Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.



 
Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 



Dư Âm Ngày Cũ
Nguyễn Thanh Ty

  


Phần 6:

Biển Nha Trang
Trong
Truyện CTích

Ta dại, ta t́m nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Nguyễn Khuyến

Tôi sẽ kể cho bạn nghe về một băi biển rất thơ mộng, rất xinh đẹp ở một thành phố ven biển miền Trung có tên là Nha-Trang.

Thế nào cũng có bạn sắp ồ lên và bảo rằng:
- "Biết rồi! Nói măi! Xưa rồi Diễm!"

Phải! Tôi biết các bạn khi thốt lên nửa câu nói bất hủ của cố văn sĩ Vũ trọng Phụng và nửa câu "cập nhật thời đại" là bạn đang nghĩ tới mấy cái Website Travel Tour, quảng cáo trên Internet về băi biển này, chài mồi khách du lịch đến để hốt bạc cắc. Hay bạn đă có lần ghé chân ở Nha-Trang, háo hức đi thăm băi biển có đẹp như tiếng đồn? Ở đó các bạn đă thất vọng vô vàn v́ chỉ thấy toàn là khách sạn lớn nhỏ, lố nhố chen nhau trên đường, trước cửa đầy đặc bọn c̣, bọn lưu manh, chèo kéo, nắm tay, níu lưng bạn đi t́m đủ thứ yên hoa. Lơ đễnh một chút là cái túi tiền bị rạch hay cái đồng hồ, đôi kính mát... không cánh mà bay.

Định bước xuống băi để được ngâm đôi chân trong làn nước trong xanh, mát rượi, lại bị những cái "Cửa hàng ăn uống" chận đầu này, rào đầu nọ của "ta" và của "bọn tư bản" chiếm hữu làm của riêng. Bạn bắt buộc phải vào ngồi bên trong để có bóng mát. Bạn phải uống một thứ ǵ đó chứ không thể ngồi miễn phí.

- "Một ly nước cam vắt nhé? - Hai mươi ngàn đồng!"

Nếu ngồi phía trong, có một cái ti-vi để bạn theo dơi tin tức Chủ Tịch nước bữa nay tiếp phái đoàn nào..., Tổng Bí Thư "đảng ta" hôm qua đă chỉ thị thêm cái ǵ để toàn "Đảng" củng cố thêm uy tín sứt mẻ gần hết, vân vân và vân vân...

Ngồi ngoài xa không có truyền h́nh th́ rẻ hơn: Mười lăm ngàn đồng một ly.

Xuống được băi cát lại đụng phải những cái nhà dù làm bằng tranh cho có vẻ thiên nhiên. Đặt đít xuống một cái ghế bố: Mười ngàn đồng!

Chỗ nào cũng có máy chém!

Nghe nói thời ông Diệm ban hành Đạo Luật số 10, loại Cộng Sản ra ngoài ṿng pháp luật, đă đem "máy chém lê khắp nơi" như "báo, đài ta" hồi ấy la làng, la xóm ỏm tỏi, để phản đối.

Nhưng người Miền Nam chưa có ai thấy cái máy đó bao giờ. Và biết cái máy đó h́nh dáng ra sao!?

Bây giờ th́ nước nhà thống nhất, độc lập, tự do, không cần phải ban bố Đạo luật số 11 hay 12 làm chi cho tốn giấy. Với chính sách đổi mới, làm "kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa", mọi người, mọi cơ sở làm ăn, từ c̣ con đến "vi mô, vĩ mô" cứ theo truyền thống anh hùng, trí tuệ ưu việt mà tự do phát kiến các cách chém làm sao cho ngọt.

Nhờ đó, máy chém vô h́nh của "ta" sản xuất ra hàng hà sa số, tuy không chính thức "cầu chứng tại Ṭa" nhưng được ngầm cho phép xử dụng "đại trà". Nó ẩn tàng khắp nơi, thiên h́nh vạn trang, chỗ nào cũng có.

Vừa bước xuống máy bay là bạn đă thấy cái máy đó lấp ló trong cái tờ khai hải quan hay cuốn sổ thông hành, nhe răng ra cười cầu tài với bạn rồi.

Mấy anh Tây ba lô nghèo khổ, mấy chị Đầm túi bao tử rách mướp, có tí tiền thất nghiệp không đủ để "se" pḥng và uống cà phê Dunkin Donuts buổi sáng, bèn làm một chuyến du lịch sang Việt Nam vừa rẻ lại vừa sang, tha hồ bị "ta" chém đẹp.

Nhưng, "Khôn ngoan đá đáp người ngoài" th́ không nói làm chi. Đằng này "Gà cùng một mẹ bôi mặt đá nhau" mới là đau.

Quí ngài Việt Kiều áo gấm về làng cũng bị chém đẹp như thường. Mọi thứ đều được ưu ái tính giá gấp hai lần. Đau hơn bị bóp dái!

Có câu nói cửa miệng của giới c̣: - "Chém không đẹp không ăn tiền!"

Bạn tḥ tay vào bất cứ chỗ nào cũng bị chém tuốt. Y như đồng chí "Phạm Tuân ta" bị các đồng chí Liên Xô khẻ tay vậy!

Cái chuyện "bí mật nhà nước" "đồng chí Phạm Tuân ta" bị khẻ tay là do mấy người Bắc di cư vào Nam sau bảy lăm kể lại, chớ dân Miền Nam làm sao biết được.

Chuyện là như vầy:

Khi được các đồng chí Liên Xô anh em, nhất trí dành cho Việt Nam t́nh nghĩa quốc tế vô sản, một "suất" trong chuyến du hành vũ trụ, (để dằn mặt người anh em Trung quốc vĩ đại chơi), nhà nước ta mới đề cử đồng chí ưu việt nhất trong bộ đội không khí (tức không quân như tụi "Ngụy" hay dùng chữ Hán Việt) là Phạm Tuân đi theo.

Sau chuyến du hành trở về, toàn dân miền Bắc được phép nghỉ lao động một ngày để đi đón rước vị anh hùng dân tộc đă hy sinh bản thân ḿnh, làm vẽ vang cho nền khoa học nước nhà. Ai nấy cố xô đẩy, chen lấn nhau, đạp lên nhau, để sờ hay cầm lấy cho được bàn tay vị anh hùng để mà chiêm ngưỡng. Nhưng đồng chí Tuân cứ thu lu hai bàn tay trong túi áo, không chịu tḥ ra. Măi đến khi "Bác" (*) đ̣i xem th́ đồng chí Tuân mới chịu đưa ra. "Bác" phải giật ḿnh khi thấy hai bàn tay "cháu Tuân" đỏ rần. "Bác" biết ngay là cơ thể bị dị ứng trên hành tinh lạ.
- "Như thế là tốt!" - "Bác" nói.- "Với t́nh h́nh hiện nay, Đảng ta đang cần có nhiều bàn tay đỏ như vậy nữa để tiêu diệt bọn phản cách mạng".

Nhưng khi về nhà, hai vợ chồng nằm trong buồng, đồng chí vợ nhất định không tin là đồng chí chồng Phạm Tuân bị dị ứng như lời "Bác Hồ kính yêu" nói. Suốt đêm mụ cứ tra vấn:
- "Này! Này! Hăy thật thà khai báo hết đi! Gái già này biết tỏng ṭng tong rồi! Dị ứng ǵ mà chỉ có hai bàn tay, c̣n các chỗ khác th́ không? Gái già này không có đần độn đâu nhé! Đă đút tay vào cái khoản nào của mấy con Liên Xô chết tiệt, rồi nó kẹp cho đỏ tay! Phải không nào? Rồi về đây, thừa cơ đổ "Si-đa" cho gái già này phỏng?"

Suốt cả đêm cứ bị tra tấn bằng cái luận điệu "ta đây biết cả rồi! hăy khai báo thật thà sẽ được khoan hồng", "đồng chí" Tuân rành cái phương pháp này quá mà. Phần mệt mỏi, phần căng thẳng thần kinh, đồng chí chồng Phạm Tuân đành phải phun ra hết sự thật và van nài đồng chí vợ "đừng lộ bí mật quốc gia" cho ai biết.

