Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.



 
Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 



Dư Âm Ngày Cũ
Nguyễn Thanh Ty

  


Phần 5:

Cây NRí

Riêng tặng anh Trần văn Tiến,

người đă cùng tôi chia ngọt, xẻ bùi

suốt thời gian dài đen tối nhất từ trại Đá Bàn đến A30.

Nguyễn Thanh Ty

Ông Hai đến Mỹ cuối năm 1991 cùng gia đ́nh gồm vợ và ba con trong diện H.O. Đầu năm 1993, ông lại phải về Việt Nam để cư tang và làm thất bốn mươi chín ngày cho Mẹ vừa mới mất. Khoảng thời gian hai mươi ngày lưu lại, ông chỉ quanh quẩn trong nhà lo liệu mọi việc ma chay, cúng kính và tṛ chuyện cùng người cha già gần tám mươi tuổi. Ông không hề bước chân ra đường. Có lẽ những ngày tháng trong trại cải tạo quá hăi hùng đă ám ảnh ông chăng? Ở đất nước này, mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, đều có thể qui tội được và có thể bị bắt bất cứ lúc nào mà không cần lư do hay chứng cớ. Có những đêm đang ngủ trong pḥng, cách xa quê nhà ông nửa ṿng trái đất, rất an toàn, ông vẫn thấy ḿnh bị trói giật cánh khỉ, quặt ra sau lưng và bị lôi bừa đi trước sự kêu khóc của vợ con ông bởi bốn tên công an với súng ống, lưỡi lê. Giật ḿnh tỉnh dậy, mồ hôi đầm đ́a trên mặt, ông vẫn chưa tin ḿnh nằm thấy ác mộng.

Ngày về lại quê hương, vừa đến phi trường Tân Sơn Nhất, ông đă cảm nhận rơ ràng cái không khí nghẹt thở của cái xứ sở thân yêu của ông. Qua bao nhiêu phi trường quốc tế như Boston, New-York, Tokyo ông cảm thấy thoải mái vô cùng. Đồng tiền ông bỏ ra mua vé đă được phục vụ một cách xứng đáng. Phi trường to lớn, đẹp, sạch, tiện nghi tối tân. Người tiếp tân lịch sự, vui vẻ. Nụ cười lúc nào cũng ở trên môi và luôn luôn nói "Welcome" hoặc "Thank you" với mọi người. Trong khi tại Tân sơn Nhất, khách đứng xếp hàng dài trước các quầy chờ xét giấy tờ nhập cảnh, ai nấy đều mồ hôi nhễ nhại với cái nóng bức, ẩm thấp oi nồng, th́ nhân viên thuế quan cứ nh́n chằm chặp vào mấy cái Passport có cộm đô-la nằm ở giữa hay không, mới xét cho qua. Ông cũng đă được những lời khuyên quí báu trước khi lên đường:
- "Thời giờ là tiền bạc, muốn cho mau lẹ, phải kẹp 5 đô vào sổ thông hành".

Vậy mà đến lượt ông, một "mợ" công an, sau khi nhanh nhẹn chuồi tờ giấy bạc màu xanh, in h́nh Tổng thống Lincoln vào ngăn kéo, vẫn c̣n phán cho ông một câu sặc mùi "Chuyên chính vô sản":
- "Mới qua Mỹ có một năm mà "chốn" về "dồi" à?"

Ông ức lắm, nhưng không dám đốp chát lại. Ông sợ nó giở luật rừng ra th́ bỏ mẹ, nên đành nhỏ nhẹ bẩm:
- "Thưa cán bộ, vâng, bên Mỹ khổ lắm ạ! Phải về Việt Nam làm ăn thôi!

Vẫn chưa thoát khỏi cái cổng oan nghiệt Tân Sơn Nhất. Đến quầy lấy hành lư, hai "cậu" công an khác lại đ̣i măi lộ, nếu không th́ phải xét hành lư. - Hành lư đă qua máy "rà" rồi mà! - Vâng, nhưng có "vấn đề", cần phải mở ra, khám lại.

Ôi! Hai chữ "có vấn đề"!!!. Ông rất sợ hai chữ này. Hai chữ này, trong chế độ "ta", nó ám vào việc ǵ th́ việc đó khốn nạn ngay. Nó ám vào ai th́ người đó không chết cũng bị thương tới chết. Ở trong tù, ông cũng bị kêu lên "Pḥng Giáo Dục" nhiều lần cũng v́ hai chữ có "vấn đề". Cho nên ông phải xùy ra hai chục nữa. - Có thế thôi à? Những hai va li to kềnh mà có hai choạc à? - Lại tiếng lóng! Một lũ lưu manh từ trên xuống dưới! Ông rủa thầm. Lại ḷi ra hai chục đô nữa, để khỏi bị xốc tung đồ đạc mà vợ con ông đă tẩn mẫn gói, xếp, ngăn nắp, gọn gàng suốt một đêm. Mà nào có ǵ quí báu cho cam! Mấy hộp dầu xanh Con Ó làm quà. Mấy hộp sâm Đại Hàn cho ông cụ. Ngoài ra là đồ chơi con nít, cho một bầy cháu, hai phía, bên nội, bên ngoại. Nếu đổ tung ra, ngồi nhét lại như cũ phải mất ít nhất cả tiếng đồng hồ chưa chắc đă vừa.

