thơ & truyện Nguyễn Văn Sanh                      |                 www.ninh-hoa.com
 

Nguyễn Văn Sanh
Bút hiệu: Người XVạn



Quê tại Vạn Giă
  
Cựu học sinh trường  Trung học Vơ Tánh,
Nha Trang - 1968



Hiện cư ngụ tại:
Úc Đại Lợi

 

 

 

 

 


NỖI BUỒN MẤT MÁT 
 competition)

* Người X Vạn

 

     Tháng 5 vừa qua, Nhạc sĩ Văn Giảng (VG) tức Thông Đạt đă từ trần tại Melbourne - Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Theo Nhạc sĩ Lê Dinh th́ NS Văn Giảng sinh năm 1924 tại Huế trong một gia đ́nh trung lưu. Ông thừa hưởng năng khiếu thiên phú gia tộc về âm nhạc v́ ông nội của VG cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc rất giỏi nên ông cũng có khiếu về âm nhạc từ thuở nhỏ, nghe người ta chơi một loại nhạc khí nào là ông có thể về ṃ mẫm tự học lấy và thành công trong việc xử dụng loại nhạc khí đó. Loại đàn dễ học nhất cho mọi người là đàn mandoline, khi bắt đầu ông học đàn măng cầm và sau đó lần đến lănh vực tây ban cầm.

 

Có giai thoại, một người bạn lớn tuổi hơn ông biết đàn tây ban cầm, VG muốn tầm sư học đạo, đến nhà ông này để nhờ chỉ dạy nