Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.



 
Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 



Dư Âm Ngày Cũ
Nguyễn Thanh Ty

  


Phần 1:

Sông Kia Rày Đă...

Đầu năm hai ngàn lẻ ba, tôi phải trở về quê nhà để thọ tang cha, sau gần mười ba năm bỏ nước ra đi. Cha tôi chết đột ngột sau một cơn huyết áp đột biến. Mặc dù ông gần chín mươi tuổi nhưng c̣n tương đối khoẻ. Ngày ngày ông vẫn chống gậy đi tới, đi lui và dạo quanh mấy chậu cây kiểng do chính tay ông tưới nước vun trồng trước sân. Sỡ dĩ cha tôi c̣n sống sót đến ngày nay đó là nhờ mấy anh em tôi bên này, liên tục gửi tiền về để cho những đứa em bên đó chăm sóc cho ông. Nếu không th́ ông cũng ra đi từ lâu như các cậu, d́, chú, bác tôi, v.v... và các bạn già của ông.

Tất cả ra đi đều do thiếu ăn và bệnh tật thiếu thuốc men. Mười năm trước, má tôi chỉ đau sơ sài có mấy ngày, v́ không ăn uống được nên yếu lă. Đưa vào bệnh viện Nha-Trang chữa trị. Từ cái khăn trải giường cho đến cái kim tiêm, đứa em rễ tôi phải chạy ra chợ trời lùng sục đem vô mới có cái để bác sĩ dùng. Khám nghiệm ban đầu, bác sĩ chẩn đoán là đau thận v́ má tôi kêu đau ở thắt lưng. Phải cầm toa ra nhà thuốc Ḥa B́nh mua một lô thuốc thận. Ba ngày sau, ḿnh mẫy má tôi phù lên do thuốc thận giữ nước. Bác sĩ khác đến khám bảo là do gan bị xơ. Lại ra tiệm Ḥa B́nh mua thuốc gan. Má tôi mỗi ngày mỗi yếu dần. Uống thuốc vào lại trào ra. Má tôi kêu đau bụng quá. Bác sĩ khác lại đoán là loét bao tử. Phải mổ! Mấy đứa em tôi, một mặt chạy rông khắp nơi để mua máu chuẩn bị mổ, một mặt đánh điện qua Mỹ báo tin và cầu cứu đô la. Khi có đủ số lượng máu đem đến, bác sĩ bảo là không mổ được. Bà cụ yếu quá rồi, tim mạch suy trệ không thể lên bàn mổ được. Hôm sau, bác sĩ bảo má tôi bị bể bao tử và chết trong đêm rồi. Thi thể đang để ở nhà xác. Đang chuẩn bị mổ tử thi để khám nghiệm. Em tôi khóc lóc năn nỉ bác sĩ đừng mổ nữa. Xin để cho má tôi thân thể nguyên lành mà ra đi. Bác sĩ nhún vai, bảo chuyện đó là do người quản lư nhà xác quyết định. Em tôi và cháu tôi phải đút năm trăm ngàn đồng cho ông quản lư để ông một mắt nhắm, một mắt mở trong việc "cướp xác" má tôi ra khỏi nhà thương.

Cháu tôi quấn xác bà ngoại vào chiếc mền, cỏng bà trên vai, chạy hối hả ra khỏi nhà xác như bị cướp rượt, ra xe xích lô chờ sẵn. Vậy là sau mười ngày vào bệnh viện, ba ông bác sĩ "trí tuệ" đă giết má tôi một cách vô trách nhiệm nhưng hợp pháp. Má tôi chết một cách oan uổng v́ mười ngày không ăn uống được thức ǵ, các ông bác sĩ cứ dộng hết thuốc này, qua thuốc khác vào bụng má tôi th́ làm sao bao tử không bị vỡ ra được. Chuyện đâu có chuyện lạ đời! Hèn ǵ bây giờ ở Việt Nam người ta đă sửa câu "Lương y như từ mẫu" thành câu mỉa mai là "Lương y như kế mẫu" hoặc chính xác hơn là "Lương y như đồ tể".

Suy cho cùng, chẳng trách riêng ǵ mấy ông, bà bác sĩ, y tá, lao công trong bệnh viện mà khắp cả nước, đều trời, y như vậy cả. Tất cả đều do cái thiếu đói mà làm càn. Ai quyền to, chức lớn th́ làm bậy lớn. Ai chức nhỏ th́ làm bậy nhỏ. Thậm chí một điếu thuốc Jet, chú công an khu vực cũng ch́a tay xin đểu. Chưa nói đến một gói nguyên, cậu Công lộ chận đường xe lam trong thành phố để ṿi. C̣n dân đen không quyền, không chức th́ lập băng nhóm để mánh mung, chụp giựt làm giàu bất chánh, bất kể thủ đoạn. Buôn gian bán lận được mùa nở rộ. Thậm thụt cửa trước, cửa sau với lũ mậu dịch cửa hàng. Từ gói thuốc Hoa Mai hạng hai, khét lẹt cho tới miếng thịt heo ba rọi... Đâu đâu cũng nh́n thấy rơ cảnh bát nháo, hỗn độn một thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ.

Đọc chuyện xưa Tần Thủy Hoàng (1) đốt sách, chôn học tṛ, tàn ác vậy mà cũng không bằng thời Cọng Sản miền Bắc, lùa cả triệu người Miền Nam vào các trại tập trung lao cải để cho chết dần chết ṃn v́ đói ăn và bệnh tật! Đốt bỏ toàn bộ sách vở Miền Nam tồn trữ cả trăm năm. Văn hóa dân tộc đi vào hố xí!

