Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty           |                 www.ninh-hoa.com



 Nguyễn Thanh Ty


 
Người Ḥn Khói
 B́nh Tây, Ninh Ḥa.

 


Hiện cư ngụ tại:
 Hoa Kỳ

 

 

 

 



Bá Nghệ Hảo Tùy Thân !
Nguyễn Thanh Ty

  


Kỳ 2:

Mấy tháng sau khi ở tù về, cậu Công An Khu vực làm nà quá, cứ lấy cớ tôi không có công ăn chuyện làm, hăm he đưa đi kinh tế mới, cha tôi khuyên tôi nên “rút” (mướn) một chiếc xích lô để đạp. Trước là tránh khỏi đi kinh tế mới. Sau là có thể kiếm gạo nuôi con. Nghe ông nói, tôi sợ thiếu điều muốn xỉu.

Đạp xích lô, ba gác th́ bạn bè tôi hiện nay đang hành nghề nhiều lắm. Kể cả mấy anh bạn (không có nợ máu với nhân dân tức là hạ sĩ quan không “được” đi học tập như chúng tôi) c̣n đang được đi dạy. Ngoài giờ lên lớp ở trường ra, cũng phải đi đạp xích lô thêm nửa ngày mới đủ tiền nuôi gia đ́nh. Cả mấy cô giáo của tôi ngày xưa cũng phải bán thêm xôi hay bánh kẹo trước cổng trường mới có thêm ít tiền nuôi con, trong lúc các ông chồng c̣n đang “học tập chưa tốt” tận ở ngoài Bắc hay trong Nam xa tít ngàn trùng.

Anh Tôn, Trung Úy, về một lượt với tôi, vợ và bốn con ở nhà xỏ xâu mành trúc đổi gạo Hợp tác Xă Mây tre lá Xuất khẩu. Anh đạp xích lô hàng ngày kiếm thêm tiền chợ mắm muối. Hôm tôi lang thang dưới biển, thấy anh nằm trên xích lô, dưới bóng mát lùm thông xén vuông vức, đang ngủ mê man, há họng ra ngáy kḥ kḥ.

Tôi chợt thấy chạnh ḷng mà không khỏi tức cười khi nh́n anh ngủ. Anh vốn cao ḷng kḥng, cao cở thước bảy, mà cân nặng chưa đầy bốn mươi kư lô. Hồi trong tù thiếu ăn vậy mà đâu đến nổi như bây giờ. Anh c̣n có thể chôm chỗ này trái cà, chỗ kia trái mướp hay đôi khi đánh bẫy được vài chú chuột núi, con nhen, con sóc để có thêm cái ăn. Bây giờ về thành phố đành chịu. Không lẽ đi ăn cắp vặt mà trong tù gọi là cải thiện.

Tôi đứng ngắm anh hồi lâu rồi lay anh dậy. Anh hoảng hồn khi bị tôi đập lên vai anh mấy cái. Anh dụi mắt lia liạ, miệng há ra muốn kêu. Tôi biết anh đang ở trong trạng thái y như tôi khi th́nh ĺnh có ai gọi to tiếng hay vỗ vai sau lưng. Chúng tôi như con chim trong lồng, con cá trên thớt, nên tâm trạng luôn luôn phập phồng không biết bị chém chặt, băm vằm lúc nào. Khi định thần nh́n ra là tôi chớ không phải Công An hay Cán bộ quản giáo anh toét miệng ra cười. Cái cười của anh móm xọm. Hai hàm răng th́ nhe ra. Hai cái má th́ tóp lại. Hai con mắt trũng sâu làm cho hai lưỡng quyền nhô cao lên như hai quả núi khô. Thân h́nh anh trơ ra bộ xương y như bộ xương khô. Tôi đùa:

- Chà! Coi bộ làm dân biểu cũng khỏe quá hé! Giờ này mà vắt chân chữ ngũ, la siết một giấc dài với gió biển th́ c̣n thua ông cọp có cái đuôi!

- Đâu có! Làm dân biểu th́ phải lo cho dân chớ, đâu dám trễ năi. Sáng nay ông "đầy tớ dân" biểu chở hai con heo, mỗi con nặng hơn trăm rưỡi kư, từ Xóm Mới ra tới đèo Rù Ŕ để đơn vị ông làm thịt liên hoan nhân ngày đạt, vượt chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ. Đạp tới nơi, hụt hơi, oải quá nên bây giờ kiếm chỗ vắng vẻ “bồi dưỡng” một chút lấy sức. Không ngờ đánh tót một giấc lâu vậy.

- Anh đạp xe lâu chưa? Kiếm khá không?

- Mới mấy tháng nay thôi. Bây giờ người ta không có công việc ǵ làm nên đi đạp xe nhiều lắm. Ḿnh tay mơ mới ra nghề không dành khách được. Cứ đạp xe lang thang dọc đường. Có ai kêu th́ mới mong kiếm chút đỉnh. Cơ cực lắm. Anh ngó tui coi, giống dân biểu chưa?

Anh nói khôi hài cho vui mà cái miệng th́ cười méo xẹo. Dẫu sao anh cũng nhanh nhẫu và bương chăi hơn tôi. Tôi vẫn c̣n vô tích sự chưa biết phải làm cái ǵ.

Một hôm, trời c̣n sáng tinh mơ, tôi đă lẩn quẩn ở chợ Đầm xem có ai thuê khiêng rau hay vác chuối ǵ không th́ gặp anh Đài, Đại Úy, về trước tôi mấy tháng, đang cố đẩy chiếc xe ba gác từ ngoài vào trong chợ. Mặt anh xanh mét v́ mệt. Tôi vội chạy lại phụ anh một tay đẩy chiếc xe len lách qua hàng rau cải, trái cây để đến chỗ chủ vựa. Khi chất hết một lô buồng chuối, trái cây, hoa quả xuống xe xong, anh kéo tôi ra quán cá phê cóc ở góc chợ. Hai chúng tôi nhâm nhi ly cà phê đen bít tất, bập thuốc “bốc lăn xe”, mắt nh́n quang cảnh bán mua quanh chợ, trầm ngâm, không ai nói được lời nào. Có ǵ để nói với nhau? Cuộc sống khốn khó, cuộc đời khốn cùng đến nước này c̣n có cái ǵ để nói.

Gần cạn ly cà phê, anh Đài mới chậm răi nói:

- Chắc anh tính vô nghề này hả? Tôi đuối sức rồi, định hết tháng này th́ bỏ nghề, ở nhà nuôi gà công nghiệp. Anh có muốn vô th́ để tôi giới thiệu với chủ xe để anh thuê, khỏi đóng tiền cọc.

- Thôi anh Đài ơi! Sức voi như anh mà c̣n thối lui th́ tôi kham sao nổi cái nghề này! Cám ơn anh đă có ḷng.

Anh Đài này có bà mẹ vợ là người yêu xưa của thi sĩ Hàn Mặc Tử ở Phan Thiết. Hồi c̣n ở trong tù, nghe anh kể chuyện ai cũng bán tín, bán nghi anh nói dóc nghe cho đỡ buồn. Nhà anh ở dưới dốc chân cầu Hà Ra. Hôm t́nh cờ đi lang thang tới đó, thấy anh đứng trước cửa, ghé vào chơi, anh chỉ một bà già đang ngồi ở ngoài sân, miệng móm mém nhai trầu:

- Bà nhạc tôi đó. Người yêu lư tưởng của Hàn Mặc Tử đó!

Ṭ ṃ, tôi tới chào hỏi bà cụ vài câu xă giao cho đủ thời gian làm thân rồi ướm thử:

- Cháu đọc tiểu sử của ông Hàn Mặc Tử lúc làm công chức Bưu điện ở Phan Thiết có người yêu là Mộng Cầm có phải là bác đây không?

- Ừa! Th́ tui đây chớ ai! Mà quen thôi chớ có yêu đương ǵ đâu!

- Thế những chuyện lăng mạn có đúng như người ta viết trong sách không bác?

- Mấy cái ông văn sĩ chỉ được cái tài có ít xít ra nhiều. Làm ǵ có thơ mộng lăng mạn như vậy. C̣n bày đặt thêu dệt ra chuyện t́nh lâm ly ở Lầu Ông Hoàng. Tôi với ông ấy quen nhau sơ sơ thôi.

Tôi thiệt sự chưng hửng khi nghe bà cụ Mộng Cầm nói ra sự thật trần trụi đến độ thất vọng. Trí tưởng tượng và lăng mạn của tôi vẫn không chịu lui bước dù sự thật được nói ra từ cái miệng móm mém nhai trầu của Cô Mộng Cầm xinh đẹp ngày xưa.

Thời gian khá lâu sau đó, tôi trở lại thăm anh Đài. Giờ này anh đă có hai chuồng gà công nghiệp hơn cả hai trăm con, vừa gà thịt và gà đẻ. Bà mẹ vợ Mộng Cầm phụ với anh chăm sóc đàn gà. Vợ anh vẫn c̣n đi dạy học.