Ông ức lắm! Ức không phải v́ mấy chục bạc. Mà ức v́ cái khốn nạn của chế độ. Ai đời! Đất nước của ḿnh, ngôn ngữ của ḿnh mà đành phải trơ mắt ếch ra nh́n cái cảnh ăn cướp trắng trợn diễn ra một cách sống sượng, trơ trẽn, dă man như thế mà không nói được tiếng nào! V́ vậy, sau khi mọi sự tang ma xong, ông trở về Mỹ, tự hứa với ḷng, trừ khi cha già đến ngày qui tiên, ông sẽ không bao giờ trở lại cái đất nước đầy một lũ cướp cạn như thế. Tính đến nay, đă mười năm, ông không hề trở về lần nào nữa. Mặc dù cuộc sống hiện nay của ông đă tương đối ổn định so với những người qua Mỹ một lượt với ông. Các con ông nay đều trưởng thành, đă có gia đ́nh riêng, đời sống thoải mái. Vợ chồng ông có quyền thong dong trong tuổi xế chiều. Nhưng than ôi! Việt Nam, đất nước ông đó, quê hương ông đó, cuống rún ông đó... cả một liên hệ trùng trùng nghĩa t́nh ruột thịt, máu mủ cha mẹ, anh em, bằng hữu mà ông phải đành đoạn xé ruột, bầm gan dứt áo ra đi. Ra đi mà tâm trạng như trốn chạy. Thoát khỏi đất nước này càng sớm càng tốt. Ngày bước chân lên máy bay mà tâm trí ông cứ ám ảnh như ngày được tha ra khỏi trại cải tạo A30. Đi hối hả một nước không dám ngoái đầu trở lại nh́n cái cổng. Bây giờ, chỉ cần một vé máy bay, vù một cái, là ông đương nhiên ung dung đặt chân trở lại nơi chôn nhau cắt rún. Đơn giản, dễ dàng. Nhưng ông vẫn không làm được. Bởi ông sợ cái đất nước đầy tráo trở này. Chỉ trong ṿng hai mươi năm mà đời ông (cũng như hằng triệu người khác) đă bị chế độ lột da, thay tên nhiều lần như con tắc kè biến màu tuỳ nơi nó chạy qua. Tháng tư năm 75, ông có tên mới là "lưu dung" vẫn dạy tốt, học tốt. Cuối năm tự nhiên thành "Kẻ có nợ máu với nhân dân". C̣ng tay, giật cánh khỉ, đi cải tạo để trở nên người tốt, lao động tốt. Lại thêm tên mới là "Cải tạo viên". Mút chỉ mù khơi gần sáu năm, học hoài mà cứ bị phê là cải tạo chưa tốt. (Đố ai định nghĩa được thế nào là cải tạo tốt trong trại cải tạo Cọng sản? Ai định nghĩa được, kẻ hèn này xin bán vợ, đợ con để trao giải thưởng. Cam đoan không nói láo.) Đùng một cái, tha về. Lần này mang tên "Công dân hạng nh́" luôn luôn được sự chiếu cố tận t́nh của công an khu vực. Đi đâu, làm ǵ phải bẩm báo. Mỗi tuần được mời tới đồn Công An uống trà và đàm đạo. Thiệt là an toàn trên xa lộ. Sau chín năm miệt mài lao động để tạo nên của cải vật chất, góp phần xây dựng đất nước, từng bước vững chắc tiến lên Xă Hội Chủ Nghĩa. (Thuộc bài ghê chưa! Vậy mà nó cứ nhất định phê "chưa tốt"). Được giấy báo xuất cảnh đi sang Mỹ để "tiếp tục ôm chân Đế quốc" ăn bơ thừa, sữa cặn. Sau khi trấn lột từ phường, khóm, văn pḥng dịch vụ xuất cảnh, đến mấy Ty Nhà Đất, Ngân Hàng, Thuế Vụ... để hoàn tất hồ sơ xuất cảnh, anh "công dân hạng nh́" chỉ c̣n có cái khố để ra đi, lại bị gán cho một tên mới là "phản quốc".