Chuyện pháp trị của Tể Tướng Thương Ưởng (2) nước Vệ thời Đông Chu cũng thua xa chế độ Công An trị đời nay. Nó tinh vi và khắc nghiệt hơn xưa cả ngàn lần. Thời Đông Chu liệt quốc bên Tàu làm ǵ có chuyện con tố cha, vợ tố chồng, tṛ tố thầy. Người người nh́n nhau bằng ánh mắt lạnh lùng, nghi kỵ. Chạm mặt nhau không dám chào hỏi. Ngày đêm ŕnh ṃ, ḍ xét lẫn nhau để đi tố cáo lập công. Đâu có cái gọi "Ṭa án Nhân dân" lập ra giữa đồng để đấu tố kết tội những người bị qui kết là trí, phú, địa, hào (3). Ḷng nhân đạo, tính bác ái, vị tha là loại xa xỉ không có mặt ở thời kỳ Xă Hội Chủ Nghĩa. Chuyện bà già sống một ḿnh dưới chân núi, cha, chồng, con đều bị cọp ăn thịt, vẫn không chịu dời xuống làng ở v́ quá sợ sự tàn ác, khắc nghiệt của chế độ chính trị (hà chính) không phải là chuyện bịa! (4) Ở chung với cọp c̣n có cơ may sống sót, c̣n hơn ở chung với chế độ độc tài, đảng trị.

... Tang ma cho cha xong, tôi dành mấy ngày c̣n lại để đi thăm thầy cũ, bạn xưa.

Trong bữa cơm họp mặt, các bạn tôi "hồ hởi phấn khởi" kể cho tôi nghe những thành tích vượt bực trong chủ trương "đổi mới" của chính phủ "kách mạng": - Bây giờ "nhà nước ta" đă "cởi mở" rồi. Chánh sách đă "thoáng" rồi. "Kinh tế thị trường theo định hướng Xă hội Chủ Nghĩa" đă phát triển một cách nhảy vọt. Bằng hoặc hơn Trung Quốc thời Mao Xếnh Xáng đề xướng "Cách Mạng Văn Hóa đại nhảy vọt". Dân chúng bây giờ tự do làm giàu, không c̣n cấm cản như trước nữa. Nha-Trang ḿnh bây giờ giàu có, phồn thịnh hơn xưa nhiều lắm. Nhiều nhà ngói, nhà lầu mái đỏ, mái bằng đă chen chúc mọc lên khắp nơi. Khách sạn xây lên tấp nập không kịp đếm, để đủ cung ứng, phục vụ cho du khách nước ngoài vào Việt Nam tham quan và học tập cách làm ăn của ta. Nhà nào cũng hai ba chiếc "Dream", A C̣ng @, Hông-Đa Trung Quốc... Ti Vi, tủ lạnh, máy điều ḥa không khí là đồ xoàng, không ai là không có. C̣n điện thoại di động hả? Trẻ con đi học, đứa nào cũng có một cái cầm tay! Dân ta bây giờ chuẩn bị đi xe hơi, xe con đàng hoàng, chớ không c̣n phải lạc hậu như trước nữa. Ta bây giờ đă có tới ba công ty chế tạo và lắp ráp xe hơi rồi. Nhà nước ra chỉ tiêu phấn đấu hoàn thành kế hoạch sản xuất một năm một triệu chiếc. Ba hăng xe đă đồng thanh hứa vượt chỉ tiêu. Tôi nghe mà ù cả tai, hoa cả mắt trong cái sự sung sướng, bàng hoàng. Thỉnh thoảng tôi phải đưa tay xuống gầm bàn véo vào bắp vế ḿnh để biết ḿnh tỉnh hay mơ, có nghe nhầm không đây! Tôi ở Mỹ gần mười ba năm. "Cell phone" là cái vật dụng tiện nghi cần thiết cho cái xứ sở rộng lớn này để dễ bề liên lạc trong các sinh hoạt hằng ngày. Vậy mà tôi cũng thấy không cần thiết. Nhiều hăng điện thoại gửi cho không, biếu không, một lần những hai cái mà tôi cũng chẳng thèm. Bởi tôi không muốn phí bốn mươi chín đôla chín mươi chín xu, hằng tháng, cốt chỉ để chạy theo "mốt thời thượng" khoe mẻ. Một cái điện thoại trong nhà cũng đă đủ làm điên người ta hằng ngày với những cú gọi đến quảng cáo bất kể giờ giấc... Tôi tự hứa, khi đến ngày về hưu, hai vật tôi sẽ ném đi trước nhất là cái đồng hồ và cái điện thoại.

... Khi gần tan tiệc, tôi mới có cơ hội chen vô mấy câu trong cái không khí tưng bừng rôm rả về chuyện đất nước đang từng ngày thay da, đổi thịt, để thăm hỏi bạn bè:
- Bây giờ tụi mày đang làm ǵ? Chắc gia đ́nh đứa nào cũng khá giả, sung túc hẵn lên phải không?