Tôi nhớ tới anh Tôn đạp xích lô và anh Đài đạp xe ba gác khi cha tôi khuyên tôi nên đạp xích lô bởi v́ tôi liên tưởng tới ngay chị Ngọt ở xóm tôi. Chị Ngọt cũng giống như phần đông các cô gái khác trong xóm. Chị cũng làm nghề mua bán cá hàng ngày. Có điều đặc biệt là chị quá mập. Mấy anh đạp xe xích lô trong xóm đều sợ và né cô, đùn cho người khác chở nếu đến phiên ḿnh. Không biết chị có lai Tây hay Mỹ ǵ không mà thân h́nh chị to bè ra bằng ba người thường. Hai cái mông chị ngồi không lọt vô ḷng xe. Mỗi khi chị gánh gánh cá từ bến lên, người đạp xe tới phiên phải lật đật lấy một miếng ván bề ngang bằng hai gang tay, dày hai phân gát ngang hai tay vịn của xích lô cho chị ngồi lên rồi mới xếp hai rổ rổi cá nằm chồng lên nhau trước càng xe. Trong lúc đó phải nhờ người phụ níu cái phần yên xe phía sau xuống để xe khỏi chỏng gọng về đàng trước. Khi đạp xe cũng phải nhờ bạn đẩy dùm mấy cái để lấy trớn. Có hôm gặp phải người phu xe quá ốm, cái đít xe cứ hỏng lên mặt đất, chiếc xe chúi về đàng trước muốn hất chị Ngọt xuống đất khiến chị la làng bài hăi. Nghĩ tới cái lúc cả khối thịt đồ sộ của chị ngă sóng soài từ trên "ghế ngồi hạng nhất" xuống tới đất th́ không biết sự thể sẽ thê thảm đến chừng nào.

Danh từ “ghế ngồi hạng nhất” chỉ xuất hiện sau năm 75. Các cán bộ, bộ đội vào Nam đi xe xích lô hay kỳ kèo giá cả mắc rẻ. Để cho rẻ, họ thường rủ nhau từ ba đến năm người đi chung một chiếc rồi chia tiền với nhau ra trả. Người phu xe phải lấy ván gát ngang phần trên như chỗ chị Ngọt ngồi gọi là hạng nhất. Ḷng xe là hạng nh́ và ngồi dưới càng xe để đồ vật là hạng ba. Đa số cán bộ khi đi một ḿnh cứ đ̣i ngồi hạng ba cho rẻ.

Tôi cứ nghĩ đến cái thân h́nh ốm nhom, cà kheo của ḿnh tới phiên chở chị Ngọt, không đun đẩy cho ai được là cứ muốn xỉu.

V́ vậy cha tôi dù có khuyên đôi lần ba lượt nên học lấy cái nghề đạp xe xích lô, tôi cũng t́m cách lăng tránh. Hơn nữa làm cái nghề “dân biểu” cũng lắm nổi nhục nhằn như anh Tôn từng đớn đau tâm sự. Chúng thị có tiền ngồi vắt vẻo trên xe, chúng có quyền nạt nộ, ́ xèo chê bai đạp lâu, đạp yếu. Gặp lúc xe lên dốc giữa cái nắng hừng hực giữa trưa, mồ hôi túa ra ràn rụa trên mặt, cay xè hai con mắt không thấy đường, chân đạp quờ quạng, khách trên xe quát lên:
- Bộ đui hả? Bộ muốn giết người ta hả? Sao lái xe mà cứ đâm bên này qua bên kia vậy hả?

May quá, cuối cùng th́ nhờ thằng bạn dẫn đường đi làm Công Ty Xây Dựng. Nhưng thực ra chỉ đạp xe ba gác chở xà bần đi đổ chớ có biết xây hồ, dựng gạch ǵ đâu! Được cái, đạp xe ba gác chở xà bần không ai quát mắng la rầy. Cứ nhẩn nha đổ hết xe này đến xe khác. Chỉ mất sức chứ không mất danh dự. Tiền lănh tuy ít nhưng ḷng tự ái c̣n nguyên, không bị sứt mẻ.

Đổ xong xe xà bần, trên đường về lại chỗ cũ, xuôi gió chiều, tôi đạp xe nhẹ nhàng hơn. Ḷng tôi cũng cảm thấy nhẹ nhàng. Lâng lâng với ư nghĩ ḿnh sẽ gặp lại bạn xưa, sẽ làm nghề đóng tàu thuyền, sẽ cùng nhau có lại những ngày tháng êm đêm vui đùa trên sóng nước.

