Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.



 
Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 



Dư Âm Ngày Cũ
Nguyễn Thanh Ty

  


Phần 2:

Nha Trang tôi mỗi ngày mỗi thay đổi. Khu đất hoang dưới Xóm Mới bây giờ người Bắc di cư vào Nam tránh nạn Cọng Sản, đă ở đầy. Băi dương dưới sân bay, mỗi năm chúng tôi đi cắm trại là mỗi lần có cảm tưởng đi thám hiểm rừng sâu như ông Lỗ B́nh Sơn trong truyện lạc trên hoang đảo, bây giờ cũng thành làng xóm đông đúc. Lúc ấy tôi chỉ tiếc là không c̣n nơi để chúng tôi, thỉnh thoảng trốn học, rũ nhau đi hái trái rừng, la cà nơi hoang dă cho thỏa cái tính phá phách, nghịch ngợm, vui đùa của tuổi học tṛ.

Khu vực từ cầu Hà Ra về phía Tháp Bà chúng tôi không hề dám léo hánh tới. Nơi đó, người lớn bảo là nơi ma ở. Cả ngày lẫn đêm, người đi đường đều bị ma nhát. Chúng tôi sợ xanh mặt khi tưởng tượng ra những con ma mặt xanh, tóc xơa hay những con ma không đầu đi chấp chới, chân hỏng mặt đất... trong những buổi chiều mưa lất phất dai dẳng, lạnh run cầm cập, hay những buổi tối không trăng sao.

Bây giờ, hai bên đường cũng rải rác nhiều nhà cất lên bằng cây, ván. Mái lợp tôn. Vật liệu rẻ tiền mua lại ở mấy chỗ bán đồ phế liệu của Mỹ. Cậu Tám, em mẹ tôi, cũng ra đầu cầu phía bên kia, chiếm một chỗ, cất nhà.

Đáng lẽ ra Nha-Trang của tôi c̣n lớn lên nữa với cái dáng con gái xinh xắn trong tuổi dậy th́, mơn mởn đào tơ, nếu không bị bọn thảo khấu cưỡng dâm năm 1975.

Từ lúc tôi c̣n Tiểu Học, Nha-Trang chỉ có hai rạp xi nê mà người lớn tuổi như cha mẹ tôi cứ gọi một cách nôm na là "rạp hát bóng". Một rạp ở đường Độc Lập, tên Tây là Alambra, sau đổi tên ta là Tân Tân. Một rạp xế bên cạnh, ở góc đường Trường Quí Cáp và đường Nhà Thờ là rạp Tân Tiến. Và một rạp hát bội của ông C̣ Xương, tên là Thạnh Xương. Rạp hát bội rất b́nh dân. Ghế ngồi làm bằng gỗ tạp, bắt kế lên nhau thành nhiều tầng. Ai muốn ngồi chỗ nào cũng được. Ai vô trước th́ được ngồi gần sân khấu. Ai vô trễ th́ ngồi tuốt xa đàng sau, tót tầng trên cao. Bọn trẻ con chúng tôi mắc đái, cứ việc tụt xuống dưới đất, ngay chỗ ngồi mà tè thoải mái. Lâu ngày rạp có mùi khai khăm khẳm, ai cũng quở. Nhưng có tuồng hay th́ rạp bữa nào cũng đông. Như tuồng Tiết Nhơn Quí chinh đông hay Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê th́ phải đặt mua vé trước. Tuồng hát ba đêm liền mà khán giả cứ đông nghẹt. Gần tới giờ văn, cửa rạp được mở toác hoác cho người ta vào xem miễn phí. Cái đám hâm mộ không có tiền cứ xính vính trước cửa rạp, hưởng ké tiếng trống, tiếng kèn, tiếng ứ ư của đào kép, tiếng quợi quợi của đám quân sĩ ḥ reo trợ chiến, cứ thắc thỏm, nôn nao cả ruột. Giờ được lúc, ùa vào như thác chảy. Nhưng chưa kịp đă cái lỗ tai, chưa kịp măn nhăn th́ tiếng trống tiếng kèn im bặt. Ai cũng biết đó là lúc ông bầu mặc áo thụng ra đứng trước sân khấu nói lời tạ ơn khán giả và giới thiệu tuồng khác cho ngày mai. Đám diễn viên ào ra một lượt, cúi rạp người chào khán giả. Có người lật đật, quên cả mũ măo. Có lúc ông Trương Phi quên đeo râu. Thoại Ba Công chúa trụi lũi chạy ra không kịp đeo lông công và cờ lệnh ngũ sắc sau lưng. Khán giả có dịp cười rộ. Tiếng cười ḥa lẫn tiếng kèn, tiếng trống, tiếng phèn la inh ỏi. Hấp dẫn và hứa hẹn cho đêm sau.

