Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.



 
Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 



Dư Âm Ngày Cũ
Nguyễn Thanh Ty

  


Phần 4:

... Mấy năm sau tôi lên Trung Học, tôi không c̣n th́ giờ để đi xem xiệc nữa.

Ở Tiểu Học, tôi học rất dốt. Tôi biết Ba, Má tôi buồn phiền trong bụng nhưng không nói ra. Thời gian đó tôi dành trọn th́ giờ rảnh và nhiều khi c̣n trốn học cho những lần đi hái trộm xoài, trộm ổi, măng cầu ở Xóm Cây Bàng. Đi phiêu lưu, bạt mạng ở những băi cát hoang tận dưới Cầu Đá, Chụt. Trốn vô ga xe lửa, leo lên những toa tàu, ngồi trên đó lấy làm khoái chí, khi đầu máy xụt xịt, chạy tới, chạy lui ráp toa này vào toa khác. Và nhất là ngồi cḥ hơ ở gánh xiệc của ông Đỗ Khánh Du, giờ nọ, sang giờ kia không biết mỏi.

Tôi hối hận biết bao khi thi rớt Đệ Thất, không được vào học trường công Vơ Tánh. Ba Má tôi phải chạy tiền hằng tháng mướt mồ hôi, đóng tiền học cho tôi học trường tư. Tôi theo học trường Tư Thục Tương Lai. Trường nằm trên đường Công Quán, sát cạnh rạp xi nê Minh Châu, do Thầy Thái Văn Châu, con của nữ sĩ Tương Phố, làm hiệu trưởng. Sau này trường dời ra quốc lộ I, tọa lạc đối diện với nhà máy nước đá Tuyết Mai, đổi tên thành trường Văn Hóa. Tôi mày ṃ mua mấy quyển "Muốn giỏi toán H́nh học... " "Muốn giỏi Đại số... " Số học... " Quĩ tích... " và cả cuốn "Tự rèn luyện ư chí" trong tủ sách của ông Nguyễn Hiến Lê, về nhà nghiền ngẫm, học lại từ đầu.

Những năm đó, ngày, đêm, tôi quyết tâm học hành.

... Khi tôi đậu Tú Tài, ra học Sư Phạm ở Qui Nhơn hai năm, tôi quên bẵng thần tượng thời thơ ấu của tôi. Lần gặp ông trở lại, kỳ nghỉ hè năm sáu mươi ba, tính ra hơn tám năm, gánh xiệc của ông đă giải tán, không c̣n nữa. Bây giờ ông đi bán thuốc một ḿnh bằng chiếc xe đạp "đ̣n dông".

Đàng sau cái "bọt ba ga" cột một cái thùng cạc tông, của hăng sữa đặc có đường hiệu "Con Chim", vẽ h́nh hai con chim đang ở trong tổ mớm mỏ nhau, để đựng các món thuốc gia truyền. Ông bán dạo trong xóm tôi và các xóm khác, khắp thị xă Nha Trang. Vẫn là mấy chai dầu cù là "Mắc Xu", thuốc nhức răng, sâu răng, thuốc dán con rắn, thuốc xổ lăi... nhưng ông không c̣n biểu diễn gồng và vơ thuật nữa. Ông chỉ làm tṛ ảo thuật, lanh tay lẹ mắt, với ông Tướng Thầy Ba, con chuột bằng chiếc khăn tay có đủ cả đầu đuôi. Chiếc Quạt Ba Tiêu, bây giờ nó cũng cũ nát lắm rồi...

Thay thế chỗ tôi năm xưa, bây giờ là lũ trẻ con trong xóm, lưng trần, bụng ỏng, da cháy nắng đen bóng, tóc vàng hoe. Chúng bu quanh chiếc xe đạp trố mắt, há hốc miệng ra coi ông làm tṛ.