Bất giác, bầu không khí đang ồn ào náo nhiệt thế mà bỗng chốc lạnh tanh, yên lặng lạ thường. Thằng Danh, con nuôi thầy Nguyễn Bá Mậu, ngày xưa học giỏi nhất lớp, bây giờ, mỗi ngày phải đạp chiếc xe đạp cà tàng từ Thành xuống Nha-Trang, vô từng con hẽm một, từng quán ăn một, để bán vé số nuôi gia đ́nh hiện đang có đứa con thần kinh mà không đủ tiền mua thuốc trị bệnh. Thằng Mẫn, thằng Trạch sống nhờ vào trợ cấp ít ỏi hằng tháng của những đứa con làm công nhân nhà nước. Thằng Nghị, thằng Thất có vẻ sung túc hơn th́ nhờ vợ đảm đang trong những lần buôn chuyến Sài G̣n Nha-Trang. Thằng Vượng cũng thế. Thằng Miên th́ mở lớp dậy đàn, sáo. Học tṛ vài đứa lèo tèo. Mụ vợ nó (em họ tôi) ngoài giờ ở lớp ra, c̣n bắt thêm mấy đứa về nhà dạy kèm để có thêm chút cháo. Thằng Hà(ng) Bá, hồng hào, tṛn trịa ra vẻ phú ông th́ nuôi vịt gia công cho Đài Loan. Thằng Tức th́ phụ vợ ngày ngày đẩy xe ba gác chở quần áo trẻ con ra chợ bán...

Các cô bạn học ngày xưa cũng đều buồn bă lắc đầu. Hầu hết đều về hưu hoặc lui về quê sống những ngày đạm bạc. Cả năm chưa biết đến hàng quán là ǵ.

- Vậy th́ cái mà tụi mày lúc năy nói "đất nước phát triển vượt bực, dân mạnh, nước giàu" nó ở chỗ nào?

Có đứa nói:
- Học tập và làm theo báo, đài mà mậy! Tụi tao ở đây đă gần ba chục năm biến thành con vẹt hồi nào không hay. Bất cứ ai mở miệng ra đều nói y một sách. Dân Nha-Trang ḿnh bây giờ cũng nói "đảm bảo" chớ không c̣n nói "bảo đảm" như trước nữa! Mày cũng đừng làm lạ khi tụi tao nói "khẩn trương" đi "đăng kư", "quản lư" đời nhau, v.v... Đó là văn hóa mới, văn minh và tiến bộ.

Có đứa đề nghị:
- Thôi đừng nói thêm nó nhức đầu! Ngày mai, tụi tao sẽ đưa mày đi một ṿng thành phố để mày mở rộng tầm mắt và sự hiểu biết về sự phồn vinh của xứ sở. Trăm nghe không bằng một thấy.

Hôm sau, Thất cùng hai người nữa, lấy chiếc "Giấc mơ" chở tôi đi... tham quan cho biết sự t́nh.

Xuất phát từ tiệm phở gần ngă sáu, đường Nhà Thờ, trước mặt trường Thánh Tâm xưa, chúng tôi ngược đường quốc lộ I, lên hướng Thành. Suốt một quăng dài từ Mă Ṿng qua khỏi Cầu Dứa, hai bên đường bây giờ không c̣n là những ao rau muống, những thửa ruộng xanh rờn, gợn sóng nữa mà là san sát quán nhậu. Kể có hàng trăm quán. Ngày xưa chỉ có hai quán vịt nướng nằm dưới mé lộ và sâu trong làng. Bây giờ chỗ nào cũng "Vịt nướng". Bảng hiệu xanh đỏ loè loẹt, cố chường ḿnh ra sát lộ để dành nhau phục vụ "Thượng Đế". Tầm hiểu biết tôi đầu tiên được mở rộng thêm với hai chữ "Thượng Đế". Nó dùng để gọi khách hàng một cách kính cẩn và mĩa mai tại một đất nước đang đổi mới tư duy, làm kinh tế nửa xanh, nửa đỏ. Giống với nghĩa "dân làm chủ" nhà nước quản lư vậy. V́ khi "Thượng Đế" nhập vào mê hồn trận rồi th́ tha hồ bị chém đẹp. Không đẹp không ăn tiền. (Chuyện "Cơm tù" từ Nam chí Bắc mới đây được phanh phui trên các báo trong nước là một bằng chứng).

Quốc lộ I được mở rộng ra hai bên mấy chục thước, giải tỏa biết bao nhà cửa và ruộng vườn của nông dân. Vậy mà con quốc lộ vẫn cứ hẹp như cũ v́ chính giữa đường nhà nước ta cho xây vườn hoa để ngăn ranh làm hai đường xuôi ngược. Xe cộ tự do chạy thoải mái, bất kể luật giao thông. Từ xe đ̣, xe hơi, xe gắn máy cho đến xe đạp, xe ba gát, mạnh ai nấy chạy. Qua mặt nhau bóp c̣i inh ỏi. Hỗn độn đủ thứ âm thanh đinh tai, nhức óc nhưng vui ra phết. Tôi cam đoan rằng nếu bạn về Việt Nam lần đầu tiên sẽ không dám lái xe. Điều đặc biệt, thú vị là thành phố Nha-Trang bỗng nhiên xuất hiện rất nhiều "Ninja" bịt mặt. Nam, nữ thanh niên ai ai cũng bịt mặt bằng khăn mù xoa hay vải may bán sẵn. Mắt đeo kính đen, tay mang găng dài quá khuỷu.

Bạn tôi cho hay là họ phải làm vậy là để tránh bụi. À! Văn minh trí tuệ có khác! Thảo nào! Trước bảy lăm, dân t́nh c̣n ngu dốt, sơ khai, đâu biết đề pḥng vệ sinh là cái mốc x́ ǵ! Cứ chạy xe để tóc dài bay trong gió...