Nhờ vui trong ư nghĩ và cũng nhờ thuận gió, chẳng bao lâu tôi đă trở lại chỗ làm. Tôi đem dự định trên bàn với thằng bạn và hỏi ư kiến nó có nên không. Không ngờ mọi chuyện đều tốt đẹp hơn điều tôi lo lắng. Nó bảo tôi cứ đi, nếu công việc tốt hơn th́ ở đó làm. Nếu tệ hơn th́ cứ trở lại. Công việc của ba nó dù có thêm một người hay bớt một người cũng không ảnh hưởng ǵ.

Ngay ngày hôm sau, tôi đạp xe đạp ra Băi Dương Ḥn Chồng ḷng khấp khởi hy vọng. Chưa tới bảy giờ, chân trời c̣n ửng hồng ở dưới nước. Phút chốc, mặt trời ló lên như cái dĩa lửa rồi thoáng chốc sáng rực rỡ.

Công nhân đang đến làm việc, lác đác từng nhóm ba người, năm người ai nấy đều mang theo đồ nghề và cơm nước ăn trưa. Tôi mon men lại gần chiếc tàu đang đóng dở dang nằm trên dàn giáo gần sát mé nước để xem cách thức làm việc ra sao.

Chiếc tàu to lắm. Mấy cái ghe mành đánh cá ở xóm tôi chỉ bằng chừng một phần năm nó thôi. Chiều dài nó tôi ước lượng có thể tới hai mươi mét, bề ngang phải bảy mét và chiều cao có tới bốn mét là ít.

Người ta bắt đầu làm việc. Ai nấy đều rộn ràng, đi đi lại lại, kẻ cưa, người đục. Tiếng búa gơ chan chát. Tiếng máy cưa cưa gỗ kêu ầm ĩ. Quang cảnh thật nhộn nhịp, vui mắt. Tôi đứng xớ rớ hết nh́n chỗ này lại nh́n chỗ khác, ḷng cảm thấy vui lây với cái không khí hăm hở, rộn ràng.

Đây mới thiệt là “lao động vinh quang”. Tôi nghĩ thầm trong bụng.

Tôi ngóng nh́n về cổng ra vào, văn pḥng vẫn c̣n đóng cửa. Văn pḥng là một ngôi nhà tranh, vách cặp bằng cót. Cửa ra vào và hai cửa sổ hai bên th́ làm bằng ván. Sát trên ngạch cửa chính có treo tấm bảng kẻ hàng chữ đỏ: Hợp tác Xă đóng tàu thuyền Ngân Hà.

Đúng tám giờ, hai chiếc xe Honda và chiếc Lambretta chạy vào một lượt. Tôi nhận ra ngay hai người cỡi Honda là anh Duyệt và anh Xí. C̣n anh Khanh th́ đă gặp hôm qua.

Tôi rụt rè bước tới nửa muốn đưa tay chào thân mật như trước, nửa lại không dám đường đột. Bây giờ ai nấy đều chững chạc bề thế trong bộ đồ ủi thẳng nếp, áo bỏ trong quần, tay ôm cặp táp, chân đi giầy da, trong lúc tôi chỉ phong phanh cái quần kaki sờn rách màu cứt ngựa tối tăm với cái áo sơ mi vàng, bạc thếch gần thành màu trắng. Chiếc xe đạp mini cũ mèm, cô em gái tôi vượt biên từ năm 1978 để lại, cha tôi treo lên gác chuồng heo, măi cho đến lúc tôi về mới được tháo xuống xử dụng lại, đang dựng ở chái hiên văn pḥng trông thật choen hoẻn và tội nghiệp.

Nhưng thật bất ngờ, trái với sự tự ti mặc cảm của tôi, khi nh́n thấy tôi, ba người bạn cũ dựng xe xong, ùa đến bên tôi mừng rỡ. Họ ôm lấy tôi siết chặc. Lần này tiếng cười khà khà, khành khạch của anh Khanh mới nghe vang lên rộn ră. Và tiếng anh Duyệt, anh Xí cũng vang lên ấm áp:
- Ông Hiệu Trưởng! Trời ơi! Ông Hiệu Trưởng!

Cả ba kẻ kéo, người đẩy, lôi tôi vào văn pḥng. H́nh như mắt tôi đang long lanh ngấn nước v́ cảm động. Tôi nghẹn ngào, không nói nên lời.

