Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.



 
Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 



Dư Âm Ngày Cũ
Nguyễn Thanh Ty

  

Phần 10:

Tết Xưa
H
oa Vạn Thọ
 

Mùa Xuân ấy, ông tôi lên tận tỉnh,

Đón tôi về xem hội ở làng bên.

Suốt ngày đêm chuông trống đánh vang rền,

Người bé, lớn đều mê man về hát bộ...
Đoàn văn Cừ

Phải, "mùa Xuân ấy", những ngày Tết xa xưa ấy, trong bài học thuộc ḷng của tác giả Đoàn Văn Cừ, từ cái năm c̣n ngồi ở lớp Ba ngôi trường Nam Tiểu Học Nha Trang mà thầy Thanh đă dạy cho, sao cứ khắc sâu măi trong trí nhớ của tôi.

Cái h́nh ảnh Tết thôn quê thật thân quen, đậm đà, lưu luyến trong tôi từ thuở bé cho măi đến bây giờ hơn năm mươi năm vẫn không hề phai nhạt.

Nhất là những cái Tết lưu lạc, xa quê hương, h́nh ảnh ấy càng hiện rơ nét trong nỗi nhớ bùi ngùi, trong niềm khắc khoải trông chờ một ngày về.

Ngày xưa, mỗi lần Tết đến, tôi thích về chơi ở nhà quê hơn.

Có năm tôi về Thành rồi qua Phú Lộc, Đại Điền.
Có năm tôi về Ninh Ḥa, Ḥn Khói, B́nh Tây.

Tết ở thành phố đối với tôi sao mà nhạt nhẽo, vô vị và buồn chán biết bao.

Có lẽ do hai h́nh ảnh tương phản trước Tết và ngày Tết tạo ra cảm tưởng đó chăng?

Mấy ngày trước Tết th́ ồn ào, náo nhiệt, người người đông đảo hối hả tất bật mua bán bao nhiêu th́ ngày mùng một Tết lại vắng lặng bấy nhiêu. Nhà nhà cửa đóng im ỉm. Người lớn trẻ con đổ vô mấy rạp hát hay rạp xi nê. Một số già cả lên Chùa dâng hương, lên Tháp Bà xin xăm hay lên Nhà Thờ cầu nguyện.

Qua mùng hai Tết, mọi sinh hoạt hầu như trở lại b́nh thường. Dư âm ngày Tết có chăng chỉ c̣n lại những xác pháo chưa quét hết nằm răi rác theo lề đường.

Tôi thích về quê trong những ngày Tết là bởi ở đó mới đích thực là Tết. Đích thực là nàng Xuân hiện diện khắp mọi nhà, mọi nơi. Và Tết ở đây mới thể hiện rơ bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc.

Ở thôn quê mới có đủ:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ.
Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Trước mỗi nhà đều có cây nêu cao làm bằng ngọn tre. Cái h́nh ảnh cây nêu treo ṭn teng cái nồi đất trong chứa muối gạo và lá cờ phướng dài ngoằng phất phơ trong gió Xuân nhè nhẹ rất nên thơ, gợi nhớ, làm sao t́m thấy được nơi thị thành!

Đặc biệt hơn nữa, trên bàn thờ nhà nào, ngoài bộ lư đồng sáng loáng ra đều trang hoàng một b́nh bông vạn thọ vun đầy hoa ở phía Đông và một chồng bánh in làm bằng bột nếp, gói bằng giấy ngũ sắc cao nghệu ở phía Tây bàn thờ.

Nhà nào cũng theo một mẫu mực sắp xếp hoa quả trên bàn thờ theo qui tắc lâu đời "Đông b́nh Tây quả".

Họ không chưng cành mai như ở phố, mặc dầu trước sân nhà nào cũng có trồng một cây mai lớn, hoa đang rộ vàng. Họ quí trọng hoa vạn thọ hơn.

Vạn thọ tượng trưng cho sự thịnh vượng, an khang, phúc lộc lâu dài.