Hai bên đường bây giờ nhà lầu hai, ba tầng mọc lên khá nhiều với những kiểu cọ lạ mắt. Nhưng tựu chung vẫn hai ba kiểu giống nhau. Nó na ná như cái chùa với mái ṿm cong cong trên nóc và quét vôi màu vàng áo cà sa, chạy đường viền màu đỏ. Lan can ban công làm bằng i-nốc trắng, sáng lóa mắt dưới áng nắng trưa hè. Nhưng phía sau những cao ốc sặc sở màu sắc phồn vinh ấy, vẫn là những ngôi nhà đất hay nhà gạch với mái ngói âm dương cũ kỹ rêu phong. Chủ nhân đă cắt bớt phần đất trước mặt đường bán cho những người giàu "nẩy" để lấy một số tiền sinh sống qua ngày. Những kẻ giàu "ṇi" bây giờ lui về bóng tối, sống lặng lẽ, âm thầm. C̣n những "thằng người giàu nẩy" bây giờ, vênh mặt sống nghênh ngang như lănh chúa.

Bạn tôi, anh Lê Hải, thừa tự ngôi nhà ngói âm dương của tổ tiên để lại, có tuổi thọ gần hai trăm năm, tại một làng quê gần Cầu Ông Bộ. Ngôi nhà tuởng chừng chờ ngày đổ sập xuống theo tổ tiên ông bà, bỗng nhiên có công ty du lịch nào đó "khám phá" ra gọi nó là "di tích". Từ đó cứ mỗi tuần dẫn hàng lô, hàng lốc các ông "Tây Ba Lô", các bà "Đầm túi Bao Tử", quần đùi, áo thun đến tham quan, chiêm ngưỡng của lạ trên đời. Tôi mừng cho anh Hải từ nay bỗng nhiên có của từ trên trời rơi xuống.

Tôi diễu:

- "Phen này ắt hẵn gà ăn bạc. Đồng rớt đồng rơi lọ phải cầu" nhé!" (5)

Nhưng anh Hải buồn rầu đáp lại một cách cay đắng:

- "Nào có được đồng xu nào cho cam!"

Rồi anh chỉ lên mấy chỗ ngói bể phải thay bằng ngói tây giống như cái áo vá chằm:

- "Nếu được họ chia cho một ít th́ tôi đă đi sưu tầm ngói âm dương đúng kiểu của nó để thay thế. Này, anh coi mấy cây cột này nữa. Nó bị mối mọt ăn ruỗng bên trong hết rồi, không biết đổ xuống lúc nào!"

Anh chắc lưỡi than thêm:

- "Từ đó đến nay không làm ăn ǵ được. Họ làm phiền và quấy nhiễu sự yên tĩnh của ḿnh quá!"

Tôi cũng cảm thấy bất b́nh:

- "Vậy tại sao anh không từ chối hoặc đuổi họ đi!"

Anh lắc đầu:

- "Nhà nước mà! Ai đâu dám có ư kiến!"

Giă từ vợ chồng anh Hải, chúng tôi chạy xuyên làng dưới ṿm tre rợp bóng để thăm chị Thiệt. Con chị Thiệt bây giờ đă thành một thanh niên, ốm cao nḥng nhơng. Em đang múc nước giếng tưới mấy luống rau c̣i cọc trước nhà. Em cho biết mẹ đi làm cỏ lúa xế chiều mới về. Chúng tôi gửi lời nhắn mời chị xuống Nha-Trang họp mặt bạn bè, nhờ em nói lại.

Trở ra quốc lộ I, chúng tôi hướng về Thành, rẽ vào ngă ba Vườn Trầu, thăm anh bạn Mười Sanh. Nhà anh nằm sau lưng một ngôi chùa lớn. Vườn nhà anh khi xưa sum suê cây trái và hàng đàn gà, vịt cả trăm con. Những cây chôm chôm lủng lẳng trái là trái. Những cây cam, cây bưởi trái sai oằn nhánh, hái hoài không hết. Rồi nào mít, nào xoài... C̣n cả một vườn thơm sau nhà gần cái bàu đầy ăm ắp nước nuôi cá trê, cá tràu và cả ếch...

Bây giờ cái vườn đó giống như chủ của nó. Nó già cỗi và xơ xác, khô héo v́ chủ nó không c̣n phương tiện nào để bơm nước dưới bàu lên tưới. Tiền đâu mua xăng chạy máy bơm? Có ráng vay mượn th́ đến mùa hái quả bán không đủ trả nợ vay, c̣n đâu là công xá và mua gạo? Đành bỏ phú cho trời! Đàn gà vịt cũng vắng bóng. Ngôi nhà trở nên hoang vắng, lạnh lẽo. Anh Sanh chỉ lớn hơn tôi một tuổi mà bây giờ mắt đă mờ. Hai con mắt tinh anh ngày xưa, đă là xạ thủ cừ khôi cùng một tổ bắn đại liên với tôi trong trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967, nay đă đục lờ... Hai tay anh cứ run run không điều khiển được. Cầm lấy cánh tay cụt của anh, cánh tay này bị Việt Cọng lấy đi một khúc trong tết Mậu Thân khi anh chỉ huy một trung đội giải vây nhà giam Phan Thiết, ḷng tôi nghẹn ngào thương xót... Sức khoẻ anh sa sút mau chóng v́ bữa đói, bữa no, từ ngày Nha-Trang được "kách mạng giải phóng".