Số là, trước khi đi, các đồng chí Liên Xô có dặn đi, dặn lại "khi lên tàu vũ trụ, thấy cái ǵ th́ lấy mắt ngó, chớ lấy tay mà sờ". Phạm Tuân vâng dạ liên hồi. Nhưng khi lên tàu, đồng chí Tuân ta tính hay táy máy hay là đă nhận được mật lệnh "Đảng ta", phải thừa cơ đánh cắp kỹ thuật khoa học của ông anh "vĩ đại", nên cứ sờ soạng hết cái nọ đến cái kia. Cái nào cũng lạ lùng, kỳ diệu, ḷng tham cứ muốn lấy bỏ túi. Nhưng khổ thay, các ông anh vĩ đại đă biểt tẩy ông em ḿnh rơ như ḷng bàn tay, nên mắt cư lom lom theo dơi từng tư một. Hễ đồng chí Tuân mới tḥ vào vật ǵ, chưa kịp chạm tới, liền bị cái thước ở đâu đó khẻ tay liền. Hết tay trái tới tay phải. V́ t́nh đồng chí, các phi hành gia Liên Xô tế nhị không mắng hay chửi. Nhưng có chửi đi nữa, Phạm Tuân ta cũng không thèm nghe. Phạm Tuân ta sẽ có triết lư "cách mạng A.Q" của Lỗ Tấn để biện minh chống chế:
- "Mày chửi ông cũng như chửi bố mày!"

Mấy ngày ở trên tàu cứ bị khẻ tay liên tục như vậy nên mới bị đỏ chớ đâu có bị dị ứng hay đút vào chỗ nào.

"Đồng chí vợ" bây giờ mới đả thông tư tưởng. Nhưng mấy ngày không nói ra được th́ trong ḷng cứ ấm ức như hóc xương heo nơi cổ. Bèn ghé tai đồng chí em gái th́ thầm và dặn đừng nói cho ai biết nhé! Lại dặn thêm một lần nữa:
- "Bí mật của "Đảng ta" đấy!"

"Đồng chí em gái" cũng hứa nhất định không nói cho ai hay. Ba ngày sau toàn dân miền Bắc đều kháo nhau về cái bí mật bàn tay đỏ của vị "anh hùng dân tộc" Phạm Tuân. Chắc là tại cái bọn phản động tuyên truyền.
Chỉ có "Bác" và Bộ Chính Trị th́ không hề hay biết một ly ông cụ.

Trở lại chuyện cái máy chém không cần văn bản.
Tuy bị ba bề, bốn phía, bủa vây chém hội đồng, nhưng hề ǵ!

Một đồng xanh của đế quốc Mỹ trị giá tới mười lăm ngàn đồng "tiền Cụ Hồ" th́ dẫu cái dao có bén cỡ cái đao của Nguyễn Tuân trong truyện "Chém treo ngành", th́ cũng chẳng ngứa ngáy ǵ một chuyến xênh xang áo mũ về quê, khoe của, khoe sang của các ngài Việt Kiều đang hưởng tiền "lay ốp" hay đang hưởng "queo phe".
Bên chém và bên bị chém đều vui vẻ cả làng.
Thiệt là một nghịch lư đề huề! Từ xưa tới giờ có một không hai!

Bởi vậy tôi sẽ không kể về những cái nghịch lư "Kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa" có thể làm bạn là khách nhàn du mất nhă hứng.

Bạn đă quá ngất ngư mệt mỏi với chén cơm, manh áo hèn mọn hằng ngày rồi. Bạn muốn cho ḷng ḿnh thanh thản, nhẹ nhàng đôi chút, được phóng tầm mắt ra xa tận chân trời thênh thang bát ngát, không bị vướng ngăn bởi những ṭa nhà cao ngất nơi thành phố chật chội. Bạn muốn hít thở không khí trong lành của gió đại dương từ ngoài khơi thổi về. Bạn muốn nghe tiếng sóng th́ thầm nhè nhẹ bên tai thay cho những tiếng động ầm ầm ngày đêm đinh tai nhức óc. Hay tạm quên đi những phiền năo rắc rối cuộc đời, những mưu mẹo lọc lừa nhau trong ṿng danh lợi cong cong...

Vậy bạn hăy nằm dài lên cát, ṿng hai tay gối đầu, thả hồn ḿnh thư giăn, mắt lim dim nh́n mây trắng lững lờ bay trên bầu trời xanh lơ... rồi tôi sẽ kể cho bạn nghe...

... Ngày xửa, ngày xưa có một...

Phải rồi, hồi xưa có hai chàng trai tên là Lưu Thần và Nguyễn Triệu thích phiêu lăng giang hồ, rày đây mai đó cho thỏa chí b́nh sinh, nên một ngày kia lạc vào chốn Đào Nguyên, có động Thiên Thai, có bầy tiên nữ suốt ngày ca múa, dâng rượu, đánh đàn... phục vụ hai chàng hết ư. Hai chàng bèn quên đường về ...

Chuyện kể đến thế là hết. Người nghe chuyện xưa, nay cứ thắc mắc:
- "Không biết cái chốn Đào Nguyên, cái động Thiên Thai của hai ông Lưu, Nguyễn nó đẹp cở nào? Phong cảnh nó mỹ tú ra làm sao mà đến nỗi quên hết lối về? Chẳng thấy ai mô tả vài ḍng cho tường tận".

Cách nói vẫn là lối ṃn ước lệ như tả Thúy Vân đoan trang, thùy mị th́ mặt phải tṛn như mặt trăng. Tả Từ Hải dọc ngang một cơi th́ phải "râu hùm, hàm én, mày ngài" mới đúng điệu con chuồn chuồn.

Bởi vậy để tránh cho bạn khỏi thắc mắc như trên, tôi muốn tả cái băi biển Nha-Trang của xứ tôi cho các bạn thấy cái vẻ đẹp quyến rũ của nó như thế nào, nhưng ngại ng̣i bút ḿnh không phô diễn được hết. Lại càng ngại ngùng hơn khi chợt nhớ câu "mèo khen mèo dài đuôi" nên đành phải mượn lời người khác xứ để dẫn dắt bạn đi xem phong cảnh hữu t́nh.

Tôi lại kể ...

Hồi xửa, hồi xưa có một chàng thi sĩ họ Quách ở tận một nơi rất xa. Ở đó có thành Đồ Bàn, có Tháp Đôi của xứ Chiêm Thành và nhiều danh lam thắng cảnh khác rất hùng vĩ. Nhưng chàng cũng chưa vừa ư. Chàng c̣n muốn t́m một nơi phong cảnh vừa xinh đẹp vừa hữu t́nh. Chàng đă khăn gói lên đường, vượt đèo Cù Mông, vượt luôn đèo Cả, đến một xứ hiền ḥa có tên là Khánh-Ḥa, chỗ nào cũng thơm ngát mùi trầm. Chàng bèn dừng chân lại đây, cất một căn nhà ngay cạnh bờ đầm để ở. Trước nhà chàng trồng một gốc mận đào làm cảnh. Đến mùa, hoa mận nở hồng cả cây, và cho những chùm mận đỏ rực, xum xuê quằn nhánh.

Chàng đă mê say mănh đất này và quên mất đường về quê cũ.

Ở đó ngày ngày chàng làm thơ, viết sách.

Chàng viết cuốn "Xứ trầm hương" để ca ngợi quê tôi. Và cuốn "Bước lăng du" trong đó kể lại những nơi chốn mà gót chân chàng đă đi qua, có tả cảnh bờ biển Nha-Trang mà tôi sắp mượn lời tác giả để thay ḿnh kể hầu các bạn.

Chàng tả cảnh đẹp biển Nha Trang:

... "Băi biển vừa rộng vừa dài. H́nh giống một lưỡi liềm bằng bạc, cán trở ra xóm Cồn, mũi day xuống Chụt, và lưỡi được sóng biển mài dũa sáng trưng".