... Năm bảy mươi, tôi trở về Nha Trang sau một thời gian dài đi làm ăn xa, tôi lại gặp ông. Nhưng lần này ông đă già và tiều tụy lắm. Tóc ông bạc xỉn, dài tới gáy. Chụp trên đó là chiếc mũ nỉ cũ kỹ. Thời ông trai trẻ, nó hăy c̣n mới, với những lông tơ lóng lánh dưới ánh nắng. Khi ông đội nó trên đầu, cái vành phía sau cong lên, phía trước cong xuống lưng chừng trán, trông ông giống một nhà thám tử trong truyện trinh thám của "Se Lốc Hôm". Nhưng trong trí tưởng tượng của tôi, ông lại là h́nh ảnh anh chàng Dũng, người đi trong mưa gió, trong truyện "Đoạn Tuyệt" của Nhất Linh. Bây giờ nó trụi xác xơ, đàng trước chóp có cả lổ thủng bằng hai ngón tay đút vào. Mặt ông hốc hác. Hai má lơm sâu. Da ông đă ngăm đen bây giờ càng sạm thêm. Môi ông cũng thâm sịt. Có người nói tại ông hút và ghiền thuốc phiện mới ra nông nổi. Thật thế không? Lực sĩ như ông mà cũng hút thuốc phiện sao?

Cũng vẫn chiếc xe "đ̣n dông" cũ, nay càng thêm bệ rạc. Hai cái bánh xe trơ trọi, không c̣n cặp dè. Ghi đông trụi lũi, không có thắng, không có chuông. Hai bàn đạp không c̣n "pê đan", chỉ tḥ ra hai que sắt, ṃn nhẵn, nhọn hoắc. Thùng cạc tông chắc ông đă thay mấy lần mưa nắng? Sao trông nó cũng tồi tàn quá. Bốn bên cạnh không đứng thẳng mà muốn ngă ụp vào bên trong. Bây giờ ông chỉ c̣n rao bán ở hai bến xe Ninh Ḥa và Xóm Mới. Bằng một giọng khàn đục, không đủ hơi, ông rao phều phào, tiếng rơ, tiếng không:

- "Bà con, cô bác đi đường xa, chóng mặt, nhức đầu, đau bụng nên mua ngay chai dầu Nhị Thiên Đường hiệu ông Phật để dành, lỡ khi mưa nắng bất thường".

- "Mấy bà sanh con nhiều, yếu trong người, hay ho, hay cảm, mua ngay chai dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín để pḥng hờ!"

Lần này làm bạn với dầu cù là Mắc Xu c̣n có thêm Nhị Thiên Đường, Song Thập và dầu gió Bác sĩ Tín.

Nghe nói ông ở trong một con hẽm sau chùa Nghĩa Phương, sống một ḿnh, không vợ con, họ hàng thân thuộc.

... Năm chín mốt, tôi đang chuẩn bị giấy tờ xuất cảnh nên thường đi vào Sài G̣n. Mỗi lần ngồi xe đ̣ liên tỉnh Nguyễn Hoàng, tôi lại thấy ông rà rà bên thành xe, cất giọng khàn khàn mời khách. Tôi nh́n ông mà ái ngại cho ông. Tôi chưa bao giờ mua dùm ông một món ǵ. Tôi bị ảnh hưởng của Ba tôi. Cái câu "đồ quảng cáo, nói láo ăn tiền" nó ám ảnh rất mạnh trong tôi, mỗi khi tôi định tḥ tay lấy tiền mua ủng hộ ông một chai Nhị Thiên Đường, hay một hộp cù là.

Có lúc, ông quá yếu không c̣n hơi sức nữa để rao. Ông đứng dưới, ngước cổ, run run giơ những chai dầu lên cao, trong những ngón tay gầy quắt queo, ám khói vàng ệch. Ai mua th́ lấy dầu, trả tiền. Ông đi hết xe này tới xe kia với dáng gầy g̣, thất thểu. Chiếc xe đạp nhiều lúc muốn lôi ông ngă.

Bộ đồ ông mặc đă quá cũ. Nó ṃn nhẵn những sớ vải và sờn hết những đường viền từ lai áo đến ống quần. Đôi giầy "đơ cu lơ" ông mang, ṃn vẹt gót, một chiếc đă há miệng. Không c̣n biết nó là màu nâu, đen hay trắng nữa. Nhưng tất cả đều gọn gàng. Áo vẫn bỏ trong quần, thắt dây nịt da, giờ đă cuốn tṛn hai bên mép. Trông ông tiều tụy mà vẫn chững chạc. Cái phong thái của người lực sĩ năm xưa vẫn c̣n phăng phất trong ông.