Chúng tôi cùng nhau uống lại ly rượu đế cay nồng năm xưa, năm 1991, anh đă rơi nước mắt tiễn tôi đi xa ngàn dặm cũng tại thềm nhà này. Ngày đó chúng tôi đă không mong có ngày gặp lại. Trước thềm có hàng cau cao vút đang mang dạ chữa. Tôi c̣n nhớ câu đố của anh:

Đầu rồng, đuôi phụng le te.
Mùa đông ấp trứng, mùa hè nở con.
Hàng cau đă mấy mươi lần ấp trứng, đẻ con?

Chiều hôm sau, các bạn lại đưa tôi đi dạo thành phố. Những con đường xưa, nay đều được mở rộng. Hai bên mọc lên vô số quán ăn, quán nhậu, quán cà phê... Họ thành lập thành hẵn một làng nhậu xưng tên rất hách là "Làng nướng" hay "Làng lẫu" ngay trong trung tâm thành phố. Mỗi buổi chiều, từ hai giờ trưa trở về đêm là tấp nập người nhậu. Nhậu thấu trời, tối đất. Bia, bọt chảy thành ḍng. Tiếp viên vô ra nườm nượp phục vụ không kịp.

Suốt dọc bờ biển Nha Trang, từ Cầu Đá cho đến Ḥn Chồng, Băi Tiên hằng mấy trăm quán ăn nhậu. Nhà hàng nào cũng khoe đặc sản số một. Chỗ th́ hải sản, chỗ th́ thịt rừng. Món nào cũng ngon đặc biệt, theo bảng quăng cáo. Hàng nào cũng do đầu bếp hảo hạng phụ trách. Nhà hàng nào cũng đông nghẹt khách ăn, nhậu. Đúng là "trên ô tô, dưới th́ ca nô, nằm giường lèo, đắp chăn nệm gấm...(6) Đời đổi mới có khác. Tôi ṭ ṃ hỏi bạn:

- "Họ là ai mà lắm tiền ăn nhậu vậy?"

Bạn tôi cười đáp:

- "Xin đừng có hỏi họ là ai và tiền ở đâu! Chỉ có trời đất biết, họ biết mà thôi! Một tiệc nhậu của họ bằng một năm lương của một công nhân đó! Người dân bây giờ gọi họ là "tư bản đỏ".

Trở về lại trung tâm Nha-Trang, chúng tôi vào một quán nem để ăn trưa. Ngày trước chỉ có hai quán. Một ở đường Lê Lợi. Một ở đường Trần Qúi Cáp. Bây giờ đi ngơ ngách nào cũng đụng phải nem Ninh Ḥa. Nem Ninh Ḥa mọc rộ lên như nấm gặp mưa. Tại quán ăn này cũng như các nhà hàng khác tôi vào ăn mấy ngày sau, tôi càng được mở rộng thêm tầm mắt và sự hiểu biết về tính ưu việt của người Việt Nam trong sự t́m ṭi, phát minh ra những chiêu thức kỳ lạ để làm "Vui ḷng khách đến, vừa ḷng khách đi" mà bất cứ nhà hàng nào trên thế giới đều không nghĩ ra được. Thật là độc đáo. Có một không hai. Đúng là đỉnh cao trí tuệ! Đó là những chiếc khăn lau tay, có tên gọi rất gợi cảm: " khăn lạnh".Nó được cho vào bao ni lông và khằn kín miệng. Tôi loay hoay mở chưa được th́ bạn tôi đă giúp. Anh ta dùng hai tay vỗ mạnh vào bao. Chiếc bao vỡ, phát ra tiếng nổ "bốp". Hèn chi lúc mới vào, tôi nghe nhiều tiếng lốp bốp mà không biết đó là âm thanh ǵ. Thật là vui và hấp dẫn thực khách từ miệng đến tai. Nghề ăn cũng lắm công phu! Cả thần khẩu lẫn thần nhĩ Thượng Đế đều được phục vụ tận t́nh!

( Loại khăn lạnh này, một anh chàng phóng viên báo Tuổi Trẻ, có lẽ chuyện Nhà Nước hết đề tài để ca ngợi, nên ḷ ḍ vô một hẽm nào đó ở Sài G̣n để kiếm tin, bất ngờ thấy cảnh tái chế "khăn lạnh" trong một căn nhà tồi tàn, dơ bẩn với vô số khăn nhặt lại ở các quán ăn mang về ngâm trong hàng đống thau nylon, hăi quá, bèn viết một bài phóng sự nhan đề là: "Khăn lạnh... thấy ớn lạnh" mô tả lại kỹ nghệ tái chế khăn.)

Tôi vội vàng ghi nhớ phát minh này với ư đồ khi về Mỹ sẽ tŕnh lên Bộ Kinh Tế để "cầu chứng tại Ṭa" mạo nhận là của ḿnh phát minh, chắc chắn sẽ giàu to. Nhưng khi về lại Mỹ th́ không dám làm, sợ mấy ông, bà nhà hàng Việt Nam rũ nhau đi kiện. Nếu nhẹ, phải ở tù ba năm với ba năm quản chế về tội cướp " bản quyền trí tuệ" của người khác. Nặng nữa th́ đi cải tạo không xét xử. Chừng nào học tập tốt th́ Nhà Nước khoan hồng, tha cho về với vợ con. Nghĩ tới đó sợ quá, trán vă mồ hôi, chảy xuống đầy mặt. Đành thôi.