Ba năm sau, từ phía bên kia bờ Thái B́nh Dương, cũng vẫn những kẻ hôm trước trấn lột anh, bây giờ đang một tay lau nước mắt (cá sấu) một tay thiết tha vẫy gọi, âu yếm kêu anh là "Khúc ruột ngàn dậm". Ôi cái tên sao mà thân thương, tha thiết quá đỗi. Ai nghe mà không cảm động đến rơi lệ. Rồi "Khúc ruột ngàn dậm" được Nhà nước ta long trọng, đích thân mặc cho chiếc áo gấm "Việt kiều yêu nước" với lời mời gọi ngọt như mía lùi: - Hăy mang đô la và trí tuệ về xây dựng quê hương. Chính sách, chủ trương nhà nước ta trước sau như một. (Chỉ có bổ sung chứ không thay đổi). Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại. (Câu này bố ai hiểu nổi. Chạy mất mẹ nó rồi lấy ǵ mà đánh. Mấy anh khờ hoặc không có phương tiện cao chạy xa bay, ở lại sau 75 mới bị đánh hộc x́ dầu, mười phần chết bảy c̣n ba. Cái gương tày liếp) Bởi vậy, như con chim bị ná, đời ông đă bầm dập, tả tơi như tấm mền rách, gia đ́nh ông tan nát, vợ con ly tán. Tuổi trẻ ông bị hủy hoại. Làm sao ông dám trở về để rồi lại sa hầm, sập hố. Nên dù có yêu thương, nhung nhớ bao nhiêu, ông cũng đành gạt nước mắt, để chiều chiều ra đứng ngơ sau trông về quê mẹ lăng đăng trên những đám mây trắng đang lững lờ ở cuối chân trời...

Vợ chồng ông sống riêng trong căn nhà hai pḥng ngủ. Cách đây năm năm, ông bà t́nh cờ mua được, nhờ may mắn, đúng lúc thành phố có chương tŕnh giúp đỡ những người có mức lợi tức thấp, mua nhà lần đầu tiên, cho mượn tiền "down". Căn nhà tuy nhỏ nhưng xinh xắn. Có rào chắn trước. Có vườn nhỏ đằng sau.

Mùa hè, thú vui của ông là làm vườn. Ông bỏ nhiều th́ giờ để chăm sóc vườn rau. Tuy đất sau nhà hẹp, rộng độ sáu chiếc chiếu đôi nhưng ông trồng được đủ thứ rau cỏ. Ông h́ hục cuốc, xới, sàng lọc đất, phân luống, đánh rănh ngay hàng thẳng lối. Luống này là ớt. Luống kia là cà. Kế theo là rau muống, xà lách, rau ng̣, tía tô, é quế, rau răm, mồng tơi... cũng không thể thiếu mấy lănh tàn ô. Hai góc tường đầu nhà, ông làm hai giàn cây cho bầu mướp và khổ qua leo. Phía trên giồng cao, sát hàng rào ông hàng xóm Mỹ, ông trồng một hàng hoa hồng đủ màu sắc từ hồng đến đỏ, vàng, nhung thẫm... có cả hồng xanh là loại mắc tiền và khó chăm sóc, ông cũng sưu tập về. Tràn trên mặt đất chỗ nào cũng thấy dưa leo vươn ngọn ḅ hơn hớn, trái nằm núc ních như heo con cả bầy... Khi cây già, trái chín, ông nâng niu từng quả cà, trái mướp, mớ rau, khệ nệ mang đi biếu bạn bè ăn lấy thảo. Hai ông bà ăn uống bao nhiêu! Mỗi buổi sáng, vợ ông nh́n ông loay hoay ngoài vườn, lúc xới đất chỗ này, lúc bón phân chỗ kia, mồ hôi lấm tấm sau lưng, âu yếm nhắc chừng:
- "Nè ông! Làm vừa vừa thôi, coi chừng mệt đó nghe!"

Chả là ông bị bệnh tim mấy năm nay. Đôi khi ông hớn hở khoe với bà quả cà này to, mướt, bụi ớt xiêm kia trái oằn cây, luống mồng tơi nọ lá dầy, to bản, v.v... th́ bà nói:
- "Được chừng ấy cũng đă tră tiền nước, tiền phân khá bộn".

Ông Hai cười:
- "Mua được thú vui, chừng đó tiền th́ cũng rẽ chán".

