Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thị Phương Hiền            |                 www. ninh-hoa. com

Nguyễn Thị Phương Hiền
Bút hiệu:PHƯƠNG HIỀN

 Cựu nữ sinh trường Trung học Ninh Ḥa
Trần B́nh Trọng,

 
Niên khóa: 1963-1970
.

Hiện đang sinh sống tại Sài G̣n, Việt Nam

 

 

 

 

 

 


   

 

Khi tôi vừa lên bậc trung học, cha tôi đă có ư hướng cho tôi trau dồi môn Anh văn để “mở rộng kiến thức, biết văn minh xứ người”.Tôi không hiểu ǵ lắm, nhưng ḷng hớn hở nghe ông hứa nghỉ hè sẽ cho đi học thêm ở tận Nha Trang. Với một cô bé 12 tuổi như tôi lúc ấy, Nha Trang gợi đến một nơi đô hội đầy niềm vui với bao điều mới lạ. Tôi đă quen với câu nói cửa miệng của ông: “Ngoan rồi chủ nhật này cha sẽ chở đi Nha Trang chơi”.

 

Hè 1964 – Cha ghi tên cho tôi theo học lớp luyện Anh ngữ của một trung tâm gần nhà thờ Đá và gởi tôi trọ nhà bà Liêm, em ruột bà nội tôi ở khu Xóm Mới. Bà có 3 người con: chú Lư, cô Minh, chú Tập. Nhà chỉ có mấy mẹ con, khá rộng và mát mẻ, sân trước có mảnh vườn nhỏ nên cha tôi khá ưng ư.

 

Chú Lư lớn hơn tôi độ 6,7 tuổi, khi tôi học đệ thất trường Trần B́nh Trọng ở Ninh Hoà, th́ chú đang theo học năm thứ nhất Đại học Văn khoa Sài G̣n. Nghỉ hè chú về thăm nhà, nên tôi và chú có dịp gặp nhau mỗi khi hè đến. Chú có vẻ nghiêm nghiêm, ít nói, lúc đầu tôi cảm thấy… không thích chú lắm!

 

Cô Minh năm ấy quăng 15 tuổi, mắc phải bệnh động kinh và tâm thần. Thế nhưng cô rất hiền, suốt ngày nằm vơng, không nói năng ǵ, chỉ luôn miệng cười mỉm. Hơn 50 năm qua, tôi vẫn nhớ nét mặt cô, đầy đặn và tươi tắn, với đôi mắt biết cười mang chút hoang dại. Những lúc cô ngồi đong đưa chải mái tóc dài ngang lưng, th́ đâu ai biết là cô có bệnh! Nghe nói hồi bé cô ngồi vơng đưa cao quá và bị ngă, từ đấy bị chứng động kinh và măi măi giữ tâm hồn của đứa trẻ thơ!

 

C̣n chú Tập, ngang tuổi tôi, chăm học và cũng chăm làm việc nhà. Theo ư bà tôi, chú Tập ghi tên học Anh văn cùng lớp để tôi đi về có bạn, nói đúng hơn là có người dẫn v́ sợ tôi đi lạc. Đến bây giờ những “người lớn” trong nhà cũng không ngờ là hồi ấy, nhờ chú Tập mà tôi đă có những “chuyến đi lạc” thật thú vị. Trường gần nhà thờ Đá, nên những buổi đi học sớm, tôi và chú hay rủ nhau băng qua Ngă Sáu, bước chân sáo trên con đường lát đá ṿng lên nhà thờ, vừa đi vừa nghe chú ba hoa tán chuyện. Phần tôi, mải mê ngắm những ô cửa kính tṛn có vẽ những bông hoa hồng, tưởng tượng sau ô cửa có nàng công chúa nhỏ cũng đang ngắm tôi và muốn cùng đi dạo. Và rồi bao kỷ niệm ngôi trường Thánh Mẫu lại trở về, với h́nh ảnh các ma sœur và chị cả trong những buổi chiều của chuyện cổ tích. Tôi buột miệng nói với chú Tập: “Lớn lên cháu thích làm ma sœur“. Chú ôm bụng cười, c̣n tôi ngơ ngẩn ngắm cây thánh giá cao vút trên nóc nhà thờ, h́nh như cũng đang lay động theo mây... Có lần tôi đ̣i chú dẫn đi t́m con đường có “lá me bay”. Chú găi đầu: “Chú ở đây từ nhỏ mà đâu khi nào nghe đến con đường có cái tên lạ như thế”. Rồi chú an ủi: “Để chú t́m xem rồi sẽ dẫn Hiền đi nhé!