Hôm sau nữa, các bạn đưa tôi đi xem những khu vực mới mở rộng của Nha-Trang. Con đường Lữ Gia nay đổi tên thành Lê Hồng Phong bắt đầu từ Mă Ṿng chạy xuyên suốt qua Đồng Ḅ, Thái Thông, Thái Tú cho tới Cam Ranh. Hai bên đường đă có răi rác nhà mới xây. Đất đă được cắm cọc chia lô. Nghe nói giá đất tại đây hăy c̣n rẻ. Mỗi thước vuông chỉ có một khâu. Đất tại Nha-Trang một thước năm cây. Thiệt là "rừng vàng, biển bạc, đất kim cương". Làm sao mà đất nước ta không giàu mạnh một cách nhanh chóng cho được! Nếu tính ra từ ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, đem đi bán hết th́ vàng, bạc và kim cương chia đều cho tám chục triệu dân hiện nay, mỗi ngướ phải có ít nhất là vài kư lô bỏ túi! "Khoẻ re như ḅ kéo xe!"

Nghĩa địa Phật Giáo ở trên núi phía bắc Nha-Trang, mồ mă được di dời đi chỗ khác (không biết chỗ nào) để san bằng làm nhà ở. Bây giờ đă đông kín từ chân núi lên tới đỉnh, nhà là nhà. Ngoài Bắc có ruộng bậc thang. Nay Nha-Trang ḿnh có nhà bậc thang. Trông vui mắt ra phết. Đúng như tiên đoán của Cụ Tú Xương một trăm năm trước:

Bồng bế nhau lên, nó ở non!

Nha Trang c̣n mở rộng ra tận đèo Rù Ŕ. Những băi rác mênh mông nay san sát nhà cửa. Sau bảy lăm, dân Nha-Trang không biết làm cái quái ǵ mà đẻ lắm thế. Dân số bỗng tăng vọt gấp năm, gấp bảy lần mà nói rặc tiếng Bắc. Cái sự không hiểu biết của người dân Nha-Trang trong chính sách ngừa thai, giảm dân số, mỗi nhà chỉ có hai con, ăn không ngồi rồi suốt gần hai mươi lăm năm thống nhất đất nước, cứ đẻ tưới hột sen, đă làm cho Nhà nước đau đầu trong vấn đề giải quyết đất đai nhà cửa cho dân chúng có nơi an cư, lạc nghiệp. Bạn tôi nửa đùa, nửa thật bảo rằng:
- "Chánh sách ra lệnh mỗi nhà chỉ có hai con thôi. Đâu cấm có thêm thằng. Nên dân cứ đẻ thoải mái".

Suốt dọc đường biển, từ nhà hàng Grand Hotel xưa kia đến tận sân bay, bên bờ biển là vô số nhà hàng ăn uống, giải trí. Ta có, Tây đầu tư vào cũng có. Rào chắn thành những khu biệt lập. Bờ biển thoáng đăng nay trở thành chật hẹp, chắn tầm nh́n. Lề bên kia chạy dài hàng trăm ngôi biệt thự của các cán bộ đă một thời dép râu, nón cối, ruột tượng gạo, vượt Trường Sơn đánh Mỹ cứu nước, một đời thanh bạch theo Bác, theo Đảng.

Tôi về thăm lại Ḥn Khói, quê hương của cha tôi, cách Nha-Trang bốn mươi hai cây số về hướng Bắc. Ḥn Khói chủ yếu sống về nghề làm muối. Người dân ở đây khi xưa rất trù phú nhờ vào muối xuất cảng. Muối Ḥn Khói nổi tiếng cả nước. Sau bảy lăm, nhà nước "nhập khẩu" toàn bộ các mặt hàng, từ muối cho đến tăm xĩa răng, cho bằng anh, bằng em với "Căm Pu Chia". Muối không bán được, chất thành đống, cao như núi, dọc hai bên đường đi, chờ mưa tan dần xuống trở lại biển. Làng Ḥn Khói xưa trù phú bao nhiêu giờ xơ xác bấy nhiêu.

Mấy bác, mấy chú tôi người nào cũng xang bang, xấc bấc. Ngoài muối ra họ đâu c̣n biết làm nghề ǵ để sống. Vườn trồng rau, trồng cà th́ nhỏ bằng bàn tay, không đủ nuôi một gia đ́nh bốn con. Vợ chồng bác Bảy tôi đêm đêm phải ra Dốc Lết phụ kéo lưới suốt đêm mới được người chủ ghe chia cho ít cá về kho nấu. Ngày nào trúng th́ được chia mươi ngàn, chưa bằng được một đô la.

Tôi không có nhiều tiền nên chỉ biếu tặng các chú, bác, anh em trong họ mỗi người hai mươi đô la làm quà. Vậy mà họ rất cảm động. Bác Ba tôi cầm tiền trong tay, ông nói giọng xúc động:
- "Hai mươi đô la cháu cho, tính ra tiền Việt Nam là ba trăm ngàn đồng, bằng tiền bác làm muối một mùa đó".

Dốc Lết lại là một tụ điểm du lịch ăn chơi. Dân chơi tụ về đây cuối tuần ăn nhậu thả dàn. Xe hơi, xe gắn máy phân khối lớn đủ hiệu đậu thành hàng dài, dọc bờ biển. Người dân địa phương vẫn quần đùi, áo lá gánh những gánh cua, ghẹ, ốc đi bán dạo.