Ai đến nhà chơi cũng đều trầm trồ khen vườn rau xinh quá. Ông Hai lấy làm thích chí, vui ra mặt. Bao nhiêu mồ hôi đổ ra đă đem lại cho ông niềm vui. Những quả cà dái dê óng mượt dài chấm đất. Những trái bí chanh to hơn cái xô nước, núc na núc ních, bắt đầu đánh một lượt phấn trắng quanh ḿnh, đang lấp ló dưới những lá xoè. Mỗi cuối tuần, nhà ông là tụ điểm. Vài ba anh em, bèo nước tha phương gặp nhau, kết nghĩa tâm giao. Kẻ tóc xanh cùng người đầu bạc, cùng chung nỗi ḷng cố quốc, tụ nhau mỗi chiều thứ bảy, mượn ly rượu để giải sầu, nói chuyện bao đồng để t́m một chút ấm ḷng, an ủi lẫn nhau cho đỡ nhớ. Đứng trên "deck" nh́n xuống vườn rau, ai cũng khen ông chịu khó. Có lần trong cuộc nhậu, nhâm nhi ly bia, ông chậm răi nói với các bạn:

- "Lâu lắm, h́nh như hơn ba mươi năm về trước, một bà kư giả người Anh, tên Việt là Ỷ Lan, nói sơi tiếng Việt, giọng Huế, viết một bài nhan đề là "Giàn bầu Paris", đọc trên đài BBC. Lúc đó tôi nghe vậy thôi, chẳng có một gợi ư ǵ đặc biệt. Giàn bầu th́ ở đâu chẳng thế. Có ǵ đáng nói. Bây giờ ngẫm lại mới thấy thấm thía cái ư nghĩa của bài viết. Có mất quê hương, có lưu lạc xa xứ, mới thấy thương nhớ từng bụi cà, bụi ớt, từng giàn bí, giàn bầu...

Có người bảo:
- "Những thứ này đáng mấy đồng bạc anh Hai! Ra chợ thiếu ǵ! Trồng làm ǵ cho mệt. Đă mất công trồng, c̣n mất công đem cho!"

Ông chỉ cười mà không đáp. Họ không hiểu được ḷng ông. Rổ rau muống ông vừa cắt dưới vườn lên, đúng lúc bà vợ ông bưng nồi vịt nấu chao ra thơm phưng phức. Những ngọn rau xanh, non, nhúng vào nước chao, ăn gịn tan trong miệng, thiệt là khoái khẩu. Tuy ngon nhưng ông vẫn cảm thấy không bằng khi ăn vịt nấu chao ở Cầu Dứa. Trái bầu, trái bí hái vào nấu canh với tôm giả dập vẫn không ngọt bằng ở quê nhà khi mẹ ông nấu cho ông ăn hồi c̣n bé. Bà vợ ông kêu ông khó tính. Ăn món ǵ ông cũng kêu "Không bằng.... ". Ông cũng biết nhiều lúc làm buồn ḷng bà. Bà đă cất công hằng ngày, ráng nấu những món ngon cho ông ưng miệng. Nhưng những lời vô thức vẫn chợt tuôn ra ngoài ư ông. Bởi rơ ràng cá, tôm ở đây tanh hơn.

Một lần, hồi mới qua Mỹ được mấy tuần, em ông dẫn ông đi "chợ trời" ở down town, xem cho biết. Gọi là "Hay Market". Chợ bày đủ thứ hằm bà lằng ra một khoảng đất trống. Từ rau cải, trái cây ở các nông trại chở tới, đến cá, thịt đủ loại ở khắp nơi chở về... bán với giá rất r?. Gia đ́nh đông người th́ mua về rất có lợi. Tiết kiệm được một khoản tiền. Gia đ́nh nào ít người, chưa kịp ăn hết đă thúi, hư, hóa ra lại mắc. Khi đi ngang dăy hàng cá, cái mùi tanh nồng, đậm đặc, quyện trong không khí lạnh buốt mùa đông, không tan loăng, làm ông ói mửa lộn gan, lộn ruột. Bao nhiêu mật xanh, mật vàng tuôn ra cho bằng hết. Từ đó, ông không ăn cá được nữa. Mặc dầu ông sinh ra ở một làng chài, ông đă ăn cá suốt một đời, từ bé đến lớn, cho đến ngày bỏ nước ra đi. Mỗi lần ăn một món ǵ, tự nhiên cái vô thức của ông cũng đều liên hệ so sánh với các món ăn quê nhà. Thịt ḅ tái phở Ḥa làm sao ngon bằng, ngọt bằng phở tái chợ Đầm, chợ Xóm Mới. Phở gà làm sao vừa gịn, vừa dai, vừa ngọt, vừa thơm, vừa đậm đà cho bằng phở Chụt, phở Phan Đ́nh Phùng. Ông thèm dĩa gỏi cá mai cầu Hà Ra, dĩa vịt nướng Cầu Dứa, Chợ Mới, chùm nem chua Ninh Ḥa, tô cháo cá măng Ḥn Khói, những cặp bánh căn nóng ḍn ở Xóm Cồn (xóm ông ở) vào những sáng tinh mơ mùa đông se se lạnh. Ông cũng thèm cả bánh bèo ở đường Trần Quí Cáp hay đường Mạc Đỉnh Chi bán về đêm. Ờ, c̣n bánh xèo ở con hẽm Phan bội Châu nữa chớ. Pizza Ư làm sao mà sánh được! Ông c̣n thèm nhiều thứ lắm. Nhưng nói ông nhớ th́ đúng hơn, rơ nét hơn.