Cát vừa trắng vừa mịn như đường cát trắng Đồng Xuân ở Phú Yên. Rờ vào nghe mát rượi. Cho nên có bài hát rằng:

Băi biển Nha Trang: mịn màng trắng trẻo,

Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh.

Đêm đêm thờ thẫn một ḿnh

Đố sao cho khỏi vướng t́nh nước mây.

Tự bản thân, băi biển trông đă đa t́nh quyến rũ, huống hồ c̣n được nhiều cảnh vật bên ngoài điểm xuyết thêm. Những khóm dừa xanh đứng ngay hàng làm tàn che nắng ban trưa, che sương ban tối... Những bồn hoa tư mùa xanh tốt, những biệt thự có vườn tược bao quanh, những vườn dương liễu linh động nhưng yên lành, chạy dọc theo con đường Duy Tân ven biển. Những cảnh nhân tạo trong thiên nhiên: Ở phía Đông Nam, ngọn Cảnh Long với những lâu đài ẩn hiện trong cây đá, những ngọn núi ở tận ngoài xa xôi nhưng trông như gần gũi, trùm bóng lên dăy núi Cù Lao thâm thấp ở phía Đông Bắc và lác đác nơi sườn màu ngói đỏ mà vách trắng của dăy nhà ḍng "Phan Xi Cô" (Francico), nhà ḍng La San. Và ngay trước mặt phía Đông, những ḥn lao xanh, dựa vào lưng trời xanh, man mác bát ngát..., làm cho băi cát có duyên càng thêm duyên, đă có sắc càng thêm sắc giá trị gia tăng bội phần.
...

Và giá trị của băi biển Nha trang, vẻ đẹp của băi biển Nha Trang mỗi lúc mỗi khác.

Buổi sáng bao nhiêu ánh ngọc ngà châu báu nơi thủy cung đều hiện lên mặt sóng, trông lộng lẫy huy hoàng. Và những cảnh vật chung quanh, nhờ ảnh hưởng, cũng trở nên huy hoàng lộng lẫy.

Buổi trưa, biển trở thành một tấm sa tanh thêu kim tuyến căng phơi. Nhà cửa cây cối núi non là những người đứng canh cửa.

Buổi chiều, tất cả biển trời cây đá đều trở thành gấm vóc mà bên ngoài trùm một tấm màn bạch sa mỏng và sưa.

C̣n băi biển là một tố nữ thần nằm im ĺm ngắm cảnh giàu sang của trời tặng.

Ban đêm, cát ḥa với nước, không c̣n phân biệt ngă với nhân. Và ánh đèn câu ngoài khơi lại làm giàu thêm cho cảnh.

Nếu trời có trăng th́ trước mặt là một tấm nhung trắng kết hoàng bào, một nửa trải dưới nền một nửa phất trên trần (như) trong một đền thờ của người Ấn.
...

Ngoài cảnh đẹp thiên h́nh vạn trạng của thiên nhiên, băi biển Nha trang c̣n có gió mát.

Băi biển nào lại không có gió mát ?

Đúng vậy. Nhưng gió Nha Trang có một khí mát đặc biệt, một khí mát dịu dịu, êm êm..., một khí mát "trung ḥa" của ngà voi, của đá cẩm thạch, khác với khí mát của Vũng Tàu, của Qui Nhơn, của Sầm Sơn, của Hạ Long,... nơi nào cũng có phần quá khích, hoặc nhiều hoặc ít, chứ không mấy nơi "theo đúng thuyết trung hoà của Đông Phương".

Thú vị nhất là gió buổi trưa mùa Hạ.

Nằm dưới bóng soan nở đỏ, hoặc dưới bóng dừa buông xanh, nh́n ra biển khơi, du khách có cảm giác như đương nằm dưới gốc cây đa, cây sanh, ở thôn quê nh́n ra đồng lúa mới chín tới, bên trên vàng ánh, bên dưới xanh um, và ngọn gió nồm thổi qua, sóng chao vàng xanh lẫn lộn.

Trong không khí mát lại dường như có chất bổ. Người đương mệt mỏi, ra ngồi nơi băi biển trong giây lát th́ tâm thần liền thấy dễ chịu ngay. Cho nên người ở bốn phương thường lấy Nha-Trang làm nơi dưỡng bệnh.

Nhưng phong cảnh ấy, phong thú ấy, là quang cảnh phong phú ngày xưa, ngày mà "(vùng) trời đất (chưa) nổi cơn gió bụi". Chớ hiện nay, những bồn hoa không c̣n tốt tươi, những rừng dương đă bị đốn trụi. Và trên băi biển mấy chục quán " ba" đă chiếm hết những "yếu điểm", đă làm thương tổn vẻ đẹp thiên nhiên bằng những kiến trúc phản nghệ thuật, đă làm ô uế cát trắng nước trong bằng những đồ thừa thải, đồ cặn bă của thứ ăn chơi.

Băi biển Nha-Trang hiện thời thật chẳng khác một cô xuân nữ bị cưỡng bách vào thanh lâu mà những quán ẩm thực kia là những mụt phong t́nh mọc trên tấm thân ngà ngọc.

(Trích: "Bước lăng du" của Quách Tấn từ trang 474 đến 478. Viết năm 1965. Tái bản lần thứ (?) năm 1996 do Nhà Xuất Bản Trẻ ấn hành).

Đó! Các bạn đă thấy chưa! Cái ông thi sĩ nhà họ Quách đă v́ cái nét đẹp quyến rũ hữu t́nh của quê tôi mà phải dừng bước lăng du, nhận nơi này làm quê hương, không chịu trở về chốn cũ. Ông đă v́ yêu mến mà hết lời ca ngợi. Mà cũng v́ đắm say mà tỏ nỗi bất b́nh khi "người ta" đă làm thương tổn, ô uế vẻ đẹp thiên nhiên.

Nhưng thưa các bạn, dầu có yêu mến ca ngợi cách mấy đi nữa ông thi sĩ họ Quách này cũng chỉ là khách, là người cưỡi ngựa xem hoa, thấy cảnh đẹp mà tức cảnh sinh t́nh, dùng ng̣i bút tài hoa của ḿnh vẽ nên những ḍng châu ngọc, chứ chưa hẵn đă là người từng lăn trên cát, vùi trong sóng, vẫy vùng, lặn hụp, đừa giỡn với ba đào trong những ngày biển động hay những thú vui trên băi trong những đêm rằm, trăng sáng vằng vặc, mănh trăng tṛn cứ đứng măi ở đỉnh đầu...

Bạn phải là người sinh ra từ biển, tắm nước biển và lớn lên từ biển như người làng Cồn tôi, th́ mới cảm hết được cái đẹp, cái mỹ miều của cảnh trí trong t́nh yêu quê hương chan chứa, nồng nàn, thấm đậm. Nghĩa là bạn phải là một đứa trẻ từ thuở sáu, bảy tuổi, tắm tồng ngồng trên biển cho đến khi biết mắc cỡ phải mặc thêm cái quần đùi, rồi đến giai đoạn chấp tay sau đít đi dọc theo bờ cát, sóng chạ liếm chân, mắt ngắm nh́n những tố nữ nằm phơi nắng, những "toà nhiên nhiên dầy dầy đúc sẵn" hàng hàng trên băi cát trắng. Có như thế cái cảnh, cái t́nh nó mới thẩm thấu trong từng tế bào, trong từng mạch máu mà khi đi xa rồi bạn mới thấy nhớ nhung quay quắt, nhớ đến thắt ruột, bào gan.
Cái thuở thanh b́nh ba trăm năm cũ ...
Không, không cần phải ba trăm năm làm ǵ cho xa lắc xa lơ...