Mai chỉ biểu tượng cho mùa Xuân, ngoài ra không mang được ư nghĩa, ước ao, thầm mong của họ.

Tết ở thôn quê rộn ră tưng bừng từ mùng một cho đến mùng bảy và rỉ rả, lai rai kéo dài đến hết tháng giêng. "Tháng giêng là tháng ăn chơi" mà!

Hồi tưởng lại, đă mấy mươi mùa Xuân qua, cái h́nh ảnh ngày Tết ở thôn quê với tiếng trống hát bội, hát bài cḥi, những b́nh hoa vạn thọ, vẫn c̣n làm tim tôi xao xuyến, bồi hồi.

Ngày mùng một, cúng đầu năm, nhà nào cũng khai pháo mừng Xuân. Tiếng đ́ đùng từng hồi vang lên đây đó. Tiếng pháo nghe lúc gần, lúc xa văng vẳng. Mùi thuốc pháo lẫn quất trong cành cây, ngọn cỏ thơm nồng.

Rồi tiếng trống chầu thùng thùng từng nhịp ba, nhịp bảy liên hồi thúc dục mọi người ra khỏi nhà để đi xem hát bội hay đi đánh bài cḥi để bói một quẻ đầu năm thử coi thời vận.

Từng nhóm người lũ lượt, tốp năm, tốp bảy tay dắt theo đám trẻ con xúng xính trong bộ quần áo mới, đi men theo trên bờ ruộng. Đoàn người thắp thoáng, ẩn, hiện theo làn sóng lúa chao ḿnh, lúc rạp xuống, lúc ngẫng lên, đùa cợt với làn gió Xuân nhè nhẹ lướt qua.

Đẹp nhất là các tà áo dài của các cô thôn nữ màu xanh đọt chuối non hay màu đỏ xác pháo nổi bật trên nền lúa xanh. Những màu này ở thành thị không hợp nhăn tí nào. Nó chói mắt và quê kệch. Ngược lại, ở chốn ruộng đồng xanh rặt một màu mạ non th́ nó lại đẹp rực rỡ, tạo nên những nét chấm phá mạnh mẽ trên bức tranh quê thiên nhiên.

Hát bội là một trong những tục lệ không thể thiếu được ở thôn quê. Kể từ cái năm mười ba tuổi, tôi bất ngờ khám phá ra công chúa Thoại Ba, "thần tượng trong mơ" của tôi là một chị đào hát ba mươi tuổi đóng vai, mặt rỗ, ăn trầu miệng đỏ ḷm, th́ tôi không mê hát bội nữa. Rạp Thạnh Xương không c̣n là nơi quyến rũ tôi như trước. Nhưng tôi vẫn ghiền nghe và nhớ tiếng trống chầu, tiếng phèn la, tiếng kèn bát âm và tiếng đờn c̣ năo nuột của hát bội.

Hát bội ở quê có một không khí đặc biệt hấp dẫn người đi xem hơn ở thành phố. Rạp được dựng ở giữa những cánh đồng lúa đă gặt xong. Xung quanh che chắn bằng những tấm đệm làm bằng lá dứa màu trắng. Trên mặt đệm có kẻ những tên tuồng tích sắp diễn bằng phấn màu xanh đỏ. Sân khấu được kê cao bằng những tấm ván trên mấy cái thùng tô nô. Người xem đứng, ngồi, dưới đất. Quanh rạp là các gánh hàng quà bánh bán buôn rộn rịp cho trẻ con và cả người lớn. Trai làng, thôn nữ từng bầy, từng bọn nô đùa trêu ghẹo nhau cười nói rộn ră. Trong kia, trống chầu cứ từng hồi thôi thúc. Đồng trống, gió Xuân mát mẽ từng đợt thổi về mang theo mùi lúa chín thơm nồng từ những cánh đồng xa. Tiếng hát ứ a, ứ ư vang xa nghe rơ mồn một. Nắng xuân hanh vàng ấm áp chiếu sáng trên những mái tóc đen dài, bóng loáng dầu dừa, chảy dài trên những tà áo dài màu rực rỡ chói chang, làm hồng thêm đôi má các cô thôn nữ.

