥa. Huyện Tân Định gồm 3 tổng, 74 xă, thôn, ấp, hộ.

Tổng Thân Thượng (thời Gia Long là tổng Thượng) gồm 25 xă, thôn, ấp:

- Nghi Xuân xă     - Đồng Hương xă    - Tân Lâm xă   - Tân Phong xă

- Mỹ Thành xă       - Nhĩ Sự xă              - Đại Cát xă     - Ngũ Mỹ xă

- Vạn Hữu xă         - Phú Hội thôn         - Dục Mỹ thôn - Đại Tập thôn

-Đại Mỹ thôn   - Phước Lâm thôn   - Vân Thạch thôn – Tương Lạc thôn

- Phụ Đằng thôn    - Tân Tứ ấp           - Thuận Lễ xă     - Tân Lộc xă

- Ḥa Thuận thôn  - Tân Quư ấp      - Gia Kỳ thôn   - Trường Lộc xă

-Tân Trúc ấp.

Tổng Hiệp Trung (thời Gia Long là tổng Trung) gồm 22 xă, thôn:

- Phú Lễ xă        - Điềm Tĩnh xă (8)   - Nghi Phụng xă   - Xuân Ḥa xă

- B́nh Thạnh xă   - Mỹ Thạnh xă      - Phước Lư xă    - Hương Thạnh xă

- Phú Ḥa xă        - Thạch Thành xă      - Phong Ấp xă   - Phú Lộc xă

- Thạnh Mỹ xă     - Phụng Cang xă       - Mỹ Ḥa xă      - Phước Mỹ xă

- Quang Vinh xă  -Phú Đa xă      -Vĩnh Phước thôn  - Tuân Thừa thôn

- B́nh Trị thôn    - Trường Châu thôn

          Tổng Ích Hạ (thời Gia Long là tổng Hạ) gồm 27 xă,thôn, hộ:

- Phong Phú xă    - Hội Phú xă         - Thanh Châu xă - Hậu Phú xă

- Phong Thạnh xă  - Vạn Khê xă  - Thuận Ḥa xă   - Mỹ Trạch xă

- Phú Hữu xă       - Hội B́nh xă    - Vạn Phước thôn- Mỹ Chánh thôn

- Phú Thứ thôn    - Phú Thạnh thôn    - Hà Liên thôn    - Mỹ Lợi thôn

- Tân Khê thôn   - Tân Ngọc thôn    - Cát Lợi thôn  - Ngọc Diêm thôn

- Tân Thủy thôn  - Tam Ích thôn   - Lương Sơn thôn  - Mỹ Thuận thôn

- Tân Phú thôn    - Ninh Đức thôn     - Tân Kiều hộ

  Giai đoạn này tổng Ích Hạ (trước là tổng Hạ) được mở rộng giáp giới ven đầm Nha Phu

Huyện Tân Định sau thời vua Đồng Khánh

Theo như một số Niên giám hành chánh Đông Dương phần tỉnh Khánh Ḥa bằng tiếng Pháp các năm 1899, 1910, 1914, 1915, 1917, 1918, 1919, 1920, 1921, 1922, 1924, 1928, 1931 đang lưu giữ tại Thư viện tỉnh Khánh Ḥa cho thấy số xă ,thôn trong huyện Tân Định dao động trong khoảng 73-75 xă thôn. Năm 1910 và 1914,huyện Tân Định có 73 xă thôn (tổng Hiệp Trung 22 xă thôn; tổng Thân Thượng 23 xă thôn; tổng Ích Hạ 28 xă thôn). Năm 1915, 1917, 1918 huyện Tân Định có 74 xă thôn. Năm 1919, 1920, 1921 có 75 xă thôn. Năm 1922 và 1924 có 74 xă thôn. Riêng năm 1928 và 1931 số tổng trong huyện Tân Định tăng lên 4 tổng (tên tổng thứ 4 tôi chưa cập nhật được) và số xă thôn tăng lên 88 xă thôn.

Số dân đinh năm 1899 là 1737; 1910 là 2795; 1915: 2972; 1918: 3096; 1921: 3180; 1922: 3457; 1924: 3992; 1928: 5741; 1931: 6512

Phủ Ninh Ḥa thống hạt huyện Tân Định

 Tháng 10 năm Bính Tuất (1826) bắt đầu đặt chức Tri phủ ở các phủ B́nh Ḥa (sau đổi Ninh Ḥa)và phủ Diên Khánh, sai quan dinh trấn chọn đất làm phủ lỵ để ở (phủ B́nh Ḥa kiêm lư huyện Quảng Phước, phủ Diên Khánh kiêm lư huyện Hoa Châu, các phủ lỵ đều đặt ở nơi huyện kiêm lư) (9)