... Tôi xa quê nhà cuối năm đó, tính đến nay, đă mười ba năm hơn. Không biết bây giờ ông c̣n không? Hay đă ra người thiên cổ! Nhiều lúc, nắng sớm, mưa chiều, chạnh ḷng về xứ sở, tôi lại nhớ đến ông, người lực sĩ Đỗ Khánh Du, thần tượng của tuổi ấu thơ tôi. Một nỗi nhớ nhẹ nhàng, da diết, buồn buồn cứ đeo đẳng bên tôi.

Hồi tưởng lại một thời vàng son của những gánh Măi Vơ Sơn Đông, giang hồ rày đây, mai đó, đi bán thuốc gia truyền của những ông thầy Tàu nào đó, xa tít tắp mù khơi, nào ai biết được ở đâu, có thật hay không, món thuốc nào cũng "công hiệu như thần" giúp người đời "tiêu trừ bá bệnh". Dù giả hay chơn, bức tranh sống động đó, cũng là một kho tàng kỷ niệm một thời của tôi và cũng có thể cả một thế hệ sinh vào thập niên bốn mươi, khó ai quên được.

Đó là một kho tàng vô giá. Nó đă bị đào thải và lăng quên theo ḍng thời gian vô t́nh nhưng khắc nghiệt.

Đời con tôi, cháu tôi và măi những thế hệ về sau sẽ không bao giờ biết và có được những h́nh ảnh rất quê hương, rất dân tộc, rất đại chúng, đă một thời oanh oanh, liệt liệt. Những h́nh ảnh ấy đă in sâu vào tâm khảm người dân miền Nam, từ thôn quê đến thị thành hơn nửa thế kỷ.

Viết thêm

Anh TC thân mến

Anh nói với tôi thời thơ ấu của anh, anh cũng thường trốn nhà đến chợ QT để xem Măi Vơ Sơn Đông và cũng mê mấy ông "tướng", mấy con khỉ chạy xe đạp như tôi vậy. Anh thấy bồi hồi khi đọc chuyện nầy của tôi. Nhưng rồi anh bỗng thấy đau ḷng, năm 1982, khi anh đi tù "cải tạo"về, cuộc sống của mọi người bấy giờ rất khó khắn, đói khổ. Anh bàng hoàng khi đi qua đường Hùng Vương ở Saigon và lại thấy một ông già ốm yếu, nói không ra hơi đang đứng bán thuốc Sơn Đông trên lề đường và có một bầy con nít bu quanh coi ông làm tṛ. Ông già ấy cũng có "ông tướng" để trong bị vải, nhưng khỉ th́ không. Người c̣n chưa có ăn, lấy ǵ nuôi khỉ! Anh nói rằng cái "Hồn Ma Cũ" ấy tưởng đă chết rồi, ai ngờ hôm nay nó sống dậy trong cảnh ngộ bi thương của mọi người trước cảnh đổi đời. Cái mà chúng ta tưởng đă chết rồi, ai ngờ hôm nay có môït ông già gần đất xa trời dựng nó dậy để làm nghề kiếm cơm.

Anh cũng lại nói với tôi, những ǵ ngày xưa chúng ta cho là "xạo" là "phỉnh" là "giả dối" ấy, nó c̣n lương tâm hơn cái "giả", cái "phỉnh", cái "lừa lọc" của đời nay nhiều lắm. Anh trách tôi tại sao không nói lên điều xấu đó của đời bây giờ?

Nể lời anh, và v́ lương tâm của tôi đối với xă hội hiện tại, cũng như ḷng yêu mến đối với thần tượng thời thơ ấu của tôi, tôi lại viết tiếp...

Bọn trẻ bây giờ, chúng đang bị choáng ngợp bởi những quảng cáo siêu cấp trong Ti Vi, báo chí và cả trong internet. Sơn đông măi vơ thời nay c̣n "sư tổ" hơn về phương diện "nói láo ăn tiền". Thuốc nào cũng "super extra". Nhất là các loại thuốc làm trẻ đẹp, hồi xuân cho mấy cụ bà và cường dương, bổ thận cho mấy cụ lăo, đều "siêu thần dược". Bảo đảm ba mươi ngày, "mó ni bắc". (Money back)

Có điều, từ xưa tới nay, tôi chưa bao giờ nghe ai nói uống "Bổ Thận hoàn" hay "Bá Bổ Đả Trật, v.v... của Măi Vơ Sơn Đông mà chết người cả.

Năm một ngàn chín trăm, năm mươi tư, người Bắc di cư vào Nam, khi đi xem "xiếc" Măi Vơ Sơn Đông, (người Bắc gọi là xiếc chớ không gọi là xiệc như người Trung và Nam) đều chê là thua xa ngoài đó.

Họ kể, ngoài Bắc có một gánh xiếc độc quyền bán thuốc. Họ nhập từ bên Tàu sang một môn thuốc tên là "Trường sinh bất tử" của một thầy lang nổi tiếng họ Mao. Lần đầu tiên gánh xiếc này phát không cho đồng bào nông thôn dùng thử, để sau đó quảng bá rộng răi cho cả nước dùng. Nào ngờ thuốc không hợp với thể tạng và phong thổ Việt Nam, nên vừa uống xong, hơn ba trăm ngàn người lăn đùng ra, hộc máu mà chết. Tưởng là trường sinh, ai ngờ chết bất đắc kỳ tử. Tiếng khóc than ai oán, tiếng nguyền rũa gánh xiếc, ngùn ngụt lên tận trời xanh.

Ông bầu gánh lật đật cho người thay ḿnh đi xin lỗi bà con. Và hứa sẽ sang nước La Sát ở Bắc cực để cầu cứu phương cách hóa giải môn thuốc gia truyền họ Mao.

Lúc đó tôi c̣n nhỏ quá, nên không biết và không tin có chuyện uống thuốc quảng cáo chết mấy trăm ngàn người mà chỉ một lời xin lỗi là xong chuyện. Tôi cho mấy người Bắc di cư đi xa, nói xạo. Tôi cũng có coi cuốn phim "Chúng Tôi Muốn Sống" do Ty Thông Tin chiếu ngoài trời, thấy cảnh đoàn xiệc cho dân chúng uống thuốc "Trường sinh bất tử" rất khủng khiếp. Nhưng lúc bấy giờ nhiều người giống tôi, không ai chịu tin rằng đó là chuyện có thật. Chỉ tuyên truyền để giành độc quyền bán thuốc mà thôi. Măi hơn mười năm sau, có chút trí khôn đọc sách, mới biết chuyện này có thật, được chép lại sơ sài trong cuốn sách bị "Nhà Nước" cấm lưu truyền v́ cho là chuyện hoang đường, ma quỉ, mị dân. Cuốn sách có nhan đề là "Nhân văn Giai phẩm".

Mấy năm gần đây, có một ông, lấy một cái tên cũng ngộ nghĩnh là "Đọc Sách, Múa Vơ Ngoài Hiên" viết một cuốn sách dầy mấy trăm trang, nhan đề là "Nằm Mơ Giữa Ban Ngày" cũng kể lại chuyện này. Ông ta cho biết ḿnh là con của một ông phụ tá của ông bầu gánh trước kia. Mọi chuyện trên đều do cha kể lại đều là thật. Chính cha ông cũng chết v́ thuốc này. Và bản thân ông cũng bị thuốc này hành ngất ngư gần chục năm.

Cũng c̣n có một ông nữa, hồi trước chuyên viết lời quảng cáo thuốc "Trường sinh bất tử" cho gánh xiếc, bây giờ hối hận việc dối trá ḿnh đă làm mấy chục năm, bèn bỏ gánh trốn đi, sống lang thang ở bên nước Phú Lang Sa, viết nhiều sách và báo, tố cáo, khuyên dân chúng không nên uống thuốc đó nữa, nhất là cuốn "Mặt giả" kể tỉ mỉ thủ đoạn gạt gẫm ngướ mua rất tinh vi. Để chứng tỏ ḷng ăn năn về sự giả dối, ông lấy bốn chử "Chân Thành Thủ Tín" làm tên khi viết sách.

... Năm Mậu Thân, ông bầu nghe lời đàn em thậm thụt làm "mát cơ tin" trong Nam nịnh rằng, dân trong này thích thuốc "Trường sinh" lắm. Ông định đánh quả một cú đẹp mắt, dồn hết vốn liếng, buôn một chuyến lớn vô Nam, chắc nẫm sẽ ẵm trọn gói và giàu to. Nhưng ư đồ bị thất bại thê thảm. Dân Miền Nam không chịu hợp tác mua thuốc. Cơ quan bài trừ buôn lậu lại phát hiện và lùng bắt ráo riết. Ông bầu hoảng quá, bỏ của, chạy lấy người về Bắc. Bao nhiêu vốn liếng đi đời nhà ma. Đêm nằm xót của, ông bầu phát bệnh, đau quặt, đau quẹo. Uống bao nhiêu là thuốc "Trường sinh" mà bệnh vẫn không lành. Chưa được hai năm th́ tịch.

Ông đă trở về với sư phụ họ Mao dưới suối vàng, để lo bề hầu hạ, phụng dưỡng cho tṛn hai chữ hiếu đạo.

Gánh xiếc được lần lượt thay thế nhiều ông bầu mới. Ông nào cũng bành trướng công việc làm ăn rất phát đạt, nhờ có độc quyền kinh doanh. Dân quê ít học, đi đâu cũng nghe quảng cáo thuốc công hiệu như thần, từ đầu thôn đến cuối xóm, đâu đâu cũng có loa phát thanh ra rả. Nghe một lần không tin, nhưng nghe một... triệu lần th́ ắt phải tin. Đó là chân lư trong nghề lừa dối.

Nhờ công việc làm ăn ngày càng khấm khá, bọn người xin theo giúp việc ngày càng đông như ruồi xanh, đếm không xuể.

Gánh c̣n tung tiền quảng cáo cả trên truyền h́nh và báo chí nữa. Báo nào lén đăng các loại thuốc khác để cạnh tranh th́ lập tức bị tẩy chay, đóng cửa. Mấy ông làm báo bị bể nồi cơm, về nhà sắm bị gậy đi ăn mày, bởi không cách ǵ t́m được việc nữa.

Ai mà nói "quảng cáo nói láo ăn tiền" như trước kia th́ bị cho là phát ngôn linh tinh bừa băi, dèm pha, phá hoại niềm tin vững chắc của nhân dân. Phần tử này bị coi là độc hại, là phản động, cần phải cô lập để khỏi ảnh hưởng xấu lây lan.

Khi Nam Bắc sum họp một nhà, dân chúng sống trong "độc lập, tự do, hạnh phúc", cơm no, áo ấm, con cháu được học hành, cả nước bỗng giàu sụ lên, sau một đêm thức dậy. Để được hưởng phước lâu dài, ai nấy đều cần tới thuốc "Trường sinh, bất tử".

Từ đó, người người dùng thuốc. Nhà nhà dùng thuốc. Trong các món ăn tinh thần đều có pha chế thêm dược chất "trường sinh". Nhân viên làm việc cho gánh, bây giờ không c̣n dùng trống, chiêng, phèn la cổ lổ sĩ để phụ trợ "lùng tùng xà" như trước. Họ cho mắc loa từng nhà một, để ngày đêm dân chúng có thể nghe liên tục từ sáng đến chiều. Ai đi làm ngoài đồng, ngoài ruộng cũng có loa thiếc mắc ở ngoài trụ cây phục vụ. Ai làm việc trong làng, trong xóm cũng được nghe rơ ở các loa treo trên các trụ điện. Mọi người đều được nghe không tốn tiền. Thiệt là thuở thanh b́nh Nghiêu Thuấn.

Danh xưng "ông bầu" bây giờ cũng thay bằng "Giáo chủ". Khi bán thuốc họ chỉ rập lên một câu nghe như thần chú "Giáo chủ phước như Đông Hải, thọ tỉ Nam Sơn", "Muôn năm trường trị", "Thống nhất giang hồ".

Câu thần chú này được ban "khuyến măi" đem treo khắp nơi, từ phố đến quê để phát huy uy lực của gánh.

Bây giờ câu đầu lưỡi mọi người chào nhau là "Uống thuốc trường sinh là yêu nước".

Hồi c̣n mồ ma thuốc "xuyên tâm liên", một dược thảo đặc biệt của gánh, bào chế toàn phẩm chất thượng hảo hạng bằng cỏ cây, do Viện Y Học Dân Tộc nghiên cứu, phát minh, được ưu tiên đem vào các "Trường Học Tập Cải Tạo" cho "học viên" uống bồi dưỡng đặng tăng sức khỏe để lao động tốt, học tập tốt.