 

Trong 2 tháng hè, tôi ở nhà bà Liêm đi học, về nhà mỗi cuối tuần, và sang tuần sau cha tôi lại chở đi Nha Trang, có cả bà nội tôi cùng đi với nhiệm vụ “chăm nom cho cháu c̣n nhỏ dại”.

 

Nhà bà Liêm rộn ràng hơn trong những ngày có tôi. Bà Liêm cũng vui hơn khi có bà nội tôi bầu bạn. Lúc ngồi hóng gió ngoài hè tráng xi măng đôi chỗ đă vỡ nhưng luôn được lau sạch bóng, hay lúc lui cui trong bếp nhặt rau, vo gạo... hai chị em thường ôn lại chuyện xưa - những ngày c̣n bé ở làng Nội Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, quê nội của tôi. Đôi lần tôi nghe được câu c̣n câu mất… kể là bà Liêm khi c̣n con gái xinh lắm, có gánh hàng xén bán ở chợ phiên. Bà khéo tay hay làm, vườn nhăn nhà bà năm nào cũng sai quả. Chăm sóc vườn nhăn nên bà ăn nhiều nhăn hay sao, mà đôi mắt bà tṛn, trong veo và đen lay láy. Nhiều trai làng ngắm nghé, nhưng bà chẳng để ư dù đă đến tuổi cập kê. Trong một lần đi chợ về trên đường đê ven sông Hồng, ngang qua bốt Tây, bà bị kéo vào trong bốt, đến sáng mới thất thểu ra khỏi đồn Tây. Những ǵ đă xảy ra nào ai biết, chỉ biết tháng sau, “Ông ấy”- ông phó đồn lễ mễ áo dài khăn đóng từ làng Hải Yến đến nhà bà xin hỏi cưới. Ai cũng bảo số bà cũng c̣n may, thế nhưng cuộc đời bà h́nh như cũng chẳng mấy vui. Sau này vào Nam, ông cưới thêm bà hai, lơ là vói bà và các con. Thời bấy giờ, viên chức, quân nhân có thêm phần lương trợ cấp cho vợ con - Bà an phận với đồng lương ấy và lui về sống ở Nha Trang.

 

Cha tôi vừa thương chú Lư sống xa bố, vừa nể nang chú là sinh viên Sài G̣n, và ông rất vui khi thấy chú nhiệt thành giúp tôi việc học hành. Những lúc cha tôi và chú “đàm đạo”, tôi ngồi ở bàn học, lén ngắm hai người. Cha tôi và chú Lư có nhiều nét giống nhau, đặc biệt đôi mắt sáng nh́n thẳng vào người đối diện và miệng cười tươi. Tôi chợt nhớ đến câu “Sẩy cha c̣n chú, sẩy mẹ bú d́”. Thỉnh thoảng nghe hai người nhắc đến tên ḿnh, tôi ngoảnh đi ra vẻ không thèm để ư, nhưng trong ḷng cũng vui vui với chút hănh diện của đứa trẻ con, biết ḿnh là nhân vật quan trọng trong đời hai người đàn ông ấy.