Chỉ cần khoảng thời gian tôi vừa lên tới Trung Học, trường Tương Lai ở Sinh Trung, sáng nào đi học, đi ngang nhà thi sĩ họ Quách, thấy ông đứng trong ṿng tường bán nguyệt, trước cửa nhà, tay cầm tách trà Tàu mắt nh́n đăm đăm ra bờ Đầm long lanh ánh nước, bên này bờ, đậu san sát từng dăy dài những bè ṃ o, phía bên kia bờ, xóm Ḷ Heo, xuồng ba lá cũng chen nhau như lá tre rụng trên mặt Đầm, cũng đă là xưa lắm rồi.

Nghĩa là đă hơn một nửa thế kỷ.

Hầu như cư dân ở Nha-Trang mặc nhiên coi biển là sở hữu của ḿnh, tuy rằng nó là nơi công cộng. Nó là của chung của thành phố. Nó chẳng riêng ai. Nhưng thực tế, "ḿnh với ta tuy hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai". Bởi "kho trời chung mà vô tận của ḿnh riêng".

Biển Nha Trang suốt ngày đều rộn ràng đón khách. Khách trong nhà và khách viễn du. Nhưng hai "xuất" đông đảo rộn rịp nhất là từ tờ mờ sáng đến chín giờ. Và từ ba giờ chiều đến tận khuya.

Ba con đường chính nối liền đường Độc Lập và Phan Bội Châu dẫn ra biển lúc nào cũng nườm nượp ḍng người thong thả vừa đi vừa nói chuyện râm ran.

Kể từ đầu phố Độc Lập - Ga Xe lửa là đường Gia Long thẳng ro một mạch tới nhà hàng "Gờ răng Ô ten" bốn tầng đồ sộ.

Giữa phố từ ngă sáu, rẽ ra một nhánh là đường Yersin, cong qua lượn lại một chập đụng Ty Hỏa Xa và Ty Công Chánh nằm kề nhau. Bên kia đường là nhà hàng "Bô Ri Va".

Và cuối phố là con đường Lê Lợi, bỏ chợ Đầm náo nhiệt chạy ra tới Ty Bưu Điện đă nghe tiếng sóng ŕ rào.

Người dân địa phương thường thường đi bộ từ nhà ra, dù ở Phường Củi, Xóm Mới, hay Mă Ṿng là nơi xa nhất. C̣n dân phố th́ khỏi nói. Nhà với biển chỉ vói cánh tay.

Mới năm giờ sáng, trời đất c̣n mờ mờ chưa "giao ban", từng đoàn người đă lũ lượt kéo nhau đi tắm biển. Một năm tắm biển hết chín tháng. Trẻ con và thanh niên chỉ mỗi một quần đùi. Thỉnh thoảng vài ngướ trên tay cầm kính lặn và độc để đâm cá đâm cua.

Người lớn tuổi th́ thêm cái áo thun. Đàn bà con gái th́ cũng quần đùi, quần phồng (loại quần đùi có giây thun bó ống), bên trên thêm cái áo cánh hay áo bà ba là xong.

Mấy cô nữ sinh tân thời hay dân du lịch từ Sài G̣n, từ các tỉnh miền Nam ra th́ mới có "banh xô lây" đầy màu sắc và kiểu cọ phô trương những đường cong, nét lượn của tấm thân ngà ngọc đầy hấp dẫn.

Mỗi nhóm hay mỗi người đều có một nơi tắm nhất định. Không biết là do thói quen hay do lư do nào, hôm nay bạn thấy họ đánh vũ cầu ở đó, tắm ở đó, một tháng sau cam đoan rằng, bạn cũng vẫn thấy họ chơi và tắm ở đó. Nhất định không đổi chỗ. Tôi đă bảo bạn rằng ai cũng coi biển là của ḿnh riêng mà!

Từ sáng đến chiều nước biển luôn luôn trong vắt và thay đổi nhiệt độ theo ư người.

Thật là hoang đường! Làm sao mà nhiệt độ nước biển chiều theo ư người được? Vô lư quá đi thôi!

Đấy tôi đă bảo mà! Nếu bạn không phải là người con sinh ra từ biển... th́ làm sao biết được.

Chắc hẵn bạn nghĩ rằng mới sáng sớm, nhào xuống biển nước sẽ lạnh lắm! Nếu được âm ấm một chút th́ thích biết mấy! Bạn đang ao ước? Được thôi! Bạn nhảy ào xuống nước một cách mạnh dạn coi!

Rơ ràng là nước ấm chứ không phải âm ấm như bạn ước đâu nhé! Thế là bạn thích quá đi thôi. Tha hồ mà vùng vẫy, bơi lội, nô đùa thỏa thích.

Mặt nước phẳng như gương, không một gợn sóng.

Mặt trời ló lên khỏi mặt nước, đỏ rực rồi chói ḷa, chiếu ánh nắng xuống làn da của bạn, bạn lại cảm thấy nóng rực, xót xót ở lưng.

Chà! Phải nhúng ḿnh xuống nước một cái cho mát cái lưng đă! Nói là làm. Ùm một cái! Quả nhiên nước mát theo ư bạn thật! Bạn lại kêu lên:

- "Đă quá! Mát quá!"

Những ai biết bơi lặn th́ bơi ra xa chừng vài chục thước, ở đó có kính lặn bạn sẽ thấy từng đàn mực con, từng đàn cá suốt hết chạy lên lại chạy xuống, theo đùa với bạn. Bạn đưa tay chạm vào, chúng tan ra như pháo bông, tích tắc, chúng tụ lại ngay, thật là vui và thú vị. C̣n nh́n dưới đáy nước, bạn sẽ thấy rất nhiều những con ghẹ con, to chừng hai ngón tay, màu vàng nâu, trên lưng có ba chấm nâu đỏ, ḅ ngang, ḅ dọc kiếm mồi. Những con lớn bằng bàn tay hoặc những con ghẹ "nhàn" màu xanh lơ, to bằng bàn tay xoè đă bị những tay lặn tí hon xỏ xâu bằng cây độc mất rồi. Thêm những con cá lưỡi trâu chạy lũi trong cát, ẩn ḿnh một cách khôn ngoan dưới lớp bùn mỏng cũng bị những tay "nhà nghề" tí hon tém trọn. Chín giờ, trên đường về nhà, cậu nào cũng hănh diện khoe ra hằng xâu dài cá, cua. Đôi khi được cả những chú mực nang to tổ chảng.

Băi biển đông nghịt người. Chỗ này chơi cầu lông (vũ cầu) chỗ kia chuyền banh. Đám choai choai chơi "sút" banh vô "gôn". Chúng vun đất thành hai ụ, giả làm gôn. Một đứa làm thủ môn, đám kia thay nhau sút. Đứa nào cũng xưng là "Rạng". Rạng là tên cầu thủ "số một" thời xưa.

Sát bờ nước, đám con nít năm, bảy tuổi cùng mẹ hay bà ngoại đang chơi tṛ xây lâu đài bằng cát ướt hay xây thành đắp lũy. Tiếng cười trẻ thơ vang lên khoái chí mỗi khi đang đắp lại bắt được con c̣ng nhỏ trắng tinh trong cát.

Dưới nước, người lớn bơi săi, bơi ếch, bơi ngữa, bơi sấp đủ kiểu để vận động cơ thể. Trẻ con th́ bơi chó. Nhỏ hơn chưa biết bơi th́ chun vào các phao cao su đủ h́nh dạng con thiên nga, con vịt, con thỏ... tha hồ mà quẫy đạp. Vừa nghịch nước vừa cười nắc nẻ như bắp rang.

Mặt trời lên cao, biển bắt đầu có sóng lăn tăn, tiếng lao xao, rộn ràng, í a, í ới, nói cười, la hét ồn ă lắng dần rồi im hẵn.

Mọi người dần dần kéo nhau ra về. Ngoài xa xa c̣n sót lại vài tay thợ lặn tí hon cố nán lại thêm chút nữa, hy vọng được thêm chú mực, chú cua nào chăng!

Băi biển trở nên vắng lặng. Lác đác chỉ c̣n vài người ngoại quốc nằm phơi nắng. Cả thân h́nh đỏ như tôm luộc.