Hai rạp xi nê Tân Tân và Tân Tiến th́ văn minh lich sự hơn nhiều. Lũ nhóc con chúng tôi chỉ lăng văng bên ngoài chờ xin tờ "rồ gam" của khách đă coi xong, đem về nhà cất kỹ làm của quí "c̣ léc xông" chớ đâu có khả năng mua vé mấy đồng một cái để vô coi. Nhưng tôi có cái may mắn là được thường xuyên vào rạp Tân Tiến coi cọp. Chẳng là tôi có ông anh thứ tư, con bà d́ Năm tôi, học trên tôi hai lớp, anh lớp Nhứt, tôi lớp Ba, tên là Nhẫn, kêu thân mật là anh Tư Nhẫn. Không biết tự bao giờ và bằng cách nào, anh quen được với chị Vinh, nhân viên soát vé vào cửa. Mỗi khi có phim hay, anh dẫn tôi đi theo, đứng xớ rớ trước rạp. Chờ cho khách vô gần hết, anh lạng qua lạng lại trước mấy tấm bảng vẽ h́nh quảng cáo cho chị Vinh thấy. Khi không có ông Chà Và đứng phụ, chị ngoắc hai anh em chúng tôi vô. Chúng tôi luồn dưới cái cửa nhỏ, chỗ chị ngồi xé vé, nhanh như con sóc, tót vào bên trong. Ghế trong rạp làm bàng gỗ quí, cứng ngắt và đen thui, láng bóng soi mặt được. Ghế chia làm ba hạng. Hạng "lô" có khung thành bằng gỗ che chắn lại thành từng lô dành cho mấy ông bà Tây, Đầm ngồi. Anh Tư nói hạng "lô" này mắc lắm, nhưng anh không biết giá bao nhiêu tiền một cái. Đàng trước mặt hạng "" này là hạng ba, ngồi sát màn ảnh trắng. Sau lưng hạng "" là hạng hai, ngồi tuốt đằng cánh cửa ra, vô, có màn nhung đen kéo chắn lại. Anh Tư nói đứng ở đây coi tốt hơn là sát màn ảnh. Nhưng tôi th́ cứ khoái lại ngồi xếp bằng ngay trước dăy ghế đầu hạng ba để coi cho măn nhăn.

Cái cảnh đi quảng cáo xi nê cũng làm tuổi thơ chúng tôi nao nức và xao xuyến mỗi cuối tuần thứ bảy. Họ đi một chiếc xe ngựa. Hai bên hông xe là hai tấm "áp phít" vẽ h́nh tuồng sắp chiếu. Trong xe, một người ngồi đánh trống và phèn la. Một người ngồi phân phát những tờ "rồ gam". Lũ nhóc chúng tôi chạy theo xe, từ đầu làng đến cuối xóm, muốn lọi gị, giơ tay xin muốn găy tay mà cái lăo ngồi phân phát "rồ gam" chẳng động ḷng cho một tờ. Lăo chỉ phát cho người lớn thôi. Chúng tôi đứa nào cũng mê say mấy tờ "rồ gam" này lắm. Cày cục xin được một tờ là hí hửng cất vào một chỗ trang trọng nhất trong kệ sách vở. Thỉnh thoảng rủ nhau đem ra khoe và trao đổi. Nhất là những "rồ gam" giá trị như "Cuốn Theo Chiều Gió", "Vũ Điệu Trong Bóng Mờ" hay "Tặc Răng Trong Rừng Thẳm", "Zê-Rô Bắn Súng" in bằng giấy láng là đồ gia bảo. Không một ai được đụng tới.

