Thơ & Truyện Nguyễn Văn Nghệ            |             www.ninh-hoa.com

NGUYỄN VĂN NGHỆ

Người làng Phong Ấp, xă Ninh Binh, Ninh Ḥa.

Tốt nghiệp K.19 Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa Học Huế

 

 

Hiện cư ngụ tại UK


 

 

 

 

 

 

 

ĐỊA DANH
“CẦU LẮM”, “H̉N GIỐC THƠ”…


Nguyễn Văn Nghệ
 

  


       Có nhiều địa danh hiện nay khi phát âm sai với địa danh nguyên thủy và khi đọc lên không có nghĩa ǵ cả.

    1- Cầu Lắm hay Cầu Lấm?

   Hiện nay trên Quốc lộ I từ Ninh Ḥa vào Nha Trang đến địa phận xă Ninh Lộc, sẽ gặp một cây cầu và biển hiệu cây cầu ghi như sau:

 

CẦU LẮM

KM 1423+ 628 QL I

 

    Trong chương IV: Ninh Ḥa sông ng̣i trong tập tài liệu Quê hương Ninh Ḥa của tác giả Vinh Hồ có viết về sông Cầu Lắm: “Tên chữ là Ngọc Sơn, dài độ 16 km, phát nguyên từ Ḥn Bà (cao 1356m), trước khi ra vịnh Nha Phu, sông chia làm hai nhánh chảy ra hai cửa khác nhau…”  và có bài thơ: “Sông Cầu Lắm chảy ngập ngừng/ Chảy về Trường Lộc, Tân Hưng mây mù/ Chảy về cuối vịnh Nha Phu/ T́m em chỉ thấy trăng Thu giữa ḍng”(1)

 

    Tác phẩm Xứ Trầm Hương của Quách Tấn lại ghi là “sông Cầu Lấm”(2). Cũng cùng một địa điểm kẻ th́ ghi “Cầu Lắm”, người th́ ghi “Cầu Lấm”. Vậy th́ ai ghi đúng?

 

  Đại Nam nhất thống chí chỉ ghi là sông Ngọc Sơn mà thôi, không hề nhắc đến tên “Cầu Lắm” hoặc “Cầu Lấm”. Lần giở những trang sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định soạn xong năm 1806 : trên đường thiên lí, sau khi qua khỏi trạm Ḥa Mỹ rồi Núi Đất :“198 tầm đến cầu Ng̣i Lấm, cầu dài 3 tầm(1 tầm=2,12m-TG), thuộc địa phận xă Mỹ Hoa, nước trong nhưng nhiều bùn và mặn nên mới có tên là Cầu Lấm, đi lên 60 tầm đến phần ruộng xă Mỹ Hoa, đi xuống 700 tầm th́ đổ ra cửa biển Nha Tù”(3).Sách có phần chữ Hán nhưng không có phiên âm, xin phiên âm: (Nhất bách cửu thập bát tầm, chí Ng̣i Lấm kiều, kiều trường tam tầm, thuộc Mỹ Hoa xă địa phận, thủy trừng đa nê nính nhi hàm, cố danh Cầu Lấm, thượng lưu lục thập tầm, chí Mỹ Hoa xă điền, hạ lưu thất bát tầm, chú Nha Tù hải môn). (Tháng 2 năm Quí Tỵ[1833] đổi tên tấn sở Nha Tù ở Khánh Ḥa là Nha Phu)(4)

   Nê nính có nghĩa là bùn lầy. Do có bùn lầy cho nên dễ bị lấm bùn, nên mới có tên Cầu Lấm. Vậy để ghi đúng nên ghi là Cầu Lấm.

 

      2 - Ḥn Giốc Thơ hoặc Giốc Mơ hoặc Dốc Thờ?