... Ba giờ chiều.

Du khách mới đến Nha-Trang lần đầu sẽ rất ngạc nhiên nghĩ rằng dân bản xứ chắc giầu có lắm. Mới ba giờ chiều mà ai nấy đều nghỉ việc, lũ lượt kéo nhau ra biển hóng gió. Coi bộ nhàn nhă quá!

Quả đúng như thế. Khi bóng mấy cây bàng dọc theo bờ biển vừa ngă xuống bờ cát là đă thấy người là người ùn ùn từ ba ngă thành phố kéo nhau ra biển. Họ tay xách nách mang nào là chiếu, là đồ ăn, thức uống, lỉnh ca, lỉnh kỉnh như một cuộc đi cắm trại. Cả gia đ́nh bầu đoàn thê tử, lớn bé, già trẻ có khi cả chục người.

Càng về xế chiều, băi càng đông nghẹt. Đến tối th́ không c̣n chỗ chen chân cho bọn trẻ chạy nhảy nô đùa. Không khéo th́ dẫm đạp phải mấy người già đang nằm thiu thiu cùng gió mát.

Lúc c̣n sớm, trẻ con chơi diều. Trên bầu trời trong xanh, gió nồm từ biển thổi vào, nâng những cánh diều giấy đủ màu sắc chao đi, liệng lại thật vui mắt. Vô số diều là diều. Diều con bướm, diều con chim, diều con rồng... do Ba Tàu làm bán, màu sắc rực rỡ. Chen giữa đám diều quí tộc c̣n có nhiều con diều h́nh bán nguyệt đơn giản làm bằng giấy nhựt tŕnh của con nhà nghèo b́nh dân cũng bay phấp phới không kém phần sống động.

Người lớn nằm, ngồi đọc sách. Một vài bàn cờ tướng cũng được bày ra.

Có người nằm vắt chân chữ ngũ nghe nhạc từ chiếc "ra-đi-ô" phát ra.

Trời mát hẵn. Người ta bắt đầu bày đồ ăn chiều ra. Chỗ này một chiếu. Chỗ kia một chiếu. Vừa ăn vừa nói cười vui vẻ. Ngồi ăn giữa trời đất thoáng đăng, gió mát phe phẩy, không khí trong lành, thật là khoái sảng.

Những đứa trẻ con bán đậu phọng rang, đậu phọng luộc cất tiếng rao mời ơi ới:

- "Đậu phọng rang đ... â âây!"

- "Đậu phọng luộc đ... ââây!

Vừa hóng gió mát vừa nhai tóp tép đậu phọng cũng là điều thú vị lắm.

Dưới nước, một vài người tắm muộn c̣n đang bơi lội. Nhưng tắm giờ này không thú v́ gió làm chao sóng, nước cứ hất ngược vào mặt.

Màn đêm buông xuống dần. Rồi tối hẵn. Sao trên trời bắt đầu lấp lánh. Đă đến lúc đội ngũ bánh ú, vịt lộn và đậu hủ ra quân.

Những người đàn bà, con gái gánh những gánh hàng rong thắp thoáng, ẩn hiện len lách giữa đám đông lố nhố nằm ngồi, cất cao giọng lanh lănh rao:

- "Bánh ú, "dịt" lộn đ...â âây...!

- Ai (ăn) đ...ậậ ậu! Âm ai và âm đậu nghe lên bỗng xuống trầm. Âm ăn nghe chừng thoang thoảng trong hơi gió.

Mấy tiếng bánh ú, vịt lộn nghe xa xa cứ tưởng chừng "bóp vú, vật lộn".

Người dân Nha-Trang "chính hiệu con nai vàng" đều biết hai món ăn này. Đó là đặc điểm kỳ thú, nếu bạn là du khách thỉnh thoảng đôi lần ghé chân th́ không thể nào biết được.

Chừng mười giờ đêm, băi biển vắng dần, xa xa ánh đèn chập chờn như ma trơi của ngọn đèn hột vịt lúc ẩn lúc hiện, khách đa t́nh đang cảm thấy đoi đói, bỗng nghe rao bánh ú, "dịt" lộn đây! cao vút lên trong đêm vắng, cứ tưởng chừng tai ḿnh nghe nhầm lời mời mọc đi hoang...

Những gánh bánh ú, vịt lộn đi hoang thường lấy chỗ tối nhất của băi từ Ty Hỏa Xa cho tới nhà hàng "Đại Khách Sạn" làm tụ điểm. Khách muốn vừa ăn vừa vật lộn th́ xuống khoảng đó mà chờ.

C̣n đậu hủ là món giải khát th́ có ǵ đặc biệt?

Vâng! Giữa trưa hè nóng nực, thức giấc sau một giấc ngủ ngắn, bạn thấy khô cổ, thèm một chút ǵ nong nóng, ng̣n ngọt, khi ăn vào lại thấy mát miệng mà c̣n mát cả dạ th́ không ǵ hơn một chén đậu hủ nóng, với những lát đậu trắng ngần, được bàn tay thuôn thả của cô hàng xúc bằng một cái vá mỏng, chan thêm mấy muỗng đường thắng keo có pha gừng.

Như vậy th́ có ǵ đáng nói ? Ở đâu lại chẳng có!
Ở biển Nha-Trang th́ có cái lạ hơn đó bạn!

Bạn đă từng ngồi dưới băi biển vừa ăn đậu vừa nghe cô hàng tấu nhạc bằng những cái chén bán đậu chưa? Chắc là chưa!

Bạn đă từng xem các nhạc công biểu diễn tấu nhạc bằng những cái cốc (ly) chứa nước, từ ít đến nhiều, xếp hàng rồi dùng một chiếc đũa mà gơ rồi phải không?

Các cô hàng bán đậu đă dùng những cái chén kiểu rất mỏng bán đậu, đổ nước trong đó, rồi dùng ngón tay trỏ vê theo thành miệng chén, lúc chậm, lúc mau, tạo thành những âm thanh réo rắt, lúc nhặt, lúc khoan. Bạn hăy nhắm mắt lại tưởng tượng đi, sẽ thấy nó thơ mộng và tuyệt vời làm sao!

Vừa nhạc, vừa cảnh, vừa t́nh, ḷng ai mà chẳng ngây ngất đắm say!

Tôi cũng xin cam đoan thêm với bạn rằng, trong cái mờ mờ ảo ảo, của ngọn đèn dầu leo lét giữa đêm về khuya, dẫu bạn không phải là vua Tề Tuyên, nhưng cái "Bệnh Tề Tuyên" của bạn cũng sẽ nổi lên đùng đùng, khi nghe giọng mời ăn đậu của cô nàng êm như ru bên tai:
- "Đậu không... cụ?"

Đó là thú của người lớn.

Bọn trẻ con, có thú riêng. Ban trưa chúng đi lượm những quả bàng khô dọc theo trên bờ, ngồi đập lấy hột ăn. Hột bàng vừa gịn, vừa béo. Đập được hột nào, lũm vào miệng hột nấy. Miệng nhai, tay đập. Vỏ bàng để dành từng đống, tối đốt lửa luộc khúm núm và ghẹ.

Khúm núm là một loại cua ở biển, vỏ nhiều hơn thịt, chẳng ai thèm bắt làm ǵ cho nên chúng sinh sản hằng hà sa số. Sát ngay bờ chừng vài thước, bạn đứng tắm có khi cũng dẫm trúng chúng. Không biết ai khéo đặt chúng cái tên y như rằng. Không giống như các loại cua, ghẹ khác, khi bị đụng đến chúng dương hai càng ra kẹp để tự vệ, khúm núm lại co rút chân càng vào ḿnh thành một cục để được an toàn... bị bắt.

Mồi bắt khúm núm là những đầu cá, mang cá vất bỏ. Bọn trẻ lượm hết, gói lại bằng những miếng lưới rách nhặt được. Trời tối hẵn, chúng bẻ mấy nhánh dương, cột gói mồi vào, cắm xuống nước, cách bờ chừng vài thước, nước xấp xấp đầu gối.