Bởi Tản Đà khi luận về ăn ngon phải gồm ba yếu tố: thức ăn ngon, chỗ ngồi ngon và bạn ngon. Ở đây ông có đủ cả ba mà sao ông vẫn cảm thấy không bằng. Hóa ra ông nhớ! Tản Đà khi luận về ăn ngon có lẽ không ở trong tâm trạng của kẻ lưu vong như ông. Ông thấy rơ trong ông là luôn nhớ nhung cái ǵ đó. Nó lăng đăng, mơ hồ, thiêu thiếu lúc ông ăn. Nó kém đậm đà. Nó không thắm đượm. Ông nhớ lại lúc đạp xe đạp cọc cạch từ Nha Trang lên Thành, đường xa mười cây số. Rẽ vào ngă ba Vườn Trầu, thăm anh bạn già Mười Sanh, cụt mất bàn tay trái. Bạn từ thuở 1967, gặp nhau cùng chung trung đội khóa 25 Thủ Đức. Vừa ra trường, đụng Tết Mậu Thân ở Phan Thiết. Chưa kịp bắn viên đạn nào để giải vây Ṭa Thị Chính th́ một phát B40 đă cướp đi bàn tay trái. Giải ngũ về làm ruộng và đuổi gà cho vợ. Năm 1975 khỏi đi lao cải. C̣n ông th́ mịt mù trong chốn khổ sai. Năm 1981, ở tù về, nhớ bạn, ông mang bi đông rượu thuốc Nam Sanh Đường đạp xe lên thăm. Mười Sanh vừa mừng, vừa cảm động, ôm lấy ông. Hai anh bạn già đều rơm rớm trên đôi mắt. Mười Sanh đích thân làm gà luộc, xé phay, nấu cháo đăi bạn. Trải chiếu trước hàng hiên, Mười Sanh xé gà. Cánh tay cụt đè một bên, tay kia rứt một đùi gà trao cho ông. Thịt gà hôm ấy ngon vô kể. Phải chăng nó ngon là ở cái t́nh bạn thắm thiết gặp lại nhau trong cảnh khốn cùng. Hay nó ngon là nhờ có thêm mùi hoa cau, hoa bưởi trước hiên nhà trong một ngày yên ắng, lặng gió, quyện thêm vào?

Lan man, ông lại h́nh dung ra cảnh tranh nhau từng chiếc bánh căn nhỏ xíu bằng cái khu tô của bà Sáu bán mỗi buổi sáng trong xóm, của cái đám lóc nhóc ông và các bạn hồi c̣n tiểu học. Ngon ơi là ngon! Nước miếng ông lại ứa ra. Năm ngoái, thằng rể ông h́ hục mang được một cái khuôn bánh căn từ quê nhà sang. Tổ chức đúc bánh vào một ngày chủ nhật thong thả. Cũng hành mỡ, mắm nêm, mắm tỏi, ớt tương, xoài bằm, cá kho... Ông được vợ con phục vụ, lên mâm lên bát, vậy mà ông vẫn thấy không bằng. Ăn bánh căn phải có cái thú riêng của nó. Đặc biệt của nó. Các miền khác không biết có món này hay không và cách ăn như thế nào ông không biết. Nhớ lại lúc nhỏ ở Nha-Trang, mỗi sáng trời vừa hưng hửng, mờ mờ, ông thích ra hàng bánh căn bà Sáu ngoài lề đường, ngồi chen chúc quanh ḷ cùng đám bạn. Vừa hưởng hơi ấm của ḷ tỏa ra vừa chờ bánh chín. Bánh mới vớt ra khỏi khuôn, nóng, gịn, bỏ ngay vào chén nước chấm nó mới thắm đượm. Ai x́a chén vô trước là được phần. Ḷ bánh chỉ có bảy khuôn tṛn. Mỗi lần vớt ra chỉ một cái. Hai tay bà Sáu nhanh nhẹn vừa quạt ḷ vừa đổ bột vào khuôn này xong lại vớt bánh khuôn kia ra. Vậy mà vẫn không đủ kịp để phân phối cho lũ trẻ vừa giành, vừa căi cọ chí choé, cười nói ầm ĩ. Ai muốn ăn bánh đặc biệt đổ trứng vịt hoặc ruốc tươi hoặc mực tươi th́ yêu cầu riêng, phải trả tiền thêm. Một tô trứng vịt đă đánh sẵn, bà múc một muỗng đổ thêm vào khuôn bánh đang chín tới, đậy nắp lại mấy giây, lập tức trứng vịt phồng lên như một cái tổ ong, màu vàng nghệ. Trông cái bánh lớn gấp đôi rất hấp dẫn. Bánh thêm ruốc hay mực cũng vậy. Ăn xong, ai nấy tự động tính tiền để trả. Bà Sáu chỉ hỏi cho có lệ:

- "Mấy cặp cháu?"