Tôi cứ theo mấy chú tôi (cùng lứa tuổi) đi ṿng ṿng bên ngoài để đùa cợt và ngắm nh́n thỏa thích mọi sinh hoạt rộn ràng của dân quê trong bức tranh êm ả thanh b́nh của làng quê.

Tan xuất hát, mọi người lũ lượt ra về, cười nói xôn xao, luận bàn về tích tuồng "Đào viên kết nghĩa" vừa mới diễn. Bóng người lại thấp thoáng, nhấp nhô trên đồng lúa. Rồi mờ dần nơi chân núi.

Quanh rạp hát quang cảnh trở lại vắng lặng. Những gốc rạ bị dẫm đạp nằm xếp lớp im ĺm. Thỉnh thoảng vài tiếng chó sủa đâu đây hoà cùng vài tiếng pháo nổ đ́ đẹt.

Rồi chúng tôi đi chúc Tết từng nhà các Ông bà, chú thím... được tiền ĺ x́ trong những phong bao nhỏ màu đỏ và tha hồ ăn dưa hấu. Dưa được xẻ đầu năm bói xem hên nhiều hay ít. Nếu ruột đỏ là hên. Trắng là kém may mắn. Sau màn chúc tụng năm mới, người lớn bắt đầu bày chiếu giữa nhà đánh bài tứ sắc. Trẻ con cắn hột dưa tí tách. Ăn mứt ngọt như khoai lang, gừng, bí, dừa nhiều màu, uống nước xi rô màu vàng, màu đỏ...

Tiếng cười, tiếng nói vẳng từ nhà nọ sang nhà kia cách nhau hàng rào dâm bụt.

Sau khi ăn uống thỏa thuê, chúng tôi bắt đầu chèo xuồng ngược ḍng sông Cái về hướng thượng lưu.

Đó là thú du xuân trên nước.

Chiếc xuồng ba lá mỏng manh chở anh em chúng tôi vừa trai, vừa gái lướt nhẹ nhàng trên làn nước phẳng lờ, trong vắt. Cát dưới đáy trắng phau. Thỉnh thoảng hứng chí, chúng tôi cột phong pháo chuột trước mũi xuồng đốt. Tiếng pháo nổ lạch tạch giữa ḍng sông không âm vang bằng trên bờ nhưng nghe cũng thích chí. Xác pháo rơi tơi tả trên mặt sông, trôi chầm chậm giống như những cánh hoa sung. Hai bên bờ sông những vườn trái cây, nhiều nhất là bưởi, cam và vú sữa, cành nào cũng oằn trái, lấp lánh dưới ánh nắng.

Đến giữa trưa, mặt trời đứng bóng trên đầu, chúng tôi dừng xuồng nơi băi cát cạn, xuống tắm. Một vài anh leo vô đám mía bẻ trộm vài cây. Vừa tắm vừa ăn, vừa đùa giỡn tóe nước vào nhau thật vui vẽ biết bao. Các chị gái ngồi trên xuồng tḥ chân xuống nước giỡn nước.

Xê xế chúng tôi về đến nhà, bụng đă đói rồi. Các đ̣n bánh tét được đem ra, lột lá, cắt từng khoanh bằng những sợi dây lạt cột bánh, rồi ăn với dưa món, củ kiệu hoặc thịt heo hầm với măng.

Ăn no xong, chúng tôi lại kéo nhau đi coi xóc đĩa. Từ đàng xa đă nghe tiếng bốn đồng xu kẽm vang rền trong cái dĩa và cái tô úp.

- "Chẵn nè, Lẻ nè. Đặt vô! Đặt vô!"

- "Cất tay! Cất tay! Giở nè! Giở nè!"

- "Chẵn!"

- "Lẻ!"

Tiếng nhà cái, nhà con cả một đám đông cả mấy chục người đồng thanh ḥ reo theo động tác nhuần nhuyễn, nghề nghiệp của tay xóc, lúc đưa lên, lúc hạ xuống. Tiếng rền của mấy đồng xu trong tô h́nh như cũng reo nhịp nhàng theo tiếng la, tiếng thét của đám đông.