Chừng nửa giờ sau, chúng đốt một cái vỏ xe đạp cũ làm đuốc, đi thăm mấy chục cây mồi để hốt khúm núm. Chỗ mồi nào cũng đầy khúm núm bu quanh ăn mồi. Cứ tḥ tay xuống mà hốt. Phải đổi câu thành ngữ "dễ như ăn ớt" thành "dễ như bắt khúm núm" mới đúng!

Thỉnh thoảng cũng có vài chú ghẹ "nhàn" to tổ chảng tới dành ăn, cũng bị "tó" luôn.

Chưa đầy một tiếng đồng hồ là đă bắt hơn nửa thùng thiếc khúm núm.

Đào đất làm bếp với ba ḥn đá làm ông táo kê thùng. Củi bàng, vỏ bàng khô cháy đượm, thong thả luộc chú chàng khúm núm. Mấy cu cậu ghẹ đỏ, ghẹ nhàn th́ được nướng trên than, xơi trước.

Băi bây giờ vắng tha hồ mà làm vua một cơi ở góc cuối Ty Bưu Điện.

Ăn xong rồi ca hát. Hát chán rồi tiếp tục ăn. Mấy con khúm núm toàn là xương xẩu, mút nhóc nhách chỉ có tí thịt, vậy mà ngon ơi là ngon. Cu cậu nào cũng đều hả hê ra mặt. Vui như một đêm cắm trại dă chiến.

Đêm tàn, tất cả vỏ cua, tàn than, đều được chôn sâu dưới đất. Sáng hôm sau, đi tắm, không ai biết được chỗ này, tối hôm qua là một "băi chiến trường".

... Nói về biển phải có trăng mới huê t́nh. Thề trăng hẹn biển mà!

Băi biển Nha Trang đă chứng kiến biết bao cuộc hẹn ḥ trai gái. Những mối t́nh thơ mộng lăng mạn cũng có. Những mănh t́nh nát tan khổ đau cũng có. -"Năm xưa cũng tại chốn này! Nghiến răng nhắm mắt cau mày... "

Năm năm mươi sáu, tôi c̣n là chú bé mới học đệ lục, đă biết thưởng thức mối t́nh lăng mạn tiểu thuyết của ông anh con bà d́ Năm tôi là anh Tư Nhẫn (bây giờ đă ra người thiên cổ) với cô chủ tiệm may Hoa Thi xinh đẹp một thời, ở đường Phan Bội Châu Nha-Trang.

Anh Tư Nhẫn học trước tôi hai lớp. Không biết bằng cách nào, anh đă quen với chị Hoa Thi. Những ngày trăng tṛn, chị Hoa Thi dẫn bầy tiên nữ là đám học tṛ học may của chị xuống biển, chỗ Ty Bưu Điện để hẹn ḥ tâm sự với anh tôi.

Có lẽ nàng Hoa Thi mê anh tôi ở cái phong thái hào hoa, chớ anh em tôi hồi đó nghèo lắm. Nghèo rớt mồng tơi lận. Anh Nhẫn đă biết làm thơ, làm nhạc, đờn giỏi, hát hay, vẽ khéo. Chữ viết rất đẹp. Anh h́ hục sưu tập tất cả những bài thơ t́nh tiền chiến hay nhất chép thành một tập bằng giấy "pơ luya" xanh, hồng. Mỗi trang, mỗi bài thơ có vẽ kèm hoa bướm rất trang nhă. Tặng nàng.

Đêm đêm, anh cởi chiếc áo sơ mi trắng, cái áo duy nhất, "bốp lin" ba trái đào , trải xuống cát biển cho người đẹp nằm lên. Hỏi ai mà không cảm động!

Khi trăng tà, anh em tôi về tới nhà, tôi vùi đầu đi ngủ, anh thắp đèn giặt áo phơi cho kịp khô, ngày mai có mà mặc đi học và tối lại tiếp tục trải áo cho nàng ngă lưng. Tội cho cái áo! Cứ như thế, mới có ba tháng th́ áo đă bục. Cũng may một lượt, cái áo của tôi c̣n chịu đời tới hai năm.

Chuyện t́nh về sau tôi không rơ ra sao, chỉ biết hai người không kết làm một được, như bao lần chỉ trăng, chỉ nước mà thề hẹn.

Hơn bốn mươi năm sau, nhân ngày giỗ của người anh rễ thứ hai của anh Tư Nhẫn, ngoài những khách được mời, anh em con d́, con cậu, con bác tề tựu khá đông, bây giờ tóc ai cũng đă hai màu, để ăn giỗ. Nhân lúc tửu hứng, ai cũng kể lại một mẫu chuyện kỷ niệm ngày xưa c̣n bé. Tôi nhân đó cũng kể lại chuyện t́nh thơ mộng của anh Tư với nàng Hoa Thi. Ai cũng xuưt xoa khen hay với mối t́nh nghèo đầy lăng mạn. Không ngờ v́ chuyện đó, anh giận và đoạn giao với tôi luôn.

Lư do là sau bảy lăm, anh làm ăn rất khá, giao du rộng, toàn là trưởng đồn công an, bác sĩ này, kỹ sư nọ, đều là những kẻ có máu mặt đang ngồi tại đây.

Khi tôi dứt lời kể, mọi người vỗ tay khen th́ anh nghiêm nét mặt, nói:

- "Ngày nay mà chú c̣n đi nhắc những chuyện nghèo khổ ngày xưa làm ǵ? Tôi không bằng ḷng đâu!"

Tôi chưng hững và buồn rầu trong ḷng. Có lẽ ở trong tù lâu quá, tôi không biết ngoài ṿng rào kẽm gai, cuộc đời và t́nh người đă đổi thay.

Tôi cứ nghĩ ai cũng như ḿnh: "Con không chê cha mẹ khó. Chó không chê chủ nghèo".

Ôi! Tôi sao mà quê mùa hủ lậu quá! Suốt đời cứ ôm khư khư cái quá khứ khổ nghèo, đói rách đời ông, đời cha của ḿnh mà làm kho tàng kỷ niệm quí báu.

... Mười năm trước, biển Nha-Trang ghi dấu mối t́nh thơ mộng của anh Tư Nhẫn và chị Hoa Thi ...

... Tám năm sau, biển Nha Trang lại ghi nhận thêm mối t́nh câm, khổ đau, không bao giờ thành của tôi với cô hàng xóm .

Trong một đêm trăng, nàng đă cùng người khác dung dăng, dung dẻ dắt tay nhau đạp ánh trăng vàng trên bờ biển. Thằng tôi vô t́nh trông thấy, ngồi chết trân tại chỗ như Từ Hải thuở xưa.

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau một (bức tường vôi sơn vàng)!

(Xin lỗi thi sĩ Nguyễn Bính, tôi đổi mấy chữ "dậu mồng tơi xanh rờn" cho hợp t́nh hợp cảnh)

Cảnh trăng sáng trên biển thật là thi vị. Ban ngày ta không thấy được cái mênh mông bát ngát của biển. Chỉ có đêm trăng, mắt ta chói ḷa với muôn ngàn ánh vàng trên mặt biển. Mặt biển dát vàng khắp chốn, không thấy đường chân trời. Lúc này mới thấy biển thật bao la.

Ngược lại những đêm tối trời, bạn sẽ ngạc nhiên thấy từ đàng xa một thành phố rực rỡ ánh đèn nổi trên mặt biển. Thành phố kéo dài thẳng tắp hàng cây số, có cảm tưởng như chúng cùng nằm trên một đường vạch thẳng. Đó là đèn của những ghe câu hay mành chong. Họ chong đèn để nhử cá từ dưới sâu trồi lên giỡn ánh đèn và... nạp mạng.

Những đêm không trăng, bạn lại thấy biển là một tấm màn nhung đen, kết lên vô số viên kim cương lóng lánh. Đó là phản chiếu ánh sáng lung linh của muôn v́ sao trên bầu trời.

