Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.



 
Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 




N
guyễn Thanh Ty

  


Trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường hơn 14 năm, tôi đă được rất nhiều Thầy, Cô dạy dỗ. Mỗi Thầy, Cô, mỗi một niên học đi qua đều để lại trong ḷng tôi vô vàn kỷ niệm. Mỗi một kỷ niệm đều là một dấu ấn đậm nét không phai.

Cho dù vật đổi sao dời, cho dù thời gian đă qua đi hơn nửa thế kỷ với nhiều tàn phai, nhưng những dấu ấn ấy vẫn không hề phai trong tâm trí của tôi. Những kỷ niệm ấy vẫn là di sản quí báu nhất đời của tôi.

Khi ra tranh đấu với trường đời, mỗi khi vấp ngă hay thất bại chuyện ǵ, có lúc tưởng chừng ngă quị không gượng đứng lên được, tôi lại có cơ hội hồi tưởng, suy ngẫm lại những lời dạy dỗ của các Thầy, Cô, th́ tôi dường như sực tỉnh giấc mê trong chán nản, bi quan. Lời Thầy, Cô từ quá khứ xa xăm lại văng vẳng vọng về trong tâm thức, làm cho tôi bừng bừng nguồn sống, lại lạc quan yêu đời, lại hy vọng chan chứa ở tương lai.

Và tôi hăng hái " vịn câu thơ"* mà đứng dậy.

Tôi không thể nào quên được những ngày ấy, kể từ lớp Đồng Ấu tại gia, trong căn nhà tranh vách lá, ngồi học bệt dưới đất, do Thầy Tổng Lâm trong làng khai tâm bằng những Thiên trời, Địa đất, Thất mất, Tồn c̣n…với âm giọng trẻ thơ hăy c̣n ngọng nghịu, phát âm không tṛn vành miệng.

Lên đến Trường Nam Tiểu Học Nha Trang qua các Thầy Ẩn nghiêm trang với bộ râu cá chốt, Thầy Lộc lúc nào cũng dềnh dàng cái bụng phệ. Cô Lệ dáng mảnh mai với đầu tóc giả gói trong tấm lưới đen, đan thưa lỗ, nói năng lúc nào cũng nhẹ nhàng, dịu dàng với học tṛ. Cô Mai đặc biệt, năm nào cũng đi sanh đúng vào ngày nhập học…

Rồi Thầy Ngộ buồn vui theo thú đá gà, Thầy Thanh ôn ḥa chất phát, b́nh dân xuề x̣a, Thầy Tuy hiền lành ít nói …

Cho đến Trung Học Tư thục Tương Lai Văn Hóa Thầy Thái Văn Châu dạy toán lại mê phong lan, Thầy Nguyễn Bá Mậu dạy Pháp văn cứ đem hai người con là Nguyễn Bá Vinh và Nguyễn Bá Tùng Chi đặt câu làm thí dụ. Thầy Nguyễn Mậu người Quảng Nam dạy Sử Địa, dẫn dắt chúng tôi mê man đi về những vùng đất xa lạ của quê hương theo những trang sử oai hùng của cha ông thuở trước. Thầy Nguyễn Duy Nhường, Thầy Thạch Trung Giả trong giờ Việt Văn đưa chúng tôi vào vườn hoa văn học với biết bao là "ḍng ḍng châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" của truyện Kiều.Thầy Nguyễn Ngân vỡ ḷng chúng tôi những chữ tiếng Anh lạ hoắc mà vui tươi, dí dỏm trong L’Anglais Vivant…

Sang qua Trường Công Lập Vơ Tánh, Thầy Nguyễn Phương dạy toán, đẹp trai, hào hoa phong nhă với đôi giầy đế cao kiểu thời thượng lúc bấy giờ có tên là "Chicago Cao bồi" và chiếc Vélo Solex màu đen quí phái… Thầy hay búng viên phấn viết bảng c̣n thừa, đúng ngay chóc anh học tṛ nào lơ đễnh ngó ra cửa sổ, tai lắng nghe tiếng chim hót, thả hồn làm thơ không đúng lúc…

Thầy Bửu Cân dạy Pháp văn và Vạn vật lúc nào cũng dễ dăi với học tṛ khi làm bài thi "tam cá nguyệt" với tờ báo xoi lủng lỗ và câu mắng : - Tụi bây là cái đồ " cảm động"*. Xấu hổ cha mẹ lắm con ơi! Khi chúng tôi cóp pi bài trong sách.