Người đánh, áp sát vào chiếc chiếu có vẻ một vạch vôi dài chính giữa chia làm hai bên chẵn lẽ, quăng tiền xuống chiếu như mưa. Kẻ xem, đứng ṿng ngoài bàn tán xem lần này sẽ chẵn hay không, chớ lẻ đă "rền" hơn hai mươi cái rồi.

Những khuôn mặt đỏ đen như mê đi theo tiếng xóc. Họ chăm chú lắng nghe. Lúc nghiêng tai bên này, lúc nghiêng tai bên nọ để theo dơi tiếng đồng xu kẽm quay trong dĩa.

Chốc chốc lại có những khuôn mặt phờ phạc, thua hết tiền, lặng lẽ, lũi thũi bỏ cuộc ra về một cách thiểu nảo.

Thay thế chỗ, lại có những người mới hăm hở xông vào với túi tiền đầy ắp, hy vọng thần tài đăi ngộ.

Đám trẻ con ăn theo chung quanh ṣng bằng những cây pháo chuột nổ bụp xẹt. Chúng một tay bịt tai, một tay cầm cây nhang đốt. Đầu đốm nhang cứ rung rung trên ng̣i pháo, trật bên nọ, vuột bên kia, hồi lâu mới trúng. Trông thật buồn cười.

... Tết ở Ninh Ḥa có tṛ chơi "đánh bài cḥi" rất thú vị và đáng nhớ.

Giữa sân vận động lộ thiên người ta dựng lên hơn chục cái cḥi như cḥi canh, vây quanh thành một ṿng tṛn. Cḥi nọ cách cḥi kia chừng năm thước.

Cḥi cao hơn mặt đất chừng hai thước. Trên cḥi có sàn cho hai người ngồi đánh bài. Giữa ṿng cḥi, ban tổ chức kê mấy cái bàn áp nhau, trên mặt bàn là những dụng cụ dùng để chơi bài cḥi. Đặt biệt là những khúc thân chuối non dài chừng hai gang tay được chẻ làm hai. Phía thân tṛn có cắm một lá cờ đuôi nheo nhỏ bằng bàn tay làm bằng giấy ngũ sắc.

Đánh bài cḥi chơi giống như đánh lô tô. Nhưng bài cḥi có kèm theo hát và có trống, kèn phụ họa. Cứ dứt vài câu hát người ta lại rút trong túi vải ra một quân bài và xướng lên cũng bằng một câu hát. Ai ở trên cḥi có quân bài giống như vậy th́ làm dấu trên tấm thẻ mà ḿnh đă mua ở ban tổ chức. Tiếp tục hát. Tiếp tục xướng quân bài. Chừng nào ai trúng đủ năm quân bài khác nhau nằm sắp hàng thên tấm thẻ th́ hô lớn "tới". Ban tổ chức dừng hát và cho kiểm tra lại cḥi vừa "tới". Khi thấy các quân bài đúng như đă hô th́ một hồi trống chầu chúc mừng được đánh lên vang rền và một người trong ban hát, hai tay bưng một cái khay, trên có đựng tiền trúng và một lá cờ đuôi nheo đứng trên thân chuối, chạy tới dưới chân cḥi trúng, dâng lên và hát một câu hát chúc mừng phát tài. Điệu bộ người hát bắt chước giống như một quan thần dâng rượu cho vua.

Người đi xem đứng ṿng quanh các cḥi đông hằng trăm, vỗ tay khen ngợi rầm rĩ. Họ cũng chờ đến lượt ḿnh sẽ lên cḥi ngồi để được đánh một ván và biết đâu thần may sẽ cho ḿnh được làm "thiên tử" một phen!