Nếu bạn đă đọc truyện Trống Mái của Khái Hưng cách đây năm mươi năm trước và bạn có tâm hồn lăng mạn, ao ước được như anh chàng thuyền chài Vọi và cô Hiền sinh viên Hà Nội, th́ tôi sẽ giới thiệu cùng các bạn rất nhiều anh Vọi và nhiều cô Ṿi để các bạn thấy tận mắt, sờ tận tay và tha hồ xây đắp t́nh yêu thoải mái, không cần phải tưởng tượng làm chi cho mệt bộ nhớ.

Mùa hè, khi trời vừa hừng sáng, ánh mặt trời vừa loé trên mặt nước vài tia, bạn đi tắm sớm khỏi sợ nắng làm đen làn da, bạn sẽ chứng kiến cảnh kéo lưới trên bờ. Lưới đă được giăng lúc gần sáng, tít ngoài khơi. Hai đầu lưới được nối dài bằng dây chăo dài vô tận bờ. Đó là loại "lưới rùng". Lưới này "dậu" ch́m sát đất. Bất cứ loài hải sản nào cũng bị lùa vào "đăy". Tôm, cua, cá, mực, ốc... từ bằng bàn tay trở lên đều bị tóm hết.

Những anh Vọi, cô Ṿi, cả bố mẹ và đàn em bảy tám tuổi của gia đ́nh Vọi đều được huy động để kéo lưới. Họ chia nhau mỗi đầu dây chăo từ ba đến bốn người, đứng ngữa lưng mà kéo. Mỗi người họ có một ṿng đai lưng làm bằng cật tre to bản. Hai đầu đai là hai sợi dây dừa to bằng ngón tay, dài khoảng gang tay, thắt gút ở đầu dây là một que tre nhỏ, ngắn cở ngón tay. Khi kéo lưới họ không dùng tay để kéo. Kéo bằng tay không mạnh bằng lưng. Lưng dùng được toàn sức của thân h́nh. Họ đeo đai vào lưng. Hai đoạn dây dừa họ néo vào dây chăo. Họ ngữa lưng lên bờ, mặt nh́n ra biển và đi thụt lùi.

Họ lần lượt thay nhau. Người sau cùng tháo dây dừa ra khỏi chăo và lên đứng trước. Người thứ nhất thành người thứ hai.

Cứ thế... cứ thế... họ vừa kéo, vừa xích lại gần nhau cho đến khi giàn lưới giăng cả cây số thu hẹp dần thành một vành bán nguyệt sát bờ th́ đàn cá hết phương tẩu thoát, bắt đầu nhảy tung tăng trắng mặt nước.

Những cậu bé và cả thanh niên, nam, nữ đi tắm, ham vui cũng xúm vô kéo. Chỉ màu mè được một chốc th́ đă kêu phồng da tay hoặc chán cái tṛ tŕ kéo, chậm chạp từng tí một, chẳng thú vị chút nào. Họ dần dà rút lui và nhào xuống nước, bơi ṿng ṿng theo lưới để xem đàn cá đang chạy nháo nhào t́m chỗ thoát thân.

Một mẽ lưới kéo được lên ghe phải mất khoảng thời gian ba tiếng đồng hồ. Lúc này th́ mặt trời đă cao lên khỏi ḥn Tre mấy sào rồi.

Gia đ́nh anh Vọi, cô Ṿi hậu thân, đă rút hết lên ghe để xúm nhau kéo đăy. Chiếc đăy đă thu tóm trọn bầy tôm cá vào trong, trở nên nặng trĩu. Họ hối hả đổ cá ra khoang ghe và nhanh chóng lựa ra từng loại một để kịp giờ đem ra chợ sớm.

Họ bỏ mặc những cô Hiền, anh Hiền thành phố, có đầu óc lăng mạn, đầy tiểu thuyết ái t́nh, đang ngẫn ngơ nh́n theo những tấm thân rắn chắc, rám nắng, tràn đầy sinh lực.

Nói tới biển với cảnh trời êm, sóng lặng, ban ngày mặt trời tỏa ánh hào quang chói ḷa, ban đêm ánh trăng vàng, ánh sao kim cương rực rỡ chiếu sáng, ai lại không ham thích đắm ḿnh trong cảnh thiên nhiên ấy. Nhưng không nói đến những ngày trời đất nổi cơn thịnh nộ, sóng dữ hàng hàng lớp lớp xô nhau vào bờ, đánh ầm ầm như trời long đất lở, th́ hăy c̣n thiếu sót lắm lắm.

Bắt đầu từ tháng chín âm lịch trở đi, biển thường xuyên "động". Nghĩa là thường xuyên có băo và tố. Biển trở nên hung hăng, sóng lồng lên như bầy ngựa bất kham.

Trong những ngày "biển động" như vậy, chúng tôi chơi tṛ giỡn sóng.

Bạn có muốn được một lần tham dự?

Được thôi! Với điều kiện bạn phải biết bơi, lặn và cả can đảm nữa đấy nhé! Và cũng xin cảnh báo trước là rất nguy hiểm, có thể chết người đấy!

Buổi trưa tan học. Bầy quỉ nhỏ chúng tôi từ Trường Nam Tiểu Học, chạy một mạch ra tới biển. Áo, mũ, cặp, lột ra bỏ đống dưới gốc cây bàng. Cu cậu nào cũng chỉ cái quần đùi.

Chúng tôi dàn hàng ngang bên mép bờ chờ sóng vô.

Sóng từ xa ngoài khơi, hàng hàng, lớp lớp nối nhau xô vào bờ, nước bắn tung toé cao có ngọn, đập ầm ầm vào băi cát, quay cuồn cuộn như con xoáy của thác nước trên cao đổ xuống.

Chúng tôi chờ con sóng lớn mới chơi.

Chu kỳ của sóng chúng tôi rành sáu câu. Bí mật của biển chúng tôi nằm ḷng.

Cứ ba, bốn con sóng nhỏ hay vừa là có một con lớn. Sóng nhỏ và vừa đánh vào chậm, rút ra cũng chậm. Sóng lớn cao cở ba thước, lừng lững như bức tường dựng đứng, đen ng̣m, im lặng tiến vào bờ, nhanh như con cọp vồ mồi, trên ngọn không có bọt sóng. Khi cách bờ chừng vài thước, nó đánh ầm một tiếng như núi lở, khối nước khổng lồ đổ xuống, quay tṛn hung hăn như cơn lốc trong cơn cuồng nộ. Kéo dài chừng một phút rồi vội vă rút lui.

Đó mới là địch thủ đáng để chúng tôi đùa giỡn.

Mới nh́n thôi mà bạn đă "teo bu gi" rồi à ?

Hăy yên chí đi! Biển lúc này ví như ông cha nóng tính. Tuy la hét ầm ỹ như vậy chỉ cốt hù dọa những đứa con rắn mắt thôi, chớ trong ḷng ông hiền khô à! Nếu ta biết đi đường "ḷn" th́ mọi việc sẽ êm xui và thú vị vô cùng cho cái thú mạo hiểm và chinh phục.

Khi con sóng "lư tưởng" cách bờ chừng ba thước, không nhanh hơn hay chậm hơn, trước sau một giây, chúng tôi chạy ào xuống và phóng ḿnh vào chân sóng, trước khi nó đổ ầm xuống. Trong lúc trên mặt nước, nó đang lồng lộn biểu dương sức mạnh vô địch của ḿnh, chúng tôi lặn ngay sau lưng nó một cách an toàn, ra xa bờ. Nước dưới đáy yên lặng như tờ và ấm áp vô cùng, khác hẵn nước trên mặt lạnh buốt như nước đá. Đoạn, chúng tôi ngoi lên và theo đà con sóng nhỏ tiếp theo, đưa vào bờ nhẹ nhàng như người ta trượt ván trong xi nê vậy.