Ở đường Công Quán có thêm rạp Minh Châu. Trường Trung Học Tương Lai của tôi nằm bên cạnh. Đối diện nhà Máy Đèn là rạp Tân Quang chuyên môn hát cải lương. Mỗi lần các gánh lớn như Thanh Minh Thanh Nga, Kim Chung... từ Sài G̣n ra diễn th́ dân Nha-Trang hầu như ai cũng phải bỏ một ngày làm để đi coi mới được. Họ bàn tán sôi nổi quanh mấy quán cà phê, quanh mấy bàn nhậu về giọng ca Thanh Nga, Út Trà Ôn, Việt Hùng, Minh Chí... cả bà Phùng Há nữa. Thật là đặc biệt không ai có thể vừa phùng miệng lại vừa há miệng một lúc như cái tên oái oăm của bà được! C̣n đoàn thoại kịch Kim Cương nữa chứ! Tha hồ mà khóc cười theo cô Kim Cương và bà Năm Phỉ, bà Năm Sa Đéc...

Mấy năm sau tôi lên trung học th́ biển Nha-Trang được xây lên mười mấy cái "ki ốt" dọc theo bờ để du khách vào ngồi uống nước và nghỉ chân. Buổi trưa và chiều có ăn uống. Tôi c̣n nhớ quán số I gần Ty Bưu điện có ḅ bảy món rất nổi tiếng. Nhờ dăy "ki ốt" này, biển Nha-Trang càng thêm xinh đẹp và thơ mộng. Thành phố Nha-Trang dần dà mọc lên những cao ốc. Nổi bật hẳn là Lầu Bảy. Nó có tên là Nha-Trang Hô-ten. Nhưng người dân ở đây cứ kêu là Lầu Bảy v́ đó là cái lầu bảy tầng, cao nhứt ở Nha-Trang lúc bấy giờ. Lầu này do vợ chồng anh Jack, anh thằng Jean và thằng Jie, con nuôi ông Tư Yersin, đă nói ở một truyện khác, xây dựng nên. Tiếp theo là một rạp "xi nê" nguy nga đồ sộ, có cả máy lạnh, cũng do anh Jack làm chủ. Rạp này ở đường Hoàng tử Cảnh có tên là "Nha-Trang Ciné". Lại có thêm rạp "Bác Ái Mô Đẹc" mọc ra chỗ cuối đường Độc Lập và đầu đường Phan Bội Châu. Nhưng rạp này nhỏ xíu à. Nó nằm trên lầu tiệm Bác Ái, chuyên bán đồ sắt và máy "Cô Le và Đuôi Tôm" cho ghe thuyền. Bộ mặt Nha-Trang tươi sáng, rạng rỡ hẳn lên với những cửa hiệu tạp hóa chưng bày nhiều sản phẩm sang trọng bóng lộn. Rất nhiều hiệu sách mở cửa. Học sinh năm 1955-1960, ai mà không mê hai hiệu sách Văn Văn và Nguyễn Lê. Hai tiệm này không những đầy đủ sách vở mà c̣n hấp dẫn bọn học sinh tuổi mười tám, hai mươi chúng tôi bởi mấy cô bán hàng dễ thương, duyên dáng chi lạ. Văn Văn th́ có Minh Vơ, Bạch Vơ... Nguyễn Lê th́ có bà chủ, vợ một vị Đại Úy Không quân. Tuy lớn tuổi nhưng giọng Bắc của bà rất êm tai và cái dáng thon thả, đoan trang của bà trong chiếc áo dài màu nhạt đi tới, đi lui lấy sách, lấy vở cho khách rất quí phái. C̣n cô bán hàng Kim Bảng trẻ trung, có cái dáng yểu điệu giống như chủ và nhất là đôi mắt cười có đuôi đă làm tôi chết đuối mấy năm trời ở Trung Học Vơ Tánh.

Ôi Nha Trang của tôi xưa! Biết nói mấy cho vừa!