Làng B́nh Tây, quê nội tôi cách Ninh Ḥa mười bốn cây số về hướng Bắc. Qua khỏi thị trấn Ninh Ḥa một đỗi th́ có ngă rẽ bên tay mặt. Con đường đất đỏ rải đá xanh này, hồi đó tôi mới bảy tuổi đă lót tót theo mấy bà cô tôi dẫn về quê ăn Tết. Con đường sao mà dài thăm thẳm. Hai bàn chân nhỏ xíu, ngắn ngũn của tôi đi măi vẫn không tới nhà. Ngày xưa làm ǵ có xe ngựa, xe lam. Cả chiếc xe đạp cũng không. Mỗi lần đi, về, đều cuốc bộ.

Phải về tận Ninh Ḥa mới có xe đ̣ chạy bằng nồi hơi nước, chở khách từ Nha Trang ra Ninh Hoà và ngược lại. Xe chạy cà rịch, cà tang cả một ngày trời mới tới nơi. Tôi vẫn c̣n ấn tượng sờ sợ khi xe leo ́ ạch một cách khó nhọc trên đèo Rù Ŕ. Cứ sợ nó leo không nổi rồi tụt dốc, lăn xuống đèo. Hai người "phụ ết" chạy sau xe, lăm lăm trong tay hai khúc gỗ h́nh tam giác, chực khi xe tụt dốc th́ chèn bánh xe sau để hăm xe lại. Thật là thót tim. Nhưng cứ mỗi lần Tết đến là tôi cứ nằn ń cha mẹ tôi cho tôi theo các cô về Ḥn Khói ăn Tết.

Ăn Tết ở quê đâu có đầy đủ bằng thành phố! Sao tôi cứ mê về nhà quê?

Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi mới nghiệm ra rằng tôi mê cái cảnh nhà quê, cái cảnh ruộng đồng, cái mộc mạc, hiền ḥa nơi thôn dă.

Làng tôi luôn ăn Tết trong thanh b́nh, êm ả, dù có chiến tranh hay không. Chỉ có tiếng pháo nổ râm ran, đ́ đùng chỗ này, chỗ kia khi mỗi nhà vừa tổ chức cúng. Cứ mỗi lần cúng ông bà là đốt một phong pháo.

Cúng xong, dọn mâm cỗ, cả nhà xúm nhau ăn uống, thêm mấy bà con hàng xóm sang chúc Tết, cùng ngồi vào mâm, uống rượu, cười nói vui vẻ.

Ăn uống xong, họ trải chiếu đánh bài tứ sắc hoặc đánh bài xẹp hay bài câu cá.

Nhà Ông nội Mười tôi trồng rất nhiều hoa vạn thọ. Hai bên đường từ cổng vào đến sân là hai hàng vạn thọ đủ màu sắc. Trong nhà, ngoài bàn thờ tổ tiên, c̣n có bốn, năm cái trang thờ nữa. Cái nào cũng có cắm một b́nh bông vạn thọ. Vạn thọ được nhổ nguyên cây. Rửa sạch gốc, cắm vào b́nh đầy nước nên hoa tươi rất lâu.

Đất làng B́nh Tây, Thạnh Danh, Phú Thọ, Bá Hà trắng và mịn như đường cát tây mà sao trồng rau và hoa tốt tươi quá chừng. Nhà nhà đều có vườn rau xanh um và những luống hoa vạn thọ rực rỡ.

Ngày Xuân qua đi. Nông dân (diêm dân) lại trở về ruộng muối với cái cào, cái trang. Ông nội Mười và mấy cô tôi cũng ra đồng.

Một ḿnh tôi thơ thẩn với vườn hoa vạn thọ. Làm bạn với tôi có mấy con ong bầu vờn từ bông này sang bông khác. Tiếng vỗ cánh vù vù nghe rơ mồn một trong không gian im ắng tĩnh mịch. Thỉnh thoảng cũng có vài con bướm trắng, vàng nhỏ xíu, mong manh chập chờn đôi cánh, lấp lánh trong nắng hanh vàng.

Hết tháng giêng, hoa thọ vẫn c̣n tươi tốt. Trong khi, từ mồng ba, trễ lắm là mồng bảy, những cành đào, những nhánh mai đắt tiền ở thành phố đă lần lượt ra nằm ngoài đường chờ xe rác đến hốt đi.