Thầy Huỳnh dạy Anh Văn năm Đệ Tam với cuốn “The Fluent English” có hai nhân vận buồn cười: Ù và Ốm (Fatty and Longleg)

Thầy Cường dạy sử có bệnh hay khạc nhổ ra cửa sổ, Thầy Thứ dạy địa mà hay hỏi về kiến thức phổ thông mấy cô đào tài tử xi nê, Marilyn Monroe, Brigitte Bardot…

Thầy Lạc dạy toán năm Đệ nhất với ṿng Conic mà không bao giờ cười…Thầy Luận dạy Việt văn mà tâm trạng lúc nào cũng có vẻ buồn rầu u uẩn…

Nhiều nữa, c̣n nhiều Thầy, Cô nữa không sao kể một lúc cho hết, cho vơi biết bao là kỷ niệm thân thương, tŕu mến.

Tất cả những kỷ niệm đó, tôi đă cất giữ nó như một kho tàng vô giá trong kư ức. Thỉnh thoảng tôi lại lẻn về quá khứ, len lén mở trộm cánh cửa hồi ức để ngắm nghía nó, để sống lại với nó trong cái ánh sáng huy hoàng vẫn rạng ngời lấp lánh trong đó y như kho kim cương lộng lẫy muôn ánh lung linh của bảy chú Lùn trong truyện Công chúa Bạch Tuyết.

Nhưng có một điều xin thú thật với ḷng, đối với tất cả các ân sư, sao tôi vẫn cứ yêu mến các Thầy, Cô ở Tiểu Học nhiều hơn. T́nh yêu của tôi vẫn dành cho họ thấm đẫm hơn, nồng nàn hơn. Và mỗi lần nhắc đến, ḷng tôi vẫn nhớ nhung, quyến luyến mặn mà hơn.

Có bất công không? Tôi cứ tự hỏi ḷng mà không sao lư giải được.

Có lẽ ở Tiểu Học, ngày hai buổi đến trường, Thầy tṛ gặp nhau nhiều hơn, buồn vui với nhau nhiều hơn chăng?
Và cái tuổi ấu thơ như trang giấy trắng lúc ấy chỉ biết tiếp nhận t́nh thương của Thầy Cô ban cho mà không hề biết lư luận hay bị chia sẻ cho ai khác?

C̣n ở bậc Trung Học, Thầy Tṛ chỉ gặp nhau từng tiết dạy, từng môn học và nhất là cái tuổi thiếu niên lúc ấy đă bị chi phối nhiều vấn đề … rắc rối ngoài t́nh thầy tṛ?

Tôi không biết tại sao như thế. Tôi chỉ biết khi rời mái trường êm đềm thân yêu để ra tranh đấu với trường đời đầy gian nan, hiểm ác, hành trang kư ức tôi mang theo trong ḷng chỉ c̣n lại một màu hoa phượng đỏ nở trước sân cùng với h́nh bóng ba người Thầy mà suốt đời không xóa nḥa trong tôi.

Đó là Thầy Vơ Thành Điểm, Thầy Phạm Văn Thanh và Thầy Sử văn Tuy.


Tác giả chụp chung với Thầy Sử Văn Tuy.
(học tṛ cũ được may mắn gặp lại Thầy lần cuối)
H́nh chụp 3 tuần trước khi Thầy mất

Thầy Điểm làm Giám thị kiêm Giáo sư hội họa. Chúng tôi, tất cả học tṛ nam hay nữ đều yêu Thầy như cha già trong nhà.

Thầy có dáng cách đôn hậu của người miền Nam,vui vẻ xuề x̣a và đầy khoan dung, độ lương với học tṛ. Khác hẵn với các Thầy Cô khác gọi chúng tôi bằng anh, chị, Thầy Điểm luôn gọi chúng tôi bằng con. Ôi! Tiếng con nghe thân thương ngọt ngào biết bao! – " Hôm nay Thầy cho các con một cái "xúy giê" (sujet: chủ đề).