     Phủ lỵ Ninh Ḥa đầu tiên ở tại xă Phước Đa , huyện Quảng Phước (tả ngạn sông Dinh), năm 1831 dời qua thôn Vĩnh Phú cũng thuộc huyện Quảng Phước Phước. Sau nhân có biến cố phủ lỵ Ninh Ḥa dời qua xă Thạnh Mính, tổng Phước Hà ,huyện Quảng Phước (xă Thạnh Mính tức thôn Thạnh Danh, Ninh Diêm hiện nay. Xét theo nguyên văn chữ Hán th́ phải đọc Thạnh Mính chứ không phải Thạnh Danh. Bởi v́ viết theo nét chữ Hán : bên trên chữ “Danh” có bộ “Thảo đầu” phải đọc là “Mính”, nhưng riêng ở làng Thạnh Danh có trường hợp ngoại lệ, viết chữ “Mính” nhưng lại đọc là “Danh”. Cho nên các dịch giả nếu không am tường địa phương khi dịch văn bản sẽ ghi là “Thạnh Mính”). Thời Đồng Khánh(1886-1888) phủ lỵ Ninh Ḥa vẫn c̣n tại thôn Vĩnh Phú ,bốn mặt rào tre, chu vi 68 trượng.(Phủ lỵ tại Phước Khiêm tổng, Vĩnh Phú thôn địa phận, tứ diện trúc ly, thông trường lục thập bát trượng). Sau đó phủ lỵ Ninh Ḥa lại được dời về chỗ cũ  xă Phước Đa. ( Hiện nay địa điểm phủ lỵ Ninh Ḥa tại Phước Đa được mang tên là Phủ Cũ. Từ Ngă Ba Ngoài Ninh Ḥa đi vào hướng chợ Ninh Ḥa khoảng 200 mét rẽ phải là đường lên Phủ Cũ) (10). Do phủ lỵ Ninh Ḥa đóng trên địa bàn huyện Quảng Phước nên viên Tri phủ Ninh Ḥa kiêm lư huyện Quảng Phước (Kiêm lư là viên Tri phủ phủ Ninh Ḥa vừa làm việc phủ Ninh Ḥa, vừa coi cả việc huyện Quảng Phước, v́ huyện Quảng Phước không có viên Tri huyện) và thống hạt huyện Tân Định (Thống hạt là viên Tri phủ phủ Ninh Ḥa được quyền điều khiển và kiểm soát công việc của viên Tri huyện huyện Tân Định) .

 Dưới thời vua Duy Tân để tinh giảm bộ máy hành chánh th́ huyện nào có phủ lỵ th́ xóa bỏ đơn vị hành chánh của huyện ấy. Trước đây tỉnh Khánh Ḥa có 2 phủ(Diên Khánh và Ninh Ḥa) và 4 huyện( Phước Điền, Vĩnh Xương, Quảng Phước và Tân Định) th́ nay c̣n 2 phủ(Diên Khánh và Ninh Ḥa) và 2 huyện(Vĩnh Xương và Tân Định) (11) .

Đầu thập niên 30 của thế kỷ XX, thức dân Pháp mở Quốc lộ 21 (nay là QL 26) đi Daklak, cho nên phủ lỵ Ninh Ḥa được di dời từ Phước Đa sang địa bàn huyện Tân Định(nơi giáp ranh của làng Phong Ấp, Mỹ Hiệp và Phước Lư). Mặc dù Phủ lỵ đóng trên địa bàn huyện Tân Định nhưng đơn vị hành chánh huyện Tân Định vẫn hoạt động cho đến ngày triều Nguyễn cáo chung.

     Sau năm 1954 các đơn vị hành chánh phủ và huyện trước đây đều biến đổi thành đơn vị “Quận”. Phủ Diên Khánh trở thành quận Diên Khánh, huyện Vĩnh Xương thành quận Vĩnh Xương. Vào thời điểm ấy phủ lỵ Ninh Ḥa nằm trên địa bàn huyện Tân Định nên địa bàn huyện Tân Định trở thành quận Ninh Ḥa . Để cho phù hợp với địa danh hành chánh mới ,nên Văn chỉ huyện Tân Định (thờ Khổng tử cùng các tiên hiền, tiên nho) tọa lạc tại thôn Phước Lư  cũng đổi tên thành Văn chỉ Ninh Ḥa. Địa danh Tân Định được “khai tử” trên bản đồ hành chánh từ ấy.

Huyện Tân Định được “tái sinh”

  Ngày 25/10/2010 huyện Ninh Ḥa được nâng lên thành Thị xă Ninh Ḥa. Thị xă Ninh Ḥa (gồm 27 đơn vị hành chánh trực thuộc):

  - 7 phường: Ninh Hiệp (Thị trấn Ninh Ḥa trước đây), Ninh Giang, Ninh Đa, Ninh Hà, Ninh Diêm, Ninh Thủy, Ninh Hải.

  - 20 xă: Ninh Sơn, Ninh Thượng, Ninh Tây,Ninh Trung, Ninh An, Ninh Thọ, Ninh Sim, Ninh Xuân, Ninh Thân, Ninh B́nh, Ninh Quang, Ninh Phú, Ninh Phước, Ninh Vân, Ninh Ích,Ninh Lộc, Ninh Hưng, Ninh Tân, Ninh Đông, Ninh Phụng.