...Bí mật của biển là những ḍng thủy lưu. Không giống như nước sông, chảy một chiều. Nước biển có những ḍng chảy khác nhau. Và nhiệt độ khác nhau. Cũng một vùng biển mà nước trên mặt chảy về nam, dưới sâu vài thước lại có ḍng khác chảy ngược về bắc. Trên mặt nước ấm, dưới lại lạnh hay ngược lại. Dân làng biển nhờ kinh nghiệm cha truyền con nối, biết rất rành rẽ, giờ nào, ḍng nước nào, đi ngược, đi xuôi để giăng lưới. Nếu không kinh nghiệm, lưới sẽ bị nước đùa dồn cục, ngày hôm đó coi như công cốc.

Bọn trẻ con chúng tôi cũng áp dụng kinh nghiệm đó, chơi tṛ giỡn sóng, tuy nguy hiểm một chút nhưng nó kích thích và hấp dẫn tuổi trẻ háo thắng vô cùng.

Tuy nhiên đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma bạn ạ!

Tôi cũng đă hơn một lần sắp theo ông văi, bà văi cũng v́ chậm chân trong một "tích tắc".

Bây giờ người ta mới có câu "Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ" để diễn tả hết cái nổi sợ hăi lúc ấy. Lúc bị nó cuốn tṛn, vùi dập trong cơn xoáy kinh hồn, tay chân h́nh như bị trói, không cựa quậy, tung đạp được. Vừa uống nước mặn sặc cả mũi lẫn miệng, vừa ngộp thở, tôi tối tăm mặt mũi, thấy cả chục cái quan tài chớ không phải một cái.

Trong lúc thần hồn sắp tiêu diêu miền cực lạc th́ bỗng thấy ḿnh văng lên băi, nằm ngay đơ cán cuốc. Thật là hú vía.

Khi ba hồn, chín vía hồi lai, tôi thề độc rằng:

- "Kể từ hôm nay đến ngày mai sẽ không dám chơi dại nữa".

Nhưng bạn hăy nghe rơ lời thề của tôi nhé. Ngày mốt tôi lại hùng hổ xung trận cùng đám tiểu yêu th́ đừng cho tôi thề ẩu.

Cách thề này tôi bắt chước mấy ông thần lưu linh thề bỏ rượu.

Khi bị mấy bà sư tử "hống" cho xanh máu mặt, th́ mấy ông vội vă đưa tay lên mũi mà thề rằng:

- "Kể từ đây trở đi, tôi thề không uống nữa. Nếu có, Bà Thiên Y Thánh Mẫu bên Tháp vặn cổ cho tôi hộc máu chết tươi!"

Mấy bà nghe chồng thề độc như vậy, mừng quá, híp mắt lại không thấy bàn tay ông chồng chỉ đưa từ mũi lên trán, chớ không phải từ miệng. Thế là các bà bị gạt.

Biển Nha Trang c̣n nhiều chuyện bên lề, vui và lạ đầy tính hấp dẫn, không sao kể ra đây hết được. Chẳng hạn chuyện mấy anh chị "phó nḥm" chụp h́nh dạo bờ biển theo dụ khị khách phương xa, bày lắm tṛ ngộ nghĩnh. Chuyện những mối t́nh học tṛ đầy chất lăng mạn và thơ, dưới các lùm dương, được xén tỉa thành h́nh tṛn h́nh vuông, trong mùa thi...

Kể hết ra lại thành "chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ", ...

Xin được tạm ngưng nơi đây.

Đọc xong mấy trang này, tôi nghĩ sẽ có bạn thở ph́ một tiếng và phán ngay rằng:

- "Chuyện lạt nhách vậy mà cứ cà kê, dê ngỗng ḷng ṿng!"

- "Chuyện vậy th́ có ǵ là xưa đâu? Bày ra cái nhan đề "truyện cổ tích" để xí gạt người đọc!

Nếu quả vậy th́ xin các bạn từ bi, hỉ xả mà đánh cho hai chữ đại xá.

Đó là tại người kể chuyện vô duyên, bất tài, không diễn đạt được hết cái t́nh trong cái cảnh, của biển Nha-Trang.

Thôi th́ đành bắt chước chú Ba Tàu bán muối mà chữa thẹn cho chuyện kể vô duyên:

- "Ba, bốn bao muối mà c̣n lạt cái ǵ nữa?"

Tôi sẽ nói:

- "Tặng bạn cả một biển nước Nha Trang c̣n lạt nỗi ǵ!"

C̣n cái nhan đề truyện là tôi "ăn cắp" cách kể chuyện của Má tôi, tức Bà Nội đám trẻ ở nhà, khi kể chuyện cho các cháu nghe, bà thường kể:

- "Hồi xưa..., người xứ ḿnh có một món ăn kêu là bún... "

Hồi xưa mà Bà Nội kể, đó là khoảng thời gian từ năm 1975 đến năm 1980. Cái thời mới thống nhất đất nước, Nhà nước ta đem cái cách làm kinh tế theo đường lối "Cách mạng Xă Hội Chủ Nghĩa", áp dụng từ Bắc vô Nam. Cách này được nhập "trọn gói" từ Trung Quốc và Liên Xô về. Để mọi người đều được b́nh đẳng nghèo mạt rệp như nhau, dân trong Nam không được giàu hơn dân miền Bắc, mỗi gia đ́nh chỉ được đồng đều có hai trăm đồng, Đảng và Nhà nước thi hành chánh sách "cào bằng" bằng cách "ngăn sông, cấm chợ" và đổi tiền liên tục.

Chỉ trong ṿng vài năm, dân miền Nam trắng tay, y như người miền Bắc.

Thế là không c̣n giai cấp địa chủ, nông dân nữa. Mọi người đều bần cố như nhau.

Người miền Bắc từ lâu đă có nghề "chui". Người miền Nam nẩy ra nghề "chà đồ nhôm". Hai nghề đă làm đẹp mặt chế độ và vẻ vang cho dân tộc một thời.

Miền Nam Việt Nam trước năm bảy lăm là vựa lúa của cả vùng Đông Nam Á, nhưng nhờ cách làm kinh tế vô sản của ta hay "trăm ngàn lần hơn" bọn đế quốc, bỗng chốc cả nước... không có một hột gạo mà ăn.

Năm chục triệu người khi khổng, khi không, bị đói ră họng, phải ăn đủ thứ củ và cả hột bo bo dành cho súc vật để cứu đói.

Gạo không có ăn th́ làm ǵ có để xây bột làm bún, làm bánh phở...

Thời gian chỉ có năm năm, đâu có lâu la ǵ, mà Bà Nội kể chuyện cho cháu lại bắt đầu: - "Ngày xưa... người xứ ḿnh... "

Đó phải chăng v́ đói quá, thèm ăn quá mà người ta có cảm tưởng thời gian lùi lại hàng thế kỷ, để nghĩ rằng ăn bún, ăn phở chỉ c̣n trong chuyện cổ tích!

Người kể truyện này cũng ở trong tâm trạng hoài hương của kẻ lưu vong, ngày ngày nhớ nhà mà mơ tưởng đến cái thuở c̣n niên thiếu. Mới chớp mắt đă ba mươi năm qua. Để trải ḷng cho nhẹ mối ưu sầu, đành ngồi viết ra cho hả, những ǵ c̣n nhớ được. Chuyện nhớ, chuyện quên, góp nhặt từng mảnh nhỏ đó, đây, trong kư ức sắp trở về trang giấy trắng của trẻ thơ.

Có lúc mơ hồ, thảng thốt, bất chợt kêu lên:

- "Người xưa đâu? Cảnh củ đâu? T́nh xưa đâu?"

Tiếng kêu mất hút trong cô tịch.

Có chăng, chỉ c̣n là âm vang trong truyện cổ tích!

Quincy, ngày chớm lạnh, tháng 10/2003

Chú thích:
- Ngày 23/7/1980 Phạm Tuân "đi ké" tàu vũ trụ của Liên Xô.
- "Bác" (*): 1980 : Tôn Đức (đứt?) Thắng.

 

(Xem tiếp kỳ 7)

 

Nguyễn Thanh Ty

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com