Mọi người tíu tít hỏi tôi chuyện xưa cũ, chuyện tù tội, chuyện hiện tại, tương lai rất náo nhiệt vui nhộn. Tôi không kịp trả lời câu này th́ vội quay qua câu khác. H́nh như chúng tôi chỉ muốn nói cho hả bao nhiêu điều chất chứa trong ḷng chứ cái chuyện khổ ải khốn nạn từ cái ngày được gọi là “giải phóng” đến nay ai ai cũng giống nhau, tuy mỗi người một cách, khỏi cần hỏi, khỏi cần nói ai cũng biết.

Đang vui vẻ rôm rả chuyện tṛ, bỗng tôi khựng lại giống như bị cúp điện th́nh ĺnh, v́ nhác thấy một cán bộ nón cối, dép râu, vai xắc cốt, đang lừng lững tiến vào. Tôi nhổm đít đứng dậy và toan thối lui ra cửa kiếm đường “tẩu”. Tôi rất dị ứng và rất rét khi nh́n thấy cái nón cối và xắc cốt. Anh Khanh lật đật nắm tay tôi lôi lại và cười khà khà trấn an:

- Đừng sợ! Khà khà! Đừng sợ Ông Thầy! Đây là Bác Mai! Cán bộ hưu trí Phường. Bây giờ Bác đang làm Cố Vấn cho Hợp Tác Xă ḿnh.

Rồi anh quay qua giới thiệu tôi với ông cán bộ:

- Đây là anh Tùy! Thầy giáo hồi xưa quen với anh em tôi. Anh ấy mới đi cải tạo về. Tôi muốn giúp anh vào làm trong HTX ḿnh bác Mai à!

Cán bộ Mai đưa mắt nh́n tôi từ đầu xuống chân rồi từ chân lên đầu y như nh́n con heo hay con chó sắp được mua bán trao đổi. Một lúc sau, ông chép chép miệng, nói lầu bầu trong họng nhưng vẫn nghe rơ:

- Chà! Cải tạo mới về! Gay đấy!

Nói xong, ông đi về phía góc chiếc bàn có để cái điếu cầy và cái đèn hột vịt đang cháy leo lét ngọn lửa nhỏ như hạt đậu phộng. Ông ngồi xuống chiếc ghế đẩu, chậm răi lấy b́nh thủy rót ra một ly nước trà, có lẽ c̣n lại từ hôm qua, ngụm một ngụm nhỏ, súc ọc ọc trong miệng mấy cái rồi ngửa cổ nuốt ực. Ông lại thong thả, mở nắp hộp thiếc trên bàn, véo ra một viên thuốc lào, nhét vào cái nỏ điếu cầy, ngón tay trỏ gơ nhè nhẹ trên miệng nỏ để ém thuốc xuống cho chặc. Đoạn từ tốn rút một que đóm giắt bên phên vách cho vào ngọn đèn dầu châm lửa. Tay trái ông nâng cái điếu cầy lên miệng, tay phải châm que đóm vào nỏ, miệng bập bập mấy cái cho lửa bén vào thuốc rồi rít một hơi dài, hai má hóp lại tạo thành hai cái lơm sâu hoắm. Tiếng nước trong điếu cầy long lên kêu réc réc như tiếng c̣i của công an giao thông thổi bắt xe chạy ngoài đường. Đặt cái điếu xuống bàn, ông chiêu thêm một ngụm trà nữa, rồi dựa lưng ra ghế, mặt ngữa lên mái nhà, họng hả ra cho khói thuốc bay ra chầm chậm.

Ông tơ lơ mơ sảng khoái một lúc với điếu thuốc lào đầu tiên trong ngày. Ông làm công việc này hết sức chậm răi, khoan thai, bài bản, không một chút hấp tấp hay vội vàng. Đoạn ông với tay lấy cái xắc cốt, mở ra, rút tờ báo Nhân Dân xếp tư trong đó, cầm trong tay và đứng dậy nói:
- Thôi các đồng chí cứ trao đổi với nhau đi nhé! Tôi phải ra sinh hoạt với các đồng chí công nhân đầu giờ đây!

 

(Xem tiếp kỳ 3)

 

Nguyễn Thanh Ty

Ghi chú:
Trích phần 1 của chương "Bá nghệ hảo tùy thân" trong truyện dài "Bèo nước thăng trầm" sắp xuất bản.

 

 

Trang Thơ và Truyện của Nguyễn Thanh Ty              |                 www.ninh-hoa.com