Thầy đă mất sau mấy năm nước nhà Thống Nhất, Độc Lập, Tự Do trong đói khổ. Cả nước ăn bo bo để gượng sống.

Thầy Thanh dạy tôi năm lớp Ba. Thầy có ơn với tôi và gia đ́nh tôi.

Năm ấy, nhà tôi nghèo đến nổi không có tiền để mua sách học. Thầy đă đến tận căn nhà mái tranh vách đất của gia đ́nh tôi trong cái xóm lao động nghèo nàn và tặng cho tôi cuốn Toán Pháp lớp Ba.Thầy ân cần dặn ḍ tôi rán học. Và tôi đă cảm động với cử chỉ ấy mà hai hàng nước mắt rưng rưng.

Thầy Tuy dậy tôi lớp nh́. Con Thầy là anh Sử văn Mỹ, ngồi chung bàn với tôi. Thầy thương tôi giống như thương anh Mỹ.

Năm 1991,tôi bỏ làng xóm, quê hương ra đi để tha phương cầu thực và cầu không khí trong lành để thở.
Sau hơn mười lăm năm lưu lạc nơi đất khách, tôi trở về quê cũ làm tang cho cha và đi t́m thăm Thầy giáo cũ: Thầy Thanh và Thầy Tuy.

Trong thời gian ngắn ngủi ba tuần nghỉ phép, lo tang cha xong tôi chỉ t́m gặp lại được Thầy Phạm Văn Thanh ở Phường Củi cũng là nhờ những anh bạn học khi xưa dẫn đường, chỉ lối.

Thầy sống cô đơn trong căn nhà kiểu xưa, rộng và lạnh lẽo. Lúc tôi vào nhà, Thầy đang lui cui nấu cơm dưới bếp.

Bấy giờ Thầy đă già lắm, răng Thầy đă rụng hết. Giọng Thầy phều phào qua hai hàm lợi. Thầy nh́n tôi một lúc rồi ôm lấy tôi trong hai cánh tay khẳng khiu. Tôi không nói được nên lời. Nước mắt tôi cứ lưng tṛng. Ḷng tôi xúc động mănh liệt.

Tính từ năm 1962, tôi rời trường Vơ Tánh, khi Thầy và Thầy Tuy đă được chuyển từ trường Nam Tiểu Học lên làm thư kư Văn pḥng trường Vơ Tánh, đến nay năm 2003, hơn bốn mươi năm.

Tôi hỏi thăm về Thầy Tuy, Thầy nói lâu quá Thầy không ra khỏi nhà nên ít biết về xă hội bên ngoài.

Cái thành phố Nha Trang tuy nhỏ như ḷng bàn tay, nhưng sau cuộc đổi đời, ḷng người càng nhỏ hơn nữa. Người người nghi kỵ nhau. Ai ai cũng nh́n nhau bằng sự ngờ vực.

Thầy tôi ở ẩn quá lâu th́ c̣n ai là người bầu bạn nói cho nghe những sự thăng trầm, người c̣n kẻ mất?

Bóng dáng Thầy Tuy trong trí nhớ của tôi chỉ c̣n mơ hồ những nét đôn hậu, ôn nhu, hiền lành và phảng phất một chút trầm tư trong đôi mắt sâu dưới vầng trán có đôi nếp nhăn.

Tôi trở lại đất khách mà ḷng cứ ray rứt không an.