 

Cha tôi hay mua sách truyện cho tôi mỗi khi đi công tác ở Sài G̣n, chú Lư cũng vậy. Hè nào chú cũng có quà cho tôi: những quyển truyện song ngữ dành cho trẻ em, và đôi khi cả những quyển tiểu thuyết dành cho người lớn nữa - những quyển La Dame aux Camélias (Trà Hoa Nữ) của Alexandre Dumas, La Porte Étroite (Khung Cửa Hẹp) của André Gide, Voler de Nuit (Bay Đêm) của St. Exupéry… với lời dặn: “Để dành lớn thêm chút nữa hăy xem nhé!”. Những quyển sách chú cho tôi mang vẻ cũ kỹ, sờn góc, có chỗ ố vàng, làm như đă qua tay nhiều người đọc. Chắc là chú lục lọi trong những tiệm bán “xôn”, hay xin của bạn. Khi thấy tôi có ư chê sách cũ, chú cười bảo: “Sách cũ mới quư chứ, cổ nhân đă nói: “Có ba thứ càng cũ càng quư là rượu cũ, bạn cũ và sách cũ”. Tôi phụng phịu ra vẻ không đồng ư. Đợi chú quay đi, tôi vuốt ve những quyển sách cũ chú cho, ôm vào ḷng, nghe mùi giấy hương phai, tưởng tượng đến những chân trời xa lạ mà tôi tin là một ngày nào đó tôi sẽ đến.

 

Chú học Văn khoa nên thích đọc sách, nhất là những quyển truyện Pháp và truyện Tàu. Nhờ có chú, tôi sớm làm quen với những điển tích trong Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử, Tây Du Kư… và cả Hồng Lâu Mộng nữa. Tôi nhiễm bệnh mê tiểu thuyết từ những ngày ấy!

 

Thỉnh thoảng chú Lư xin phép hai bà cho tôi theo chú đi xem xi nê ở rạp Tân Tân. Chú và tôi cùng thích nghe bản nhạc nền của rạp -  bản Cầu Sông Kwai. Những khi chú huưt sáo theo điệu nhạc, tôi lại mơ tưởng đến đoàn quân đi…

 

     “Here's luck to the boys in navy blue

     The army and the air forces too

     Here’s good luck to the women volunteers

     Their work do server three hearty cheers…”

 

Những lần ấy, đôi lúc chú trầm ngâm:

     - Chiến tranh, tại sao cứ phải chiến tranh?!

Tôi nhanh nhảu đáp:

     - Th́ có chiến tranh mới có hoà b́nh, một ông triết gia nào đó đă nói.

 Chú cười hiền, lắc đầu:

      - Con bé này, thật đúng là “con nhà lính”!

 

Có những buổi chiều tàn, học hành cơm nước xong, hai bà lại ngồi ngoài hè nói tiếp chuyện xưa. Chú Lư ôm cây đàn guitare ngồi đầu hè bên kia chơi vài bản nhạc nước ngoài, bài tủ của chú là Love Potion No.9, bản nhạc nổi tiếng hồi ấy:

“I took my troubles down to Madame Ruth

You know that gypsy with the gold-capped tooth

She's got a pad down on Thirty-Fourth and Vine

Selling little bottles of love potion number nine…”

Nghe măi, có lần tôi nằm mơ thấy người đàn bà du mục đặt vào tay tôi “a bottle of love potion number nine”. Hôm sau tôi hỏi chú “love potion là ǵ và tại sao lại number nine”? Chú cười nháy mắt: “Lớn lên rồi sẽ biết”.

 

Đôi khi cha tôi nán lại Nha Trang, chở tôi và chú Tập đi ăn kem rồi vào chơi Hải học viện gần Cầu Đá. Nơi đây đúng là một đại dương thu nhỏ. Chú Tập ham mê bộ xương của những con cá khổng lồ. C̣n tôi chỉ thích ngắm những nàng cá biển đẹp rực rỡ lượn quanh rạn san hô đỏ thắm cũng đang rún rẩy trong làn nước xanh. Ước ǵ có Thuyền trưởng Nemo ở đây nhỉ! Có thể ông sẽ thương t́nh mà cho tôi một chuyến hải hành “Hai mươi ngàn dặm dưới đáy biển”, tôi tưởng tượng.