Quăng đường từ Lương Sơn đến Phú Hữu, Ninh Ḥa, hai bên đường trước kia là vùng biển mặn, cây đước mọc đầy. Cua ở đây ngon nổi tiếng. Ai đi ngang cũng ghé lại mua vài xâu về ăn hay biếu. Nay đă trở thành những đ́a nuôi tôm xuất khẩu. Nghe nói mỗi đ́a rộng chừng một mẫu tây phải tốn hết năm chục triệu đồng, "tiền Cụ". Hỏi thăm người nuôi tôm, có biết phương pháp và kỹ thuật nuôi tôm ra sao không mà dám bỏ ra một số tiền lớn như vậy, liệu có chắc thành công hay không? Nhiều người cho biết:
- Thấy người ta làm sao ḿnh làm theo vậy chớ có ai chỉ dậy cho ḿnh đâu. Nhiều người cũng trúng lắm. Mới một mùa mà trong nhà đă có xe "Dream", Tivi ...

Anh Thành, con bác Ba tôi, thấy ham. Đem cầm nhà, bán xe Honda, vay thêm ít vốn bên vợ, cũng làm đ́a. Năm đầu thu vô được gần hai chục triệu. Khấp khởi mừng thầm: "Phen này chắc hẵn kiếm ăn to".

Qua năm sau nước phèn nổi lên, mấy chục ngàn tôm bột giống chết ráo. Thua keo này bày keo khác. Anh lại hăng hái chạy vạy, vay thêm tiền mua tôm giống. Tôm vừa lớn bằng ngón tay út th́ trời hạn hán, nắng gay gắt làm nước trong đ́a nóng quá, tôm chết phơi bụng trắng mặt nước. Anh Thành cũng trắng tay theo, đứng nh́n đ́a tôm mà khóc. Bác Ba tôi thở dài:
- "Bây giờ bác phải nuôi thêm hai thằng cháu nội!"

Vợ chồng thằng Minh, con cô Ba tôi ở Cam Ranh cũng bán ghe, bán xe, mướn người ủi đất sau nhà làm đ́a. Nh́n thấy nước trong đ́a xanh lè, tôi không dám có ư kiến sợ chúng nó cho tôi trù ẻo. Nhưng tôi biết chắc sớm muộn ǵ tụi nó cũng sạt nghiệp thôi.

Ngày thứ hai mươi, ngày cuối cùng tại Nha-Trang, tôi dành trọn ngày để đi thăm lại làng Xóm Cồn nhỏ bé, nghèo nàn, nơi chôn nhau cắt rún của tôi. Trước khi về Việt Nam, mấy đứa em đă cho tôi biết là làng ḿnh không c̣n nữa. Nhà nước đă "di dời" dân đi kinh tế mới hết rồi, bây giờ họ đang đập phá nhà cửa, san bằng hết để làm cây cầu bắc qua Xóm Bóng, phục vụ du lịch. Tôi nghe đau thắt ở trong ḷng nhưng không h́nh dung được quang cảnh làng tôi ra sao khi bị đập phá di dời.

Bây giờ đứng trước cây cầu đang xây dở dang, bên trái tôi là ḍng sông Cái, nước vẫn vô t́nh ngày đêm tuôn ra biển. Bên phải tôi là biển mênh mông, sóng vẫn tiếp nối nhau vỗ nhẹ đều đặn vào bờ. Sông nước, biển trời muôn đời không thay đổi mà sao ḷng tôi như đứt từng đoạn ruột.

Phải chăng "Cảnh đấy người đây luống đoạn trường"? (7)

C̣n đâu những chiếc thuyền câu, những ghe đánh cá với cánh buồm trắng, đậu chen chúc trên sông như đàn bướm trắng. Hằng đàn xe ngựa chạy lóc cóc chở "rỗi" từ nhà quê xuống mua cá, nói cười ồn ả cũng không c̣n. Cảnh dân chài rộn ràng trăi lá dừa nước giữa đường cái, làm "chà" đánh cá, lũ trẻ con chúng tôi lén xé lá dừa làm con ve sầu quay kêu vù vù hay làm kèn thổi toe toe nay c̣n đâu. Cả cái lầu "Ông Tư Yersin", một di tích lịch sử cổ kim vô giá của Nha-Trang nay cũng bị ủi sập, san bằng để xây thành khách sạn dành cho Bộ Công An ra nghỉ mát.

Mất sạch, không c̣n ǵ dấu vết một làng chài đă có mặt tại Nha Trang hơn cả trăm năm tên là Xóm Cồn. Làng tôi đă do nhiều người tứ xứ từ Nam, Ngăi, B́nh, Phú... qui tụ về đây sinh sống, đă thương yêu, đùm bọc lấy nhau, từ đời này qua đời khác. Con cháu nối tiếp nhau lấy con thuyền ra khơi làm kế mưu sinh. Mỗi lần đọc mấy câu thơ:

Làng tôi vốn chuyên nghề chài lưới,

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.

Những sớm mai rạng ánh mây hồng,

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá... (8)

là ḷng tôi rộn lên những niềm vui. Bây giờ đứng đây, giữa chốn gạch ngói hoang tàn, vẫn những câu thơ đó mà tôi cứ ngậm ngùi, thương nhớ. Hơn hai ngàn ngư dân ở đây đă bị đẩy lên núi cầm rựa, cầm cuốc phát rẫy, trồng khoai thay cho cần câu, tấm lưới, dây nhợ, cục ch́. Trớ trêu thay!