Nha-Trang tôi ngoài biển xanh, cát trắng, gió mát hiền ḥa, c̣n bao nhiêu là giang sơn cẩm tú không đâu bằng. Nha-Trang tôi c̣n có núi non, có đồng ruộng, có sông ng̣i, có cây trái bốn mùa, có tôm cá đầy khoang, có yến sào sang quí, có phong cảnh hữu t́nh, có Chùa Trăm Bậc, có Tháp Chàm di tích, có Nhà Thờ Đá sừng sững giữa phố đông người mà cách biệt bụi trần ai... Tôi làm sao mà kể hết, mà trải hết tấm ḷng yêu mến quê hương của tôi. C̣n nhiều lắm... chỗ nào cũng thân thương, chỗ nào cũng lưu luyến mặn nồng. H́nh như ḿnh có đi xa nó, có mất nó, mới hay rằng cả xương lẫn thịt đời ḿnh đă bám rễ vào đất tự bao giờ. Bây giờ mỗi bước đi xa, mỗi lần nh́n lại đều cảm thấy đớn đau trong ḷng.

Bây giờ, Nha Trang không c̣n là của tôi. Bây giờ tôi chỉ là khách lạ. "Giang sơn hữu chủ, thùy vi khách" (9). Tất cả đă đổi thay. Tất cả đều lạ hoắc, lạ huơ với tôi. Ngôi truờng Nam Tiểu Học của tôi nay thay bằng tên Nguyễn Văn Trỗi. Trường Trung Học Vơ Tánh đổi thành Lư Tự Trọng. Trường Huyền Trân Công Chúa nay thành Nguyễn Thị Lành. Những cái tên hoàn toàn xa lạ không ăn nhập ǵ với lịch sử hay văn hóa nước nhà. Họ bảo rằng đó là những người có công với "cách mạng". Nếu cái tiêu chuẩn đặt tên trường, tên đường, những nơi công cộng theo chiều hướng đó th́ chẳng mấy năm nữa những danh nhân lịch sử sẽ ch́m vào quên lăng và thay vào đó là tên những ông Nguyễn Văn Kèo, Trần Văn Cột, bà Lê Thị Mít, Vơ Thị Xoài hết.

Họ gọi tôi là Việt Kiều, tức coi tôi là người ngoại quốc. Y như ḿnh gọi người Ấn, người Tàu, người Pháp, người Mỹ làm ăn, sinh sống trên đất nước ḿnh là Hoa Kiều, Ấn Kiều, Pháp Kiều, Mỹ Kiều... ngày trước. Bỗng dưng tôi trở thành người mất gốc.

Trong ṿng mấy ngày cuối cùng được bạn chở đi khắp nơi để mở rộng tầm mắt, tôi ghi nhận ngoài nhà máy Xi Măng Ḥn Khói có từ lâu, Nha-Trang có thêm được nhà máy sợi ở đèo Rù Ŕ, Nhà máy thuốc lá Con Ngựa Trắng ở B́nh Tân, Xưởng đóng tàu ở Ninh Tịnh. Tất cả đều do ngoại quốc đầu tư, c̣n toàn là khách sạn từ "không sao" cho đến "ba bốn sao" và quán ăn lớn nhỏ, thượng vàng, hạ cám tràn lan khắp nơi như bệnh đậu mùa tháng bảy.

Với một nhúm người có tiền mở khách sạn và nhà hàng ra để làm ăn, Nha-Trang c̣n lại bao nhiêu dân số có công ăn việc làm để sinh sống? Hai cảnh giàu nghèo quá chênh lệch từ thành phố đến thôn quê có phải là một vết thương nhức nhối ngày càng mưng mũ mà chế độ cố che đậy bằng cảnh ăn chơi phù phiếm bên ngoài như miếng thuốc dán của Sơn Đông măi vơ?

Cái cảnh mỗi buổi chiều, xô bồ, ồn ào ăn uống khắp mọi chốn, mọi nơi, xe cộ hàng hàng, tiếng c̣i inh ỏi, tiếng chào hàng chèo kéo khách ỏm tỏi làm tôi nhớ lại cảnh bát nháo ở Cây Số Chín Cam Ranh năm 1970. Trong một đêm, từ cầu Long Hồ ở Mỹ Ca cho đến Cây số 9, hàng trăm "Sờ nách Ba" đă mọc lên dọc theo lề đường như một phép lạ thần kỳ. Thâu đêm suốt sáng, ầm ỹ tiếng nhạc giật gân với cảnh "sờ nách", "sờ vế" của mấy anh lính Mỹ viễn chinh và kiều nữ trát phấn bôi son ḷe loẹt, áo hở trên, quần ngắn dưới... Một thời đă làm xấu mặt người dân địa phương. Một thời bị địch lợi dụng gán cho hai chữ "phồn vinh giả tạo". Nay cảnh này lại tái diễn ngay trên bộ mặt thành phố. Không cần phải che đậy hoặc dấu cho xa. Bạn tôi c̣n rĩ tai tôi hăy c̣n nhiều chỗ hay lắm như tắm hơi đặc biệt, cà ra ô kê ôm, cà phê ôm, toàn là "U hai mươi" nhưng tôi không c̣n th́ giờ nữa để đi cho... thấm sự đời!