 

Cha cũng hay đưa tôi đi chơi biển. Ngồi cùng cha bên gốc dương, nghe sóng vỗ dạt dào, ngắm những áng mây bềnh bồng trôi nổi... Biển Nha Trang đẹp quá, những ḥn đảo gần xa nhấp nhô như đang tiễn những con tàu xa bến. Biển loang loáng nắng vàng. Hai cha con lững thững đi dạo trên bờ cát trắng. Tôi cười chỉ cho cha hai hàng dấu chân song song in trên cát mịn: dấu chân lớn và sâu của cha tôi, bên cạnh là dấu chân nhỏ và nhẹ của con gái ông. Cha nắm tay tôi cười vui. Tôi đọc được niềm hạnh phúc êm đềm trong đôi mắt cha. Từ những ngày ấy, tôi thêm yêu biển cùng với h́nh ảnh và kỷ niệm của cha tôi. Tôi yêu biển, cho đến măi về sau.

 

Cuối hè, tôi vui sướng theo cha đến tiệm sách Văn Lang để sắm sửa cho năm học mới. Tôi săm soi chọn những tập vở giấy trắng tốt, vài quyển notebook thật đẹp, bút ch́ màu… và cả những thứ không dính dáng đến việc học - những chiếc nơ, kẹp tóc, băng đô xinh xinh và chiếc gương nhỏ có tay cầm đính hạt trai lóng lánh. Cha tôi vui ḷng trả tiền tất cả. Trong mắt tôi lúc ấy và cả bây giờ, cha quả là một người đàn ông hào phóng và galante nhất trên đời.

 

Từng mùa hè tươi vui trôi nhanh…

 

Năm 1968, chú Lư báo tin đă nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, chú chọn binh chủng Thiết giáp. Bà tôi buồn lắm, tôi cũng vậy. Những ngày hè như ngưng lại, cảnh nhà buồn hiu! Hai chị em bà tôi không kể chuyện ngày xưa nữa, vài ngày lại nhờ chú Tập mua tờ báo Chính Luận, chụm đầu đánh vần từng chữ. Bây giờ hai bà thường nghe radio, cả đài BBC. Chiếc radio cũ hiệu Philips màu đen được lôi ra khỏi tủ, lau bụi, để trịnh trọng trên bàn tiếp khách.

 

 Cũng từ chiếc máy ấy, tôi bắt đầu thích nghe chị Dạ Lan của Đài Phát Thanh Quân Đội. Chị nói giọng Bắc ngọt ngào với những lời yêu thương, an ủi, ngợi ca người lính. Tôi thích lớn lên có giọng nói hay như chị, và sẽ là… “em gái hậu phương”. Rồi dần dần… tôi tưởng tượng đến người “anh trai tiền tuyến” của riêng tôi. Anh ấy sẽ như thế nào nhỉ? Anh ấy là một người lính, đương nhiên. Anh ấy yêu đời lính và rất yêu thương chiều chuộng tôi, v́ tôi là… con nhà lính - chắc chắn vậy. Anh ấy có nét giống… cha tôi và chú Lư? À mà anh ấy hẳn có dáng vừa oai hùng vừa phong sương như chị Dạ Lan vẫn tả?

 

C̣n tôi, “em gái hậu phương”, cũng có mái tóc thề thả ngang lưng, đôi mắt nai tơ, bàn tay thon nhỏ… Dường như chị Dạ Lan đang cười khẽ: “Thế em có ǵ tặng cho các anh chiến sĩ không đấy?”. Tôi trả lời chị “Có chứ!” và kể chị nghe năm tôi mới 12 tuổi đă gởi quà cho các anh rồi. Năm ấy, tôi học đệ thất, trong giờ Nữ công, cô Lê Thị Phương Lan đă tập cho tôi kiểu rua chữ I. Sau mấy ngày cặm cụi, tôi cũng thêu xong chiếc khăn tay có rua chữ I và thêm cánh chim nho nhỏ ở góc khăn. Tác phẩm của tôi hơi… lấm lem. Cô cười dịu dàng dặn tôi đem về giặt sạch rồi nộp lại cho cô để đến Tết sẽ gởi tặng các anh chiến sĩ ngoài tiền tuyến…

 

Những mơ tưởng thơ ngây đó tan đi nhanh! Cha tôi có vẻ khắc khổ và khó tính hơn. Ông bảo dạo này rất bận việc quân vụ, mà tôi cũng lớn rồi, phải biết tự giác học hành.