 

       Chương III: Ninh Ḥa núi non trong tập tài liệu Quê hương Ninh Ḥa tác giả Vinh Hồ viết về ḥn Giốc Thơ: “cao 432m, có tên là núi Đá Vách hay g̣ Thạch Lũy…”(5)

   Tác phẩm Non nước Khánh Ḥa của Nguyễn Đ́nh Tư ghi: “Ḥn Giốc Thơ c̣n có tên là núi Đá Vách hoặc là g̣ Thạch Lũy…”.(6)

 

   Hiện nay ở thôn Ninh Đức xă Ninh Lộc có một gác chắn tàu lửa ghi:

GÁC CHẮN ĐƯỜNG NGANG

LƯ TR̀NH KM 1288 + 320

MỎ ĐÁ H̉N GIỐC MƠ

 

    Ư nghĩa của từ Giốc Thơ hoặc Giốc Mơ là ǵ? Trong tiếng Việt chữ “Giốc” chỉ có một nghĩa là một trong ngũ âm: cung, thương, giốc, chủy, vũ.

 

     Tôi hỏi thăm nhiều người dân trước đây đi t́m trầm kỳ ở thôn Phong Thạnh và Vạn Khê và họ cho biết trong vùng không có địa danh nào mang tên Giốc Thơ hoặc Giốc Mơ cả, chỉ có địa danh Dốc Thờ mà thôi! Họ cho biết là eo núi thấp kề mỏ đá ở thôn Ninh Đức chính là Dốc Thờ. Tại sao lại gọi là Dốc Thờ th́ không ai trả lời được.Ông Trần Đ́nh Khôi quê ở Phong Ấp xă Ninh B́nh kể với tôi là sau năm 1975, ông đă nhiều lần theo thân phụ băng qua Dốc Thờ( chứ không phải Giốc Thơ hoặc Giốc Mơ) để đi bứt mây rừng. Cũng theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí cho biết từ xă An Thạnh Tây (nay là thôn Phong Thạnh, xă Ninh Lộc-TG) đi đến phủ Diên Khánh có hai con đường: “Đến điếm cũ G̣ Bông, thuộc địa phận xă An Thạnh Tây, tục gọi là quán Suối Trâm. Ngày trước ở đây có lập điếm xá, nhưng nay không c̣n…Phía tây điếm này có hai nhánh đường: Một nhánh đi đến đồng Tổng Nô phủ Diên Khánh, tục gọi đường đèo Nhà Thờ, đường này có nhiều cọp beo và voi rừng nên chẳng ai dám đi, nay đă trở nên tắc nghẽn hoang phế, một nhánh đến đèo Lũy Đá, đường này có rất nhiều người đi lại”(7) ( Chí G̣ Bông cựu điếm, thuộc An Thạnh Tây xă địa phận, tục danh quán Suối Trâm. Tích thời hữu lập điếm xá, kim vô thử…Thử điếm chi tây, hữu lưỡng chi, nhất chi lộ đạt chí Diên Khánh phủ Tổng Nô đồng, tục danh đường đèo Nhà Thờ. Thử lộ đa hữu lang, lâm tượng nhiễu loạn, nhân bất cảm hành, dĩ trăn vu ủng tắc; nhất chi đạt chí Lũy Đá đèo, hành nhân đa văng phản”

 

    Nhân đây cũng nhắc thêm về đèo Lũy Đá ( đèo Rọ Tượng): “ Đến đèo Lũy Đá, đèo dài 200 tầm, phía bắc đèo thuộc xă An Thạnh Tây, phia nam thuộc xă Phú Lộc (nay là thôn Phú Hữu, xă Ninh Ích- TG). Ngày xưa người mán lợi dụng thế núi gần biển mà đắp lũy bằng đá rất vững chắc nên mới có tên là đèo Lũy Đá, núi này đất đá gồ ghề, đường đi gập ghềnh, cây cối hai bên rất rậm rạp và có rất nhiều cọp beo”(8) ( Chí Lũy Đá đèo, đèo trường nhị bách tầm, đèo bắc thuộc An Thạnh Tây xă, đèo nam thuộc Phú Lộc xă. Tích thời thổ man nhân thử lănh y sơn cận hải, trúc thạch lũy dĩ phụ cố. Cố tục danh đèo Lũy Đá. Thử lănh thế thạch đột ao. Hành tŕnh khi khu, lưỡng bàng lâm mộc mậu thịnh, đa hổ lang).