Khi lớn lên một chút, lúc học trung học, mỗi năm Tết về tôi lại chạnh ḷng khi đi xem hoa ở chợ Đầm, thấy thiên hạ ai cũng bu quanh những đào, mai, quất, thược dược, măn đ́nh hồng ... Nhất là những chậu cúc tươi tốt xum xuê hoa lá, rực rỡ sắc màu. Trong khi ấy, đằng xa kia, ở một góc chợ, hoa vạn thọ bày bán hàng đống trên mặt đất ít có người ngó ngàng. Thỉnh thoảng mới có một người đàn bà quần cùi, áo cụt cắp rổ, dáng hối hả, đi ngang quẳng mấy đồng bạc để lấy vài cây, không cần chọn lựa kỹ càng như các loại hoa mắc tiền khác.

Rơ ràng hoa vạn thọ đă bị coi rẽ. Hoa vạn thọ chỉ dành cho người b́nh dân, nghèo. Tuy vạn thọ cũng là một họ trong loài cúc. Có miền, người ta vẫn gọi là "cúc vạn thọ". Lá vạn thọ giống lá hoa cúc nhưng nhỏ hơn, mănh dẽ hơn. Nó gần tương đồng với rau tàn ô. Tàn ô cũng cùng họ với cúc nên cũng c̣n có tên là cúc tàn ô.

Nếu đem cái tên mà so sánh th́ vạn thọ hay và ư nghĩa hơn mai, đào, quất... nhiều lắm. Ngẫm nghĩ, thấy thương vạn thọ quá chừng. Tuy bị rẽ rúng nhưng vạn thọ vẫn âm thầm len vào tận hang cùng ngơ hẽm của đại đa số người dân nghèo để đem lại cho họ một không khí Tết, một chút hương vị ngày Xuân mà ḷng không gợn một chút tị hiềm hay một lời oán thán. Và ở chốn ruộng đồng, thôn dă, hoa vạn thọ mới thực sự là của mọi người, thực sự là biểu tượng mùa Xuân.

Kể từ năm bảy lăm về sau, tôi ít có cơ hội được ngắm cành mai hay cành đào trong nhà nở những đóa hoa đầu tiên trong giờ giao thừa như những mùa Xuân trước, cha tôi vẫn hay chưng bày và chăm chút. Mai và pháo là sở thích và đam mê của ông. Ông nói:

- "Tết mà không có mai và pháo th́ c̣n ư nghĩa ǵ!"

Nhưng để tránh cảnh "gậy ông đập lưng ông", chính quyền mới sau khi tóm thâu sơn hà về một cơi, bèn ra lệnh cấm đốt pháo ngay trong những ngày Tết. Họ sợ tái diễn một cái Tết Mậu Thân, 1968, một cái Tết đẫm máu kinh hoàng nhất lịch sử mà họ đă gây ra. Đă ba mươi năm qua, người dân Việt Nam ăn Tết trong âm thầm lặng lẽ. Đó là cái giá phải trả. Nhưng để che đậy sự buồn bă, nhạt nhẽo, vô vị trong những ngày Tết ấy, họ trưng khẩu hiệu là ăn Tết trong văn minh, văn hóa và an toàn. Và để tạo không khí vui tươi, họ lại bày ra tṛ "đầu Xuân trồng cây nhớ ơn Bác và Đảng" thay cho tục hái lộc đầu năm.

Vác cuốc đi trồng cây ngày mồng một Tết. Vui thay mà cũng buồn thay!

Hơn mười năm lưu lạc xứ người, ở cái miền đông bắc lạnh lẽo, tôi không có Tết và hoa. Thời gian này, trong lúc ở quê nhà ấm áp khí Xuân, hoa nở tưng bừng th́ ở đây chỉ có tuyết và giá rét. Ở quê nhà rộn ràng náo nhiệt bao nhiêu th́ ở đây âm thầm, lặng lẽ bấy nhiêu.