 

Đêm ngủ nghe tiếng đạn pháo ́ ầm vọng về, rồi tiếng bà tôi trở ḿnh thở dài, tôi cảm nhận cuộc chiến đang từng bước đến gần…

 

Một buổi sáng không hẹn trước, chú Lư về thăm nhà trong bộ quân phục Thiết Giáp màu lá rừng với chiếc mũ đen trên mái tóc ngắn. Trông chú lạ lạ, da sạm nắng, già đi nhưng khỏe và… đẹp hơn lúc đi học. Mấy ngày ấy chú quanh quẩn ở nhà, lúc phụ làm bếp với hai bà, lúc nhẹ nhàng cười khi cô Minh mon men bên cạnh. Chú Tập và tôi quen dần với “người lính mới”, vô tư hỏi han đủ mọi điều. Chú nuông chiều chúng tôi, không hay nghiêm sắc mặt như ngày trước. Cây đàn guitare thân thiết, chú tặng cho em trai, vỗ vai em, ân cần khuyên: “Có đàn hát, việc học vẫn là chính”. Phần tôi, chú soạn tủ sách cho thêm mấy quyển của Phạm Công Thiện, Trần Thái Đỉnh, Bùi Giáng… cũng với lời dặn: “Lớn lên nữa hăy đọc”.

 

Cha tôi biết tin chú về phép, vội đi Nha Trang thăm chú nguyên ngày chủ nhật. Hai người nói chuyện rất lâu. Bà Liêm dặn chúng tôi chơi ngoài hè, c̣n bà nhón nhén ra vào, lúc pha ly nước chanh, lúc mang lên đĩa chuối, dường như yên tâm hơn khi có cha tôi trong bộ quân phục Biệt Động quân cùng với con trai bà bàn chuyện “quốc gia đại sự”.

 

Đă đến lúc lên đường. Bà Liêm khóc, bà nội tôi cũng khóc! Tôi tiễn chú ra cổng. Ánh nắng ban mai chiếu nghiêng nghiêng qua tàn cây phượng đang đong đưa những chùm hoa đỏ thắm, tôi thấy chú Lư trông thật chững chạc, oai và đẹp trai, với đôi mắt sáng đầy tự tin, sẵn sàng dấn bước trên con đường mới. Chú không quên dặn tôi: “Chăm học Hiền nhé!”.

 

Cuộc đời lúc nào cũng có những niềm vui, nỗi buồn đan xen. Nhưng trong thời chiến, nỗi buồn đến nhiều hơn, rất mau và luôn bất ngờ!

 

Một chiều cuối năm 1968, nắng sớm tắt trên vùng núi rừng Dục Mỹ. Tôi thấy ḷng bâng khuâng, chiều nay sao lặng lẽ quá! Gió không buồn thổi. Vài cánh chim từ đâu bay lạc đến rồi lại ngập ngừng bay đi. Cha tôi ngồi một ḿnh nhâm nhi ly rượu ngoài sân. Thật lâu sau, cha gọi tôi đến ngồi bên cạnh:

- Chú Lư mất rồi con ạ!

- Mất rồi là sao?

- Chú chết rồi, tử trận tại Quảng Trị.

Tôi thảng thốt, khóc nức nở. Cha tôi thở dài:

- Thời chiến, biết làm sao!

- Thời chiến, con không thích thời chiến nữa, cha ạ!

Tôi nghẹn ngào nói với cha tôi rồi ngoảnh mặt đi, thấy giận cha, giận tất cả! Ông im lặng, nh́n đôi vai tôi run lên từng cơn, thương cho tâm hồn non nớt của tôi đang chịu niềm đau quá lớn, cũng chẳng biết nói sao để an ủi đứa con gái nhỏ lần đầu biết đến cái chết và sự chia ly.