Theo như Nghị quyết của Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Khánh Ḥa vào chiều ngày 07/07/2015 về việc điều chỉnh địa giới hành chính Thị xă Ninh Ḥa để thành lập huyện mới Tân Định th́ diện tích huyện mới Tân Định là 80.313,52 ha, dân số 102.291 người của 12 đơn vị cấp xă phía tây của Thị xă Ninh Ḥa gồm các xă: NINH QUANG (có các thôn: Phú Ḥa; Phước Lộc;Quang Vinh; Tân Quang; Thạch Thành; Thạnh Mỹ;Thuận Mỹ;Trường Châu; Vạn Hữu), NINH B̀NH (gồm các thôn: B́nh Thành;B́nh Trị; Hiệp Thạnh; Ḥa Thuận;Phong Ấp; Phụ Đằng; Phước Lư;Tân B́nh; Tuân Thừa ), NINH TÂY( gồm các thôn, buôn: thôn Xóm Mới; Buôn Lác;Buôn Sim;Buôn Sông Búng; Buôn Suối Mít; Buôn Tương), NINH HƯNG( gồm các thôn: G̣ Sắn;Phú Đa;Phụng Cang; Phước Mỹ; Trường Lộc), NINH PHỤNG (gồm các thôn: Đại Cát; Điềm Tịnh; Nghi Phụng; Phú B́nh; Vĩnh Phước; Xuân Ḥa), NINH SIM( gồm các thôn: Đống Đa; Lam Sơn; Nông Trường, Tân Khánh 1; Tân Khánh 2; Tân Lập) NINH XUÂN( gồm các thôn: Ngũ Mỹ; Phước Lâm; Tân Mỹ; Tân Phong; Tân Sơn), NINH TÂN( gồm các thôn: Bắc; Nam; Trung; Suối Sâu), NINH THƯỢNG(gồm các thôn: Đồng Thân; Đồng Xuân; Tân Hiệp; Tân Lâm; Tân Tứ; Thôn 1; Thôn 2), NINH TRUNG(gồm các thôn: Mông Phú; Phú Sơn; Phú Văn; Quảng Cư; Tân Ninh; Thạch Định; Vĩnh Thạnh), NINH THÂN( gồm các thôn: Chấp Lễ; Đại Mỹ; Đại Tập; Lỗ Ḅ;  Mỹ Hoán; Nhĩ Sự; Suối Méc; Tân Phong) , NINH SƠN( gồm các thôn: 1; 2; 3; 4; 5).

Trung tâm hành chánh huyện dự kiến tại thôn Phước Lâm xă Ninh Xuân.

Huyện Tân Định sau khi được “khai tử” khoảng một “lục thập hoa giáp”(60 năm) nay được “tái sinh” .Huyện Tân Định “tái sinh”có diện tích nhỏ hơn huyện Tân Định vào thời vua Gia Long và cũng không có giáp đầm Nha Phu như thời vua Gia Long.

 

 o0o

  Chú thích:

 

1-   Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Giáo dục, trg 62.

2-   Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Giáo dục, trg 801.

3-   Nguyễn Đ́nh Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn- Khánh Ḥa, Nxb TP.HCM,trg 155-194.

4-    Đại Nam nhất thống chí tập 3, Nxb Thuận Hóa, trg 90-91.

Đại Nam nhất thống chí quyển 10&11 Tỉnh Phú Yên &Khánh Ḥa, Nxb Nha Văn hóa- Bộ Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng Ḥa 1964, trg 62-63.

5-    Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Giáo dục, trg 140.

6-   Đại Nam thực lục tập 2, Nxb Giáo dục, trg 618.

7-   Đại Nam nhất thống chí tập 3, Nxb Thuận Hóa, trg 91.

8-  Theo mặt chữ Hán phiên âm là “Điềm Tĩnh xă” nhưng dân địa phương lại phát âm là “Điềm Tịnh xă”.

9-   Đại Nam thực lục tập 2, Nxb Giáo dục, trg 546-547.

10- Đại Nam nhất thống chí quyển 10&11 Tỉnh Phú Yên&Khánh Ḥa, Nxb Nha Văn hóa- Bộ Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng Ḥa 1964, trg 69.

11-  Annuaire Administratif de L’Indochine 1910 (1914;1915; 1917; 1918; 1919; 1920; 1921; 1922; 1924; 1928; 1931) Province de Khanh Hoa, HaNoi Imprimerie d’Extrême- Orient, page 534 (270; 254; 246; 248; 255; 263; 268; 276; 291; 328; 379) (Niên giám hành chánh Đông Dương năm 1910 (1914; 1915…)tỉnh Khánh Ḥa, trang 534 (270, 246…) 

 

 

 

 

 


 
Nguyễn Văn Nghệ

 

8/2015

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ & Truyện Nguyễn Văn Nghệ           |             www.ninh-hoa.com