- "Dạ mười cặp".

- "Năm cắc".

Miệng nói, tay đổ bột, vớt bánh thoăn thoắt, mắt vẫn chăm chú vào ḷ lửa, bà không hề để ư bọn trẻ trả đủ hay thiếu. Do đó, đứa nào cũng có lần ăn gian. Mười hai cặp nói mười. Đố ai lúc c̣n nhỏ, đi ăn bánh căn mà không có lần ăn gian!

Ông Hai nhớ lại mọi thứ. Mỗi thứ, mỗi món đều có cái sắc thái đặc thù của nó. Có cái hồn riêng của nó. Ở các món ăn hàng ngày, ông nhận ra cái hồn nó hiển hiện rơ ràng trong âm thanh, màu sắc, hương vị, t́nh cảm. Tất cả quyện lẫn vào nhau thành một niềm thương nhớ mà có đi xa, có mất đi, mới sực nghiệm ra để mà nhớ tiếc, ngậm ngùi.

Làm sao mà ở Mỹ t́m cho ra được một quán tiết canh, vịt nướng nằm cạnh con rạch nước chảy, ẩn ḿnh dưới những bóng dừa mát rượi, để được ăn dĩa vịt nóng hôi hổi mới gắp ra khỏi ḷ nướng. Vịt áo lá, mềm, thơm phức mùi chao, mùi sả. Dĩa tiết canh vừa sánh lại đỏ tươi với ng̣ tàu xanh, đậu phụng giả dập. Bên tai c̣n nghe rơ tiếng thớt, tiếng dao khua lộp bộp, gịn giă sau hè. Tiếng cụng ly, tiếng dô dô, chăm phần chăm, tiếng cười, tiếng nói rộn ràng, thoải mái... Những nổi nhớ không đâu cứ như loài mọt gỗ gặm nhắm ḷng ông mỗi ngày mỗi lớn. Nhưng ông không dám tỏ bày. Ông xấu hổ, sợ người khác chê ông chỉ nhớ những điều vụn vặt, không đáng nhớ. Người ta th́ nhớ những điều lớn lao như "Nhớ nước, nhớ nhà, đau ḷng con quốc quốc". Hoặc "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo" hay "Nền cũ lâu đài bóng tịch dương" của người có chí lớn. Hay "Mài kiếm dưới trăng" rồi than rằng "đầu đă bạc". C̣n ông, ông chỉ nhớ đến các món ăn, mà lại chỉ là những món b́nh dân, tầm thường! Đó là chưa kể ông c̣n nhớ cả mùi phân trâu, phân ḅ nồng nồng, ngai ngái trong những buổi trưa hè đi bắt dế ở làng quê. Mùi thơm hăng hắc của cây é rừng. Mùi ngào ngạt hoa dủ dẻ. Mùi hăng hăng mủ trái ma dương mà những ngày c̣n nhỏ hay trốn học cùng lũ bạn đi hái trái rừng ở Xóm Mới, khi khu này hồi c̣n là băi cát hoang mênh mông, mồ thiêng mả lạng... Một băi cát hoang um tùm những bụi bồn bồn có những chùm hoa tim tím mọc xen lẫn với những bụi dũ dẽ, những bụi ma dương. Thỉnh thoảng lại nằm riêng cả một vạt gai xương rồng bàn chải, ở đó vô số hang kỳ nhông. Những con kỳ nhông đủ màu sắc xanh thẫm, đỏ tía, vàng nghệ... ngơng cao đầu, chạy loăng quăng, thoăn thoắt dưới ánh nắng trưa hè nóng như thiêu như đốt. Ở đó cũng c̣n có những cây c̣ ke mà lần nào ông cũng hái những trái tṛn tṛn nhỏ như viên bi xe đạp đầy cả hai túi quần dùng để bắn ống thụt trong tṛ chơi trận giặc trẻ con. Ông nhớ những ngày cùng lũ bạn đi lang thang trong băi vừa đùa nghịch vừa hái trái rừng nửa sống, nửa chín mà ăn sao lại ngon vô cùng. Ngon hơn hẳn những rỗ trái cây chín mọng của bà Cai Kềm, bà Cai Ốm bán ở Trường Nam, Trường Nữ Tiểu Học Nha-Trang. Ban ngày vui thú rong chơi thỏa thích bao nhiêu, ban đêm lại nằm mơ thấy chiêm bao đủ thứ ma hiện hồn ở băi ma dương, sợ toát mồ hôi bấy nhiêu...