Thời gian hai mươi mốt ngày tuy ngắn ngủi nhưng tôi đă có mấy lần nhờ bạn chở lại ba ngôi trường cũ để thăm. Tất cả đều đổi thay. Tuy to lớn hơn, đẹp đẽ hơn nhưng đọc mấy cái tên trường trên tấm bảng ngày xưa, nghe lạ hoắc, lạ huơ, ḷng tôi cứ xốn xang như kim châm trong dạ. Hàng phượng vĩ dọc bờ tường đỏ rực rỡ những chùm hoa cùng với tiếng ve ồn ả râm ran không c̣n nữa. Những cây muồng tây cao to, rợp bóng, nay không c̣n nữa. Chỉ c̣n những câu khẩu hiệu vô nghĩa " V́ lợi ích mười năm trồng cây, v́ lợi ích trăm năm trồng người” ghi chú bên dưới là lời nói của Hồ chí Minh, giăng dưới tấm bảng. Tôi thật buồn ḷng cho cả một Bộ Giáo Dục ngày nay với biết bao nhiêu là Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ. Họ là những sĩ phu có học vấn cao mà không một ai dám có dũng khí nói lên tiếng nói trung thực rằng, câu nói ấy chỉ là "cóp" lại ư của cổ nhân, nào phải của Hồ chí Minh, mà lại cóp có một nửa, nên không đủ ư. Nguyên văn câu của người xưa là: Kế hoạch nửa năm không ǵ bằng trồng lúa. Kế hoạch mười năm không ǵ bằng trồng cây. Kế hoạch trăm năm không ǵ bằng trồng người. (Bán niên chi kế bất như thụ cốc. Thập niên chi kế bất như thụ mộc. Bách niên chi kế bất như thụ nhân).
Đứng tần ngần trước cổng trường, ḷng tôi nao nao một nổi buồn u uất. Tôi cảm được cái đớn đau của Bà Huyện Thanh Quan ngày xưa, bất giác than lên: "Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường”.

Năm nay, tôi lại trở về Nha Trang để xây lại ngôi Từ đường của cha mẹ. Qua hơn hai mươi năm, ngôi nhà đă nhiều chỗ hư nát.

Thời gian này, may quá tôi gặp lại anh Sử văn Mỹ trong một cuộc họp mặt các cựu giáo sinh Sư Phạm Qui Nhơn.

Tôi hỏi thăm ngay về Thầy Tuy, Ba anh. Anh cho biết Thầy bây giờ đă hơn chín mươi, đang bệnh nặng, sức khỏe rất yếu và đang ở quê Phú Lộc cách Nha Trang chừng mười lăm cây số. Tôi nài anh dẫn đường đi thăm Thầy ngay.

Anh hứa sẽ sắp xếp th́ giờ dẫn tôi đi.

Tôi chờ đợi trong nôn nóng. Bốn mươi lăm năm. Thời gian bằng một nửa đời người. Chắc ǵ Thầy c̣n nhận ra tôi. Xưa nay chỉ có tṛ mới nhớ Thầy. Thầy c̣n nhớ tṛ là chuyện hiếm.

Mấy tuần sau, tôi nhận được điện thoại của anh hẹn ngày giờ đến chở tôi đi thăm Thầy.

Con đường làng Phú Lộc tôi hằng quen thuộc lúc c̣n nhỏ, với hàng tre xanh dọc bờ sông Cái, chạy ngoằn ngoèo theo con đường đất sét vàng lồi lơm. Lá tre già rơi rụng đầy mặt đường. Mỗi năm đến hè, tôi thường về quê nội, Xóm Đúc, gần chùa Kim Quang, để vui chơi và tắm trên ḍng sông nước trong, cát trắng.

Bây giờ cũng con đường xưa cũ ấy tôi thấy h́nh như dài ra, đi hoài, đi măi vẫn chưa tới nơi.

Anh Mỹ chở tôi trên chiếc Honda cũ kỹ. Tôi ngồi sau chiếc lưng dài, ốm nhom của anh, phải nghiêng ḿnh qua một bên để nh́n về phía trước. Tôi h́nh dung ra con đường xuống dốc Bến Trâu để nhắm c̣n bao lâu nữa th́ đến Xóm Đúc, quê nội của tôi.

Xe qua khỏi chùa Kim Quang mà chẳng thấy Bến Trâu đâu, nơi xưa, cả bầy trâu mấy mươi con buổi trưa hè, vừa đằm ḿnh tắm mát vừa nghếch mơm lên khỏi mặt nước, thong thả nhơi cỏ.

Cảnh trí rất an b́nh nên thơ như một bức tranh.

Anh Mỹ cho biết, dốc đă được lấp bằng, không c̣n trâu hay ḅ ǵ nữa. Nhà nông nay phần đông đă bỏ ruộng đồng để chạy về thành phố kiếm ăn.