 

    Thời vua Gia Long tại khu vực đèo Lũy Đá có thôn Lũy Đá thuộc thuộc Hà Bạc, huyện Quảng Phước. Thôn Lũy Đá nay không c̣n địa bạ, nhưng căn cứ vào địa bạ xă Phú Lộc (nay là thôn Phú Hữu, xă Ninh Ích- TG), tổng Hạ,huyện Tân Định: “Đông giáp địa phận thôn Lũy Đá (thuộc Hà Bạc, huyện Quảng Phước)”(9)

 

    Đường đèo Nhà Thờ bắt đầu từ xă An Thạnh Tây ( nay là Phong Thạnh) và đi vào đến xă An Lộc (sau đổi thành Thiên Lộc, rồi Đắc Lộc, nay thuộc xă Vĩnh Phương- TG): “86 tầm đến xứ Quán Trà, tức cuối địa giới phủ B́nh Ḥa, đầu địa giới phủ Diên Khánh… 396 tầm, hai bên đều là núi rừng, nhiều cọp beo, tục gọi đèo Tổng Nô, đến Lũng Tre, thuộc xă An Lộc, huyện Hoa Châu, phủ Diên Khánh, lũng dài 774 tầm…đường này mới mở, phía tây bắc là núi rừng xen lẫn với dân cư rất thưa thớt, phía tây nam là ruộng vụ thu, lại có đường cũ đèo Nhà Thờ đi thẳng đến điếm G̣ Bông thuộc phủ B́nh Ḥa”(10) (bát thập lục tầm chí Quán Trà xứ, tức B́nh Ḥa phủ giới mạt, Diên Khánh phủ giới thủ… tam bách cửu thập lục tầm, lộ lưỡng bàng lâm sơn đa hữu hổ lang. Tục danh đèo Tổng Nô. Chí Lũng Tre, thuộc Diên Khánh phủ, Hoa Châu huyện, An lộc xă, lũng trường thất bách thất thập tứ tầm…kỳ lộ tân trúc, tây bắc sơn lâm gian hữu dân cư hy sơ, tây nam tịnh hữu thu điền, tái hữu cựu lộ Nhà Thờ đèo, đạt B́nh Ḥa phủ, G̣ Bông điếm).

 

      Đèo Nhà Thờ, dốc Nhà Thờ lâu ngày được người dân gọi tắt là Dốc Thờ và được gọi sai lạc thành Giốc Thơ, Giốc Mơ.

 

     Tại sao gọi là đèo Nhà Thờ? Vào thế kỷ XVII- XIX ở nước ta chỉ có những nơi thờ tự của người theo đạo Da tô (Công giáo)được gọi là “đạo đường” hoặc “nhà thờ” mà thôi. Theo lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam trước đây tại vùng đất Ninh Ḥa hiện nay có xứ đạo kỳ cựu là Nha Ru.Cuối tháng 8 năm 1671 Giám mục Lambert de La Motte sau khi đến thăm bổn đạo tại xứ đạo Lâm Tuyền (nay là giáo xứ Chợ Mới, Ngọc Hội xă Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang) và sau đó ra thăm bổn đạo của xứ đạo Nha Ru. Ngày nay hỏi địa điểm xứ đạo Nha Ru th́ không ai biết nữa. Có thể nhà thờ Nha Ru ở gần Dốc Thờ hiện nay cho nên mới có tên đèo Nhà Thờ?

 

        3 - Cầu Tiền Đao

 

   Ông Trần Đ́nh Khôi ở thôn Phong Ấp xă Ninh B́nh cho tôi biết là trên Quốc lộ I kề phía ngoài Ngă Ba Ngoài Ninh Ḥa có cây cầu hiện mang tên cầu Phước Đa nhưng những người dân sống gần cầu không gọi là cầu Phước Đa mà có kẻ gọi cầu Giồng Đao, người gọi cầu Ḥn Đao. Vậy tên chính xác ngày xưa là ǵ?

    Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, trên đường thiên lí, sau khi qua đèo Bánh Ít th́ “đến cầu Tiền Đao. Cầu dài 11 tầm, khoảng rộng bên dưới cầu là chỗ chứa nước, mùa xuân hè th́ cạn, thu đông do mưa lụt nên sâu. Phía đông cầu cách 340 tầm vẫn c̣n nền cũ công đường dinh B́nh Ḥa, v́ đặt trại thủy quân tiền đao ở đây nên mới gọi là cầu Tiền Đao”(11) (Chí Tiền Đao kiều, kiều trường thập nhất tầm, kiều hạ điền gian thủy đạo trư tụ, xuân hạ thiển, thu đông vũ lạo thâm. Kiều đông tam bách tứ thập tầm, hữu cựu B́nh Ḥa dinh công đường cơ chỉ thượng tồn. Duyên trí Tiền Đao thuyền quân trại trú tại thử, cấu lập thử kiều, cố danh cầu Tiền Đao)

 

     4 - Cầu Ngói

 

   Trên Quốc lộ I từ Bắc vào Nam khi bắt đầu đến địa giới xă Diên Phú, huyện Diên Khánh có cây cầu mang tên cầu Đá Lố. Khi c̣n bé chúng tôi đă nghe những người lớn tuổi gọi cây cầu ấy là Cầu Ngói và chúng tôi cứ thắc mắc trong ḷng: V́ sao gọi là Cầu Ngói?

 

    Cũng theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, sau khi qua khỏi miếu Quá Quan là “đến Cầu Ngói, thuộc xă Phú Lộc Trung(nay là thôn Phú Cấp xă Diên Phú- TG), tổng Trung, huyện Hoa Châu. Cầu này ngày xưa trên có mái ngói, nay đă hư hỏng. Cầu dài 13 tầm, khe này nước đục, đi lên phía trên 616 tầm th́ đến phần ruộng xă Đại An, xuôi xuống dưới 1140 tầm th́ thông ra sông lớn” (12)(chí kiều Ngói, thuộc Hoa Châu huyện, Trung tổng, Phú Lộc Trung xă, thử kiều cựu hữu phú ngơa, kim dĩ hủ tệ. Kiều trường thập tam tầm, kỳ khê thủy trọc, tố lưu nhi thượng lục bách thập lục tầm, chí Đại An xă điền, thuận lưu nhi hạ, nhất thiên nhất bách tứ thập tầm, thông chú đại giang).

   Như vậy trên vùng đất Khánh Ḥa xưa, Cầu Ngói là cây cầu duy nhất theo kiến trúc “thượng gia,hạ kiều” mà thôi!

 

     Theo ḍng thời gian, nhiều địa danh bị “tam sao thất bổn”, cộng thêm với các tài liệu cổ xưa bị thất thoát cho nên để t́m lại địa danh nguyên thủy không phải là chuyện dễ dàng!

 

                            

 Chú thích:

 

1,5- Một nhóm tác giả, Quê hương Ninh Ḥa, www.ninh-hoa.com, trg 100-101; 82

 2-  Quách Tấn, Xứ Trầm Hương, Nxb Hội Văn học Nghệ thuật khánh Ḥa, trg 111

 3,7,8,10,11,12-   Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (dịch giả Phan Đăng), Nxb Thuận Hóa, trg 49, 49, 50, 51, 47, 51

 4-  Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 3, Nxb Giáo dục, trg 473

 9-  Nguyễn Đ́nh Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn- Khánh Ḥa,Nxb TPHCM, trg 164

 6-  Nguyễn Đ́nh Tư, Non nước Khánh Ḥa, Nxb Thanh niên, trg 36

     

 


 
Nguyễn Văn Nghệ


6/201
6

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ & Truyện Nguyễn Văn Nghệ           |             www.ninh-hoa.com