Thuốc này quả là có công hiệu trị bá bệnh. Khi đám biệt phái chúng tôi bị ghép tội làm C.I.A cho Mỹ Thiệu, và bị c̣ng tay đưa lên Đá Bàn để học tập cải tạo đầu óc, Bác sĩ Nguyễn Ngọc Trân được phân công làm trạm trưởng y tế trại. Thêm một anh giáo viên tên Quưnh phụ tá, ngày ngày vô rừng đào rễ cây mơng bát, củ tóc tiên, chặt giây chùm bao (lồng đèn) về nấu nước làm thuốc nam, cũng trị bá bệnh.

Mỗi buổi chiều đi lao động về, ai có bệnh th́ đi "đăng kư" khai bệnh để được cán bộ chuẩn y trước khi ra trạm y tế. Cán bộ quản giáo không biết chữ, cứ đếm trong cuốn sổ, từ trên xuống, từ một đến mười, lấy bút giắt trên túi áo ra, quẹt ngang một quẹt. Ai ở dưới cái quẹt th́ ở lại chờ bữa khác.

Bất cứ bệnh ǵ, không cần khám hay hỏi han, Bác sĩ Trân ngoắc chúng tôi vô, lần lượt từng người, phát cho mỗi người một nắm, năm viên "xuyên tâm liên", bảo ra chảo nước của thầy Quưnh, múc một gáo mà uống với thuốc.

Có lần tôi hỏi:
- "Anh Trân! Sao không thấy anh khám để biết bệnh ǵ rồi mới cho thuốc? Mà bệnh nào anh cũng phát "xuyên tâm liên" hết vậy? Đau bụng, nhức đầu, sốt rét, trặt chưn, ghẻ ḥm, ghẻ lác cũng đều "xuyên tâm liên" hết ráo trọi vậy?"

Trân cười khặc khặc một hồi, có vẻ khoái chí với câu hỏi "ngây thơ" của tôi, rồi mới thủng thẳng trả lời:
- "Ông biểu tôi khám bệnh hả? Cho thuốc hả? Trạm có mỗi một thứ "Xuyên tâm liên" với chảo nước rễ cây. Ngoài ra c̣n cái ǵ nữa đâu? Có khám cũng mất th́ giờ vô ích. Thà làm cho mau, để mấy ông về trại nghỉ ngơi, lấy sức mai đi lao động tiếp có lợi hơn!"

Nói xong anh ta c̣n cười khặc khặc thêm một hồi, tiễn chúng tôi ra khỏi trạm bằng câu an ủi:
- "Thuốc "Xuyên tâm liên" công hiệu như thần, trị được bá bệnh. Cứ nằm ngẫm nghĩ ba chữ Xuyên tâm liên ra là lành bệnh ngay.

Sáng hôm sau, chúng tôi đi đồng, phân xanh lè, toàn là lá cây c̣n sống.

Mấy năm sau, lệnh từ Bộ Y Tế ban ra, thu hồi toàn bộ thuốc "Xuyên tâm liên" v́ xét nghiệm thấy trong đó có độc tố chết người. Nhân viên thu hồi thất nghiệp. Mấy triệu viên đă lần lượt chui vào bụng tù nhân hết rồi. Không thấy có tin tức thống kê bao nhiều người đă chết v́ cái thuốc "bắn thủng qua tim".

Ba chữ Xuyên tâm liên, quả nhiên, chiết tự ra có nghĩa là bắn xâu táo, một trong những điều cấm kỵ của bộ binh, đội h́nh di chuyển giữa đồng trống, không được đi hàng một, gần nhau quá. Địch sẽ "phơ" một viên đạn mà sát thương ít nhất năm người. Như người ta sắp hàng trái táo rồi dùng cung bắn qua vậy.

Chỉ có mấy chục năm mà thời thế thay đổi quá nhiều. Cái ǵ cũng tiến vượt bực. Văn hóa, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, ... thảy thảy đều khác trước.
Làm cách mạng có khác!

Chỉ nói riêng về cách ăn mặc thôi cũng đủ thấy sự thay đổi rơ rệt.