Mỗi đêm ba mươi Tết, đón giao thừa, đốt nén nhang lên bàn thờ ông bà, nh́n làn khói hương nhẹ tỏa, ḷng tôi lại xao xuyến, bồi hồi nhớ Tết xa xưa. Nỗi nhớ nôn nao, quặn thắt cả ḷng. Tôi lại nhớ đến mùi ngai ngái của hoa vạn thọ. Tôi nhớ đến ḍng sông Cái êm đềm, nước trong leo lẻo, chiếc xuồng ba lá du Xuân, tiếng trống chầu hát bội, hát bài cḥi, tiếng bốn đồng xu kẽm rền trong tô xóc, tiếng pháo đ́ đẹt với những khuôn mặt ngây thơ của các em bé vừa đốt pháo vừa nhắm mắt, bịt tai... và cả những tà áo dài màu chói chang lấp lánh trên cánh đồng bát ngát lúa non.

Tất cả những âm thanh ấy, h́nh ảnh ấy vẫn cứ c̣n văng vẵng bên tai, vẫn cứ c̣n chập chờn trong nỗi nhớ.

Cuối tháng tư dương lịch, tuyết bắt đầu tan. Ngoài hàng rào, một loại hoa vàng giống như hoa mai nhưng cánh nhỏ xíu, nở rộ từng lùm, từng bụi, vàng rực khắp nơi. Mùa Xuân đất khách bắt đầu. Nhưng Tết ta đâu c̣n nữa mà đón Xuân. Tôi bắt đầu gieo hạt vạn thọ để chuẩn bị cho ḿnh một mùa Xuân riêng. Chừng hai tháng sau, khí trời thật sự ấm áp, quanh sân nhà tôi, vạn thọ đă mọc đầy. Chỗ nào cũng vạn thọ. Này màu vàng nghệ. Kia màu vàng hoàng anh. Lại có cả vạn thọ nhiều cánh, màu đỏ tía. Hoa vạn thọ không có hương thơm. Nhưng tôi cứ ngất ngây mà ngửi, mà hít cái mùi ngai ngái, hăng hắc của nó. Đó là mùi của quê hương, của kỷ niệm, của một thời xa xưa, của cái thời c̣n để chỏm của riêng tôi. Sao tôi thương nó quá chừng!

Tôi nâng niu, tôi ôm vào ḷng từng cành, từng hoa và thấy lại con đường đất đỏ răi đá xanh dẫn về làng B́nh Tây Ḥn Khói, ở đó có Ông nội Mười ẵm tôi mỗi năm tôi theo mấy Cô về quê ăn Tết. Ông đă ngắt cho tôi những đóa vạn thọ đầu tiên trong đời.

Dẫu vật đổi sao dời, giả dụ một ngày đẹp trời nào đó, thế giới văn minh đưa người lên rong chơi trên sao Hỏa, t́nh cờ lượm được cái thiên đường "Xă Hội Chủ Nghĩa" mà mấy ông Mác, ông Mao đă cố công t́m kiếm cả thế kỷ nay, tốn hao nhiều xương máu lót đường, rồi đem cho không, biếu không cho Việt Nam ta. Tám mươi triệu đồng bào ngày ngày ngước cổ lên nh́n cái vật lượm ấy và cầu nguyện "Phước như Đông Hải- Thọ tỉ Nam Sơn, Muôn năm trường trị- Thống nhất giang ... hồ" rồi bỗng nhiên người người đều trở nên giàu có, no cơm, ấm cật, nhà cao cửa rộng, xe hơi bóng láng như cán bộ đảng viên Cọng Sản đi nữa, tôi cũng không ham.

Tôi vẫn xin được ôm lấy chút Tết xưa và một b́nh hoa vạn thọ mà ngậm cười.

- "Rơ là đồ nhà quê, lạc hậu!"
- "Vâng! vâng! Tôi xin chịu!"

Rằm tháng Giêng, Giáp Thân.

 

(Xem tiếp kỳ 11)

 

Nguyễn Thanh Ty

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com