Ông loay hoay, vật vă một cách khốn khổ giữa những nỗi nhớ hằng đêm hành hạ ông. Cuộc đời ông trải qua quá nhiều bầm dập, thăng trầm. Ông không c̣n muốn nghĩ tới, nhớ tới nữa. Tất cả đă qua rồi. Tranh danh, đoạt lợi, bon chen, giành giựt từng chút một trong cuộc sống. Rồi xuôi tay. Bạn bè ông đă lần lượt nằm xuống. Tính lại c̣n được mấy ai. Ông muốn quên hết, quên hết. Càng nhớ lâu, càng đau khổ nhiều. Ông nghiệm ra như vậy. Nhưng ông lại không quên được. Cái quá khứ cứ hiển hiện trước mắt ông như cái bóng ông đổ dài dưới chân mỗi lúc mỗi dài ra trong ánh chiều tà. Ông quay sang đọc sách. Sách lại càng làm ông buồn hơn, nhớ nhung hơn. Bởi những nhà văn trang lứa ông lại cũng viết về những hạnh phúc, những thiên đường đă mất, những tuổi thơ, tuổi trẻ đă bị hủy hoại trong chiến tranh. Những tiếc nuối. Những uất hận nghẹn ngào. Những hờn căm cay đắng. Những thương nhớ ngậm ngùi. Cuối cùng ông t́m ra được một nguồn an ủi: làm vườn.

Từ ngày bỏ công chăm sóc vườn rau, ông thấy vui hơn, khỏe mạnh hơn. Mỗi sáng, trong khi bà Hai lo nấu nước pha trà, ông đă xuống vườn tẳn mẳn bắt từng con sâu trên lá cải, nhặt từng con ốc sên dưới gốc đám xà lách, sửa lại mấy bụi ớt ngă nghiêng bởi gió thổi đêm qua. Rồi ông đến giàn bầu, ngắt mấy hoa đực, úp vào những hoa cái để giúp chúng thụ phấn thành trái. - Xứ sở này ít ong, ít bướm quá! Ôâng nhận xét. Ở quê ông, dập d́u đủ loại ong và bướm khi hoa nở trên các giàn bầu, bí, khổ qua...Ong bầu, ong ṿ vẽ, ong ruồi, ong mật cả những con ong ngựa hung dữ nữa, suốt ngày bay đi, bay lại vo ve hút mật. Đàn bướm th́ đủ màu sắc. Từ vàng, trắng đến sặc sỡ, lung linh đôi cánh, nhỡn nhơ nhẹ nhàng bay lên, đáp xuống rất vui mắt. Khi bà Hai trao cho ông ly trà nóng đầu ngày, ông chiêu từng ngụm nhỏ, chỉ cho bà những búp hồng mới nhú, những trái khổ qua vừa tượng h́nh, những trái dưa leo tṛn trĩnh ẩn ḿnh dưới lá. Bà Hai rất sợ sâu nên chỉ đứng trên "deck" nh́n xuống, ḷng cũng rộn niềm vui với ông. Ngày nào cũng vậy, ông mê say ngắm từng ngọn rau thơm đỏ hồng vừa lú lên khỏi mặt đất đêm qua, hay ngẩn ngơ trước đám bông bí nở rộ sáng hôm nay, vàng cả một vùng... Hết luống cải này đến luống mồng tơi nọ. Măi đến khi mặt trời lên cao, nóng lưng, ông mới chịu lên nhà. Suốt ba tháng hè, nhờ mảnh vườn con, ông bớt nhớ nhà, nhớ quê, nhớ cảnh. Nhờ làm vườn sức khỏe ông cũng gia tăng. Nhưng ba tháng hè quá ngắn ngủi. Nơi ông ở, mùa đông chiếm hết hai phần ba thời gian trong năm. Đến tháng Năm, tháng Sáu tuyết mới tan hết và trời mới ấm lại. Đất mềm ra và vạn vật cựa ḿnh bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Trăm hoa hối hả đâm chồi vượt khỏi mặt đất trông như những ngọn giáo. Thoáng cái, đă đua nhau nở rực rỡ khắp nơi. Đâu đâu cũng bừng bừng màu sắc chói chang... Trước ngơ, sau hè, cả dọc theo hai bên đường, hoa dại cũng tràn trề màu vàng, màu tím. Những cành cây khô bắt đầu nhu nhú lá non. Đó là thời gian ông Hai bắt đầu xới đất, gieo hạt. Thoáng cái, mùa đông lại ập về. Bỗng một đêm lạnh đột ngột, nhiệt độ xuống dưới không độ, ông nôn nóng mong trời mau sáng thức dậy sớm để xem vườn rau ra sao. Than ôi! Những luống rau ngày hôm qua xanh tươi, mơn mỡn như vậy, hôm nay đă chết rũ xuống, thật thảm thương. Những lá bầu, lá bí, lá khổ qua nũng ra như bị luộc chín, để trơ lại những trái con con chưa kịp lớn. Cả một vườn rau của ông nay thành một băi hoang tàn, ảm đạm. Ḷng ông đau như cắt. Ông không tiếc công, tiếc sức đă đổ ra, ông chỉ thấy thương cho một kiếp đời ngắn ngủi, một loài thảo mộc mong manh, yếu ớt, không đủ sức chống chọi với cái lạnh giá khắc nghiệt mùa đông. Ông thẫn thờ, buồn rầu như vừa tiễn một người thân đi xa. Ông dạo quanh một lần cuối để giả từ khu vườn, hẹn lại mùa hè năm sau. Nhưng...ô kià! Lẻ loi trong góc vườn vẫn c̣n những đốm màu xanh tươi rói. Thật ngạc nhiên, ông lại gần để xem cho rơ.