Năm bảy lăm, luồng gió văn hóa tiến bộ của XHCN thổi qua vĩ tuyến 17, làm bay hết những chiếc áo dài tha thướt của các cô tiểu thư đài các, thổi tung mất những bộ âu phục của đám thanh niên tiểu tư sản. Thay vào đó là "mốt" thời thượng được hâm mộ nồng nhiệt. Nam th́ phải chân dép râu, đầu nón cối, lưng xắc cốt mới đúng điệu thời đại. Nữ th́ áo bà ba cháo ḷng, quần thâm lững tới nửa ống quyển, cổ quấn khăn rằn mới đúng cách văn minh. Nhờ "mốt" này mà bánh xe hơi cũ, quần áo cũ, xưa kia đem vất bỏ, nay lại thành của hiếm, đắt hơn vàng bốn số chín. Thiên hạ giành nhau mua cho kỳ được. Nhất là những người "sớm giác ngộ" sau năm bảy lăm.

Trông điệu bộ của họ xúng xính trong "mốt" thời thượng, mới thấy được hết "cái cực kỳ văn minh".

Mấy năm sau, chủ trương Nhà Nước đổi mới (?). Ba cái đồ "lai căng đế quốc", tiểu tư sản như áo dài, guốc cao, âu phục, áo vét, giầy da đội mồ sống dậy.

Ôi biển dâu, dâu biển ! Không biết đâu mà lường trước được. Huống hồ chi gánh xiệc Măi Vơ Sơn Đông của ông bầu Đỗ Khánh Du của tôi, nhỏ nhoi quá, làm sao mà tồn tại măi với thời gian như tôi mong ước được.

Nhưng đem cuộc đời thong dong, tự tại, lăng du khắp bốn phương trời của ông như một cánh chim bằng trong bầu trời tự do so với bao nhiêu người cũng v́ miếng cơm, manh áo mà phải suốt đời:

Mũ cánh chuồn đội trên mái tóc,
Nghiêng ḿnh đứng chực cửa hầu môn.

hoặc một đời công chức tẻ nhạt Sáng vác ô đi, tối vác về th́ phải hơn hẵn. Tôi vẫn ao ước được sống một cuộc sống như ông. Một cuộc sống phải có đủ các mùi vị, chua, cay, ngọt, đắng, mặn, nồng th́ mới đầy đủ ư nghĩa.

Ngày xưa tôi không có một chút ḷng tin nào vào "ba cái thứ bá láp" của Măi Vơ Sơn Đông. Nhưng hôm nay tuổi đời đă quá sáu mươi, lưu lạc xứ người đă lâu, không biết ngày nào quê hương thật sự thanh b́nh để được trở lại làng xưa, sống nốt chuỗi ngày ấm êm c̣n lại. Bỗng dưng tôi lại có ḷng tin mănh liệt vào các món thuốc gia truyền, chữa được bá bệnh của cái gánh Măi Vơ Sơn Đông, của ông Đỗ Khánh Du.

Thương nhà, nhớ nước là vết thương ḷng không sao lành miệng của những đứa con tha bang, thất quốc. Có thứ thuốc nào ở bên nữa bán cầu này, "công hiệu như thần" chữa trị được vết thương ḷng này? Tôi chắc rằng không!

... Tha thiết nhắn rằng: Có ai về Nha Trang quê tôi, nếu gặp được người lực sĩ già Đỗ Khánh Du, hy vọng c̣n sống, đang bán dầu cù là ở các bến xe, xin mua dùm cho tôi một lố.

Tôi tin rằng dầu cù là của Ông sẽ là một thứ linh dược, chữa lành được vết thương ḷng của tôi và nhiều người khác nữa, đang lưu lạc khắp nơi trên quả địa cầu, mấy chục năm nay.

Khi mua xin nh́n kỹ nhăn hiệu dầu cù là Mắc Xu vẽ h́nh chủ nhân bào chế, có "cầu chứng tại Ṭa", kẻo nhầm với dầu cù là đựng trong hộp thiếc màu đỏ có vẻ h́nh ngôi sao vàng.

Đó là loại "cao sao vàng" của gánh xiếc đời nay. Rất dễ bị ngộ độc.

Quincy, đầu thu năm 2003

 

(Xem tiếp kỳ 5)

 

Nguyễn Thanh Ty

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com