Với cảnh hoạt kê như vậy, phải nói sao đây? Chẳng lẽ lại gọi là "giả tạo phồn vinh"?

Ngồi trên máy bay về lại Mỹ, ḷng tôi chỉ thấy buồn tủi, ngậm ngùi. Nha-Trang ḿnh giờ đă phát triển. Thành phố rộng thêm ra. Nhà cao thêm lên. Dân cư đông đúc phải lên núi ở. Phải mừng chớ sao lại ngậm ngùi?

Bây giờ tôi mới cảm thông và hiểu được nổi ḷng ông Tú Vị Xuyên khi ông cảm thán than rằng:

Sông kia rày đă nên đồng!

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô, khoai!

Đêm nghe tiếng ếch bên tai,

Giật ḿnh cứ tưởng tiếng ai gọi đ̣! (10)

Tiếng ai gọi đ̣! Đ̣... ơi! Nghe sao mà năo nuột trong tâm tư. Nghe sao mà xa vời vợi!

Chỗ tôi ở, không có tiếng ếch uềnh oang, không có tiếng gà eo óc gáy, không có tiếng chó sũa trăng, không có tiếng vạc cầm canh, không có tiếng đỗ quyên khắc khoải, không có tiếng quạ kêu sương, không có cả tiếng trẻ con reo ḥ, tiếng c̣i xe, tiếng vó ngựa lóc cóc về sáng... chỉ có sự yên ắng, tĩnh mịch của một thành phố văn minh, thành phố Boston, th́ lấy ǵ giúp tôi để đêm đêm tôi được giật ḿnh như ông Tú Xương mà tưởng ḿnh nghe lại... tiếng ai gọi đ̣!

Thật là hẩm hiu, bất hạnh cho tôi!

Các bạn Nha-Trang tôi ơi! Mấy trang giấy ngắn ngủi này không đủ cho tôi trải hết ruột gan thương nhớ quê nhà. Xin bạn hăy cùng tôi một phút lắng ḷng để hồi tưởng lại đất cũ, quê xưa... một thời, để nhớ về những người muôn năm cũ... hồn ở đâu bây giờ?

C̣n bạn nào thích hưởng thụ khoái lạc và đang thừa tiền không biết làm ǵ cho hết th́ mau mau làm Việt Kiều yêu nước về Nha-Trang mà du hí đi, kẻo "chiều hôm tối rồi!"
- U hai mươi!(11) Giá b́nh dân! Mại dô! Mại dô!!!
Nhà nước ta đang cần đô la.

Quincy, hè 2003

 

Chú thích:

1 & 2 : Đông Chu Liệt Quốc.
3 : Cải cách ruộng đất ngoài Bắc 1954, giết hại vô số người dân vô tội. Tố Hữu và Huy Cận đă hô hào giết không nương tay.
"Trí, phú, địa, hào: đào tận gốc, trốc tận rễ".

4 : Cổ học Tinh Hoa.

5 : Thơ Trần Tế Xương.

6 : Một điệu hát Hồ Quảng tả cảnh giàu sang phú quí.

7 : Thơ Bà Huyện Thanh Quan.

8 : Thơ Tế Hanh.

9 : Thơ Trần Tế Xương.

10: U= under. Tiếng lóng: U hai mươi = Các em dưới hai mươi.

11: Nguyên văn:

Giai nhân hữu chủ, thùy vi khách

Thiên hạ trường xuân ngă độc thu.

( không nhớ tác giả)
Người Lực Sĩ
ĐỖ KHÁNH DU

 

(Xem tiếp kỳ 3)

 

Nguyễn Thanh Ty

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com