A! Đó là nhưng cây ng̣ rí, những cây ng̣ mỏng manh c̣n sót lại sau đợt tảo thanh nấu cháo cá, "cook out" lần chót. Những cây ng̣ mọc lẫn với mấy bụi hoa "pensé" (pansy). Loại hoa này cũng mỏng manh, yếu ớt, nhưng sức sống kiên cường, lá vẫn xanh, cuống vẫn điểm mấy chùm hoa tím.

Ông lặng thinh ngẫm nghĩ...

Mấy hôm sau trời đổ tuyết. Tuyết dai dẳng cả tuần. Ông lo lắng, hồi hộp chờ đợi. Măi cả tháng, trời mới hảnh nắng, ấm được vài hôm. Tuyết tan. Hoa "pensé" đă rụi xuống chết cóng. Nhưng đám ng̣ vẫn trơ ra, không chết. Lá xanh hơn, đậm hơn, cứng hơn. Ông ngắt vài lá đem vào đưa cho bà Hai xem. Bà ngạc nhiên, cầm xem, nhưng không hiểu ư ông muốn nói ǵ với những lá ng̣ này. Bà nh́n ông chờ đợi. Ông thong thả châm điếu thuốc, rít một hơi thật dài, ngữa cổ, từ từ nhả khói lên trần nhà. Bà vẫn đợi. Bà biết ông có điều tâm sự. Hồi lâu, ông mới nói mà h́nh như ông nói với chính ông hơn. Giọng ông xa vắng, nghẹn ngào, có lúc mơ hồ... Mắt ông nh́n vào khoảng không xa xăm mà như không thấy ǵ. Như người mộng du, ông thầm th́:
- "Em à! Đời anh có lúc cũng giống như những cây ng̣ này. Suốt gần sáu năm khổ sai tù đày, chúng nó đày đọa, hành hạ, ác nghiệt, cho anh chết. Chết lần, chết ṃn từng ngày trong chốn lao tù, khổ ải. Có ai đă từng nghe những địa danh Đá Bàn Thượng, Ḥn Dù, Thác Trâu Đụng, Bầu Sen, Ḥn Kén, B́nh Sơn... chưa? Đó là những địa ngục trần gian mà chúng nó lần lượt đưa anh đến để làm kiếp súc vật thay cho trâu ngựa. Chúng nó muốn tước đoạt cả linh hồn, thể xác và cả những suy nghĩ trong đầu anh. Ban đêm, 12 giờ khuya, chúng dựng đầu anh dậy trong giấc ngủ mệt mỏi, mê man, kêu lên văn pḥng để giáo dục. Một thủ đoạn tẩy năo ghê rợn. Thần kinh lúc nào cũng căng như dây đờn chực đứt. Người ta rất dễ phát điên. Rất dễ tự sát. Nhưng anh phải âm thầm chiến đấu, chống chọi để sống c̣n, phải cố sống. Anh không thể ngă quị. Nhất định không được ngă quị. Nhất định không được đầu hàng. Sáu năm trong nghiệt ngă khôn cùng, anh vẫn hy vọng có ngày mai tươi sáng. Cuối cùng anh đă thắng. Anh đă không ngă. Như cây ng̣ rí hôm nay, tuy yếu ớt, mỏng manh nhưng nhất quyết không chịu khuất phục chết cóng dưới cái giá buốt khắc nghiệt của mùa đông. Cho dù tuyết đă hung dữ vùi dập nó, tàn bạo khuất lấp nó không một chút xót thương... "

Quincy, tháng 01 năm 2002.

 

(Xem tiếp kỳ 6)

 

Nguyễn Thanh Ty

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com