 

Bóng chiều chập choạng trên sân. Theo gió, tôi nghe tiếng nước suối Đá gần nhà chảy ŕ rào, và như có tiếng ai huưt sáo theo đoàn quân đi.

 

Tôi thẫn thờ nhớ lại, có lần cha tôi dặn ḍ chú Lư: “Chú gắng học, thời chiến cái ǵ cũng có thể mất bất cứ lúc nào, riêng có cái học là măi măi bên ḿnh”. Thế nhưng cái chết đă lấy đi tất cả, phải không? Cái chết đă mang đi người thanh niên 22 tuổi với biết bao hoài băo và ước vọng c̣n dang dở!

 

Người ta bảo nỗi đau không đến một lần. Thật vậy, tháng sau cũng một buổi chiều tàn, cha tôi lại ngồi một ḿnh bên ly rượu và gọi tôi đến ngồi cạnh ông. Nh́n mông lung về phía vườn cây đang dần tối, ông kể như đang nói với chính ḿnh: Cô Minh đă mất, lặng lẽ như đứa trẻ trong giấc ngủ, cũng trên chiếc vơng thân thuộc và nụ cười đọng trên môi. Tôi nghẹn ngào, không khóc mà ḷng rưng rưng nhớ h́nh ảnh cô ngồi đong đưa chải tóc những buổi trưa hè mới đây mà sao thấy thật xa...

 

Bẵng một thời gian, cha tôi không nhắc đến Nha Trang, cho đến mùa hè 1969. Gói ghém hành trang theo cha, cũng vẫn con đường quen thuộc, qua đèo Rọ Tượng, đèo Rù Ŕ rồi đến thành phố biển. Cha con tôi về nhà bà Liêm, không phải để ở lại học thêm Anh văn như mọi năm. Chúng tôi đến chào từ giă bà trước khi cha tôi thuyên chuyển đi Pleiku, c̣n tôi đi Quy Nhơn học năm cuối bậc trung học. Bà Liêm lọm khọm ra mở cổng đón cha con tôi với nụ cười gượng gạo, và rồi oà khóc. Tôi theo bà vào nhà, ngôi nhà như rộng hơn với dáng bà c̣m cơi ra vào. Cha tôi thắp nén nhang đứng trầm ngâm trước bàn thờ chú Lư. Tôi ngơ ngẩn đến bên cha. Tấm ảnh chú Lư trong bộ quân phục màu lá rừng và chiếc mũ đen, nh́n vẫn đẹp như hôm nào tôi tiễn chú - vẫn đôi mắt sáng yêu đời và tràn đầy nhiệt huyết. Bên di ảnh của chú Lư là ảnh người em gái đáng thương của chú: cô Minh với nụ cười trên môi. Chú Tập đâu rồi nhỉ? Bà nghẹn ngào: chú Tập đă t́nh nguyện vào binh chủng Thiết giáp, hiện đang ở đâu bà cũng không biết!

 

Bà Liêm nhắc tôi đến xem lại tủ sách: “Cháu thích quyển nào cứ lấy về đọc, nhà giờ có ai đọc sách nữa đâu!”. Tôi tần ngần vuốt ve những quyển sách phủ lớp bụi mỏng, lặng nghe mùi giấy hương phai. Bên cạnh tủ sách, cây đàn guitare treo trên vách im ĺm, buồn v́ đă lâu không được dạo khúc ca quen thuộc.

 

Nhiều mùa hè đă qua đi, trôi xa, trôi thật xa… nhưng âm vang như vẫn c̣n lại đâu đây. Đôi khi tôi thấy thấp thoáng chú tôi cười nháy mắt: “Bây giờ lớn rồi, chắc đă biết love potion là ǵ và tại sao lại number nine”. Tôi thầm trả lời: “Chưa chú ạ, v́ cháu vẫn măi chỉ là cô bé mười mấy tuổi của những mùa hè năm ấy!”.

 

 

 

Sài G̣n, tháng 9 năm 2018
Nguyễn Thị Phương Hiền

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thị Phương Hiền           |                 www. ninh-hoa. com