Bỏ chùa Kim Quang, xe chạy về hướng núi chừng non cây số th́ đến nhà Thầy. Ngôi nhà gạch rêu phong nằm trong vuông đất khá rộng. Trước sân mấy chậu hoa giấy, hoa sứ xơ xác khô héo chứng tỏ từ lâu đă không có được bàn tay chăm sóc.

Tôi theo anh Mỹ vào nhà. Nhà kiểu ba gian thường thấy ở nhà quê. Gian giữa để thờ. Hai gian hai bên là pḥng khách và pḥng ngủ.

Tôi ngồi ở pḥng khách, bức mành tre chắn trước cửa, ánh sáng ngoài sân theo những khe nhỏ lọt vào trong pḥng sáng mờ mờ. Một chiếc bàn tṛn, hai cái ghế gỗ kiểu xa lông bằng gỗ gụ màu đen phủ một lớp bụi mỏng. Chắc chẳng có khách lui tới hằng ngày để ngồi nơi đây. Trên vách treo mấy bức tranh cũ kỹ đă ố vàng.

Anh Mỹ vào pḥng ngủ d́u Thầy ra. Tôi đứng dậy chào Thầy. Thầy đưa đôi mắt lơm sâu, lờ đờ nh́n tôi, dáng mệt mỏi. Anh Mỹ ra cuốn bức mành lên cao. Ánh sáng ùa vào chiếu rơ h́nh dáng Thầy. Thầy quá gầy ốm trong bộ đồ ngủ sọc rằn, màu xanh nhạt. Khuôn mặt Thầy xương xẩu. Hai g̣ má gầy tóp như hai lỗ trũng làm cho lưỡng quyền nhô cao lên.

Tôi nắm lấy hai bàn tay Thầy. Những ngón tay khô quắt queo. Nước mắt tôi ứa ra. Tôi nghẹn ngào không nói được lời nào. Tôi đỡ Thầy ngồi xuống ghế và ghé sau lưng Thầy, nhờ anh Mỹ chụp dùm mấy bức ảnh tôi với Thầy ngồi cạnh nhau.

Tôi hỏi thăm sức khỏe Thầy và tỏ ḷng thương nhớ Thầy. Thầy yên lặng nghe. Thỉnh thoảng gật đầu. Tôi nh́n vào mắt Thầy. H́nh như có đôi chút ánh sáng yếu ớt bừng lên.Thầy mấp máy môi như cười.

Tôi kính cẩn đưa chiếc phong b́ xin biếu Thấy ít tiền để Thầy uống thuốc bổ. Thầy gật đầu nhè nhẹ tỏ ư cám ơn. Anh Mỹ d́u Thầy trở về giường ngủ. Tôi theo sau đến chỗ Thầy nằm. Cạnh giường Thầy, hai người đàn bà cũng gầy ốm, khô khốc không kém ǵ Thầy, đang ngồi bên chiếc vơng gai, treo ngang hai cây cột. Anh Mỹ giới thiệu với tôi đó là bà mẹ anh và bà chị cả ở lại căn nhà này để chăm sóc cho Thầy. Tôi yên lặng cúi đầu chào.

Căn nhà ba gian h́nh như quá rộng thêm ra trong cái không gian yên lặng như tờ. Tất cả đều im ắng trong cái sáng nhập nhoạng nửa tỏ, nửa mờ. Cảnh vật trong nhà ch́m trong tranh tối tranh sáng.

Thầy có vẻ mệt, nhắm mắt lim dim ngủ. Tôi xin phép cáo từ và hứa sẽ lên thăm Thầy lần nữa trước khi về lại Mỹ.

Căn nhà Từ của tôi đang được gấp rút tiến hành xây cất để hoàn thành trước ngày tôi về và nhất là phải xong trước mùa mưa sắp đến đă làm cho tôi vất vả, quay cuồng suốt ngày với bộn bề vôi vữa, sắt thép, thợ thầy.

Tôi quên bẵng đi thời gian. Ngày tháng trôi qua quá nhanh. Mới đây mà đă gần hơn ba tháng rồi.

Một buổi trưa hạ tuần tháng tám, tôi đang mơ màng trong giấc ngủ trưa th́ một người bạn, cũng là học tṛ cũ của Thầy, gọi điện thoại báo tin cho biết Thầy Tuy vừa qua đời. Anh rủ tôi cùng đi thắp nhang phúng điếu tang lễ.