C̣n nhớ, khoảng cuối thập niên sáu mươi, Mỹ giúp Tỉnh nhà, dùng máy hút đất từ biển vào, lấp đầm Nha-Trang, xây chợ Tṛn.

Trong ṿng mấy tháng, cái đầm giữa thành phố Nha-Trang biến mất. Cát trắng đă lấp đầy. Từ đó tiếng búa máy đóng cừ để làm móng xây chợ Tṛn cứ ngày đêm vang lên chan chát trong tim tôi. Tôi thương nhớ cái đầm này vô cùng. Nó gắn liền với tuổi thơ của tôi. Năm 1945, gia đ́nh tôi chạy loạn tránh bom đạn của Nhật và Pháp, phải bỏ Xóm Cồn chạy ra Lương Sơn một thời gian rồi lần ṃ trở về làng. Nhưng làng vẫn chưa yên. Đêm đêm Pháp vẫn lùng sục bắt Việt Minh lén lút từ Hố Dâu, sau lưng Tháp Bà, vượt sông Cái trở về, răi truyền đơn và ném lựu đạn.

Gia đ́nh tôi cùng nhiều gia đ́nh khác phải chạy lên gần chợ Đầm làm nhà dọc bờ đầm để ở. Càng lúc càng đông thành một xóm. Xóm không có tên. Khu vực này dân quê từ các làng thượng nguồn chống bè ṃ o (c̣n gọi là lồ ô) về bán, thường tụ tập tại đây rất đông. Từ đó xóm tôi có một cái tên rất ngộ nghĩnh: Xóm Ṃ O. Tôi học vỡ ḷng lớp Năm nhỏ tại đ́nh Xương Huân. Mỗi ngày vô lớp, qua cổng đ́nh là phải ngó hai ông cọp trắng và cọp đen đắp bằng đất trên bức tường thấp, án đằng sau cánh cổng. Cứ sờ sợ.

Tôi ở Xóm Ṃ O ba năm. Học đ́nh lớp Năm nhỏ. Lên lớp Năm lớn chuyển vào trường Nam Tiểu Học. Chúng tôi cùng nhau, thầy tṛ hè hụi khiêng bàn ghế theo, lấy làm vui lắm. Những năm đó chúng tôi thường chạy nhảy, đuổi bắt nhau trên những bè ṃ o khi tắm sông. Những bè mo o được ràng rịt liền nhau, vững vàng như những tấm ván. Chúng tôi nhún bên này, nhún bên kia làm cho nó chao đi chao lại rất khoái chí. Về đêm, chúng tôi đi dọc theo bờ đầm lên tận xóm Ḷ Heo để xin mía ăn. Ban đêm những xuồng tam bản từ nhà quê xuống, chở theo các thổ sản như mía, khoai, rau cải... đậu san sát nhau chờ sáng mai khiêng lên chợ sớm. Đèn dầu mù u sáng lập loè trong ghe. Tiếng nói chuyện trao đổi loáng thoáng trên sông nước nghe lúc xa, lúc gần rất mơ mơ, hồ hồ. Họ quăng lên bờ cho chúng tôi những cây mía vàng tươm. Xướt mía ăn cho đến mỏi răng mới về nhà. Nước mía sao mà ngọt lịm.

Những ngày nước ṛng rút ra xa, chúng tôi dùng cây sắt bằng chiếc đũa ăn cơm, bẻ cong một đầu thành cái cù ngoéo, cào dọc bờ để bắt con dộp. Con dộp giống con ṣ nhưng màu đen có lông mọc ngoài vỏ. Mấy người Nùng th́ dùng cái cào bắt những con trùn biển to bằng ngón tay dài hơn chiếc đũa. Chúng tôi gớm và sợ những con trùn này nên không dám lại gần. Người Nùng đem về xẻ xuột, phơi khô, đem bán cho mấy hiệu tạp hóa. Măi sau này tôi mới biết đó là con "sá sùng" dùng để bỏ thêm vào nồi nước lèo phở hay bún ḅ thay cho bột ngọt. Sá sùng khô nướng lên nhậu cũng bắt mồi lắm.

Bây giờ chợ Tṛn thành h́nh dần cái vẻ đồ sộ, nguy nga, tân kỳ của nó mà không hiểu sao tôi vẫn thấy yêu cái chợ vuông cũ kỹ thôi. Có lẽ tôi yêu luôn cả những cây bàng cành lá um tùm bao quanh chợ vuông, che bóng mát nó quanh năm suốt tháng. Dưới những gốc bàng, mỗi lần theo mẹ đi chợ, mẹ mua cho tôi ly chè hay nắm xôi, bảo ngồi đó ăn, chờ mẹ. Tôi tha thẩn hết gốc này đến gốc khác đến nỗi thuộc ḷng những cái đặc biệt của từng gốc bàng. Gốc trước cửa chợ có sáu cái rễ lồi lên khỏi mặt đất. Gốc bên hông chợ, đối diện với đường Phan Bội Châu, có quán bán cà phê, đặt ḷ ngay gốc nấu nước, làm cháy một lỗ. Gốc phía đầm, các nhánh cứ xoà ra là là trên mặt nước...

 

(Xem tiếp kỳ 2)

 

Nguyễn Thanh Ty

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com