Tôi sững sốt bàng hoàng trước tin buồn đó. Mấy tấm ảnh chụp h́nh Thầy vẫn c̣n nằm trong máy ảnh của tôi chưa kịp in ra. Tôi định bụng, trước khi về lại Mỹ, tôi sẽ in ra một tấm chân dung lớn để tặng Thầy. Thế mà nay, tôi chưa kịp thực hiện ư định đó th́ Thầy đă đi rồi.

Vẫn biết là sinh kư tử qui, ai ai cũng phải đi về đến chốn đó, song Thầy đi nhanh quá làm cho tôi cứ thảng thốt, hoang mang.

Dưới cái nắng chói chan như lửa đốt lúc hai giờ chiều của một ngày cuối hạ, chúng tôi hơn hai mươi người đến viếng, đều là giáo viên cũ. Có người là bạn đồng nghiệp với Thầy, cũng đă cao tuổi như ngọn đèn trước gió, không biết đi theo Thầy lúc nào. Có người là học tṛ Thầy bốn mươi, năm mươi năm trước.

Chúng tôi sắp hàng lần lượt đến thắp nhang khấn vái trước di ảnh của Thầy, cầu chúc cho vong hồn Thầy sớm siêu thăng về cơi vĩnh hằng. Gian pḥng khách hôm trước tôi ngồi với Thầy nay được thiết trí thành bàn thờ, khói hương nghi ngút. Di ảnh Thầy với khuôn mặt xương xẩu, đôi mắt mờ đục đang nh́n đăm đăm về cơi hư vô, được đặt nằm chính giữa.

Trước sân, một cái rạp bằng lá dừa che nắng, dàn nhạc âm tang ngồi trên bộ phản, đang tấu những điệu nhạc ai oán năo ḷng.

Dàn nhạc chỉ có mỗi cây đờn c̣, cái kèn bát âm ḥa với cây đàn Hạ Uy Di mà sao nghe năo nuột khiến ai nấy đều mũi ḷng, đôi mắt đỏ hoe.

Thắp hương trước bàn thờ Thầy xong, tôi đến chia buồn cùng gia đ́nh anh Mỹ. Chỉ nói có mấy lời mà tôi không sao thốt ra được. Nước mắt tôi cứ ràng rụa chảy dài, ướt đẫm hai bên má. Tôi cứ thổn thức, tiếng nói cứ như nấc nghẹn trong cuống họng.

Mặc dù bây giờ Thầy đă nằm im ĺm trong quan tài được đặt sau bàn thờ, tôi cứ thấy Thầy đang ngồi với tôi mới đây, ba tuần lễ trước. Nước mắt tôi lại trào ra.

Thầy Sử Văn Tuy của tôi giờ đây không c̣n nữa trên cơi thế gian. Tôi măi măi không c̣n đượcgặp lại Thầy nữa.

Rồi đây, trong kho tàng kỷ niệm của tuổi học tṛ, c̣n mỗi Thầy Phạm Văn Thanh, cũng đang như chiếc lá cuối cùng của mùa Đông, liệu tôi có cơ may trở về gặp lại Thầy trong chuỗi ngày c̣n lại?

Hôm nay, ngồi viết lại mấy ḍng hồi tưởng về Thầy, bên này nửa ṿng trái đất, tôi lôi chiếc máy ảnh kỹ thuật số ra, t́m lại trong số hơn ngàn bức ảnh chụp trong bốn tháng tại Nha Trang, tôi gặp lại bốn bức ảnh của Thầy, nước mắt tôi lại đoanh tṛng. Tôi ghi lại tấm h́nh Thầy lúc c̣n sinh tiền ngồi nơi pḥng khách trên trang viết, dưới ḍng chữ Thầy Sử Văn Tuy không c̣n nữa.

Mắt tôi mờ đi trong nước mắt. Chỉ thấy khói hương nghi ngút trước tấm di ảnh của Thầy.

Xin vĩnh biệt Thầy. Thầy Sử văn Tuy rất thương mến của con.

 

Nguyễn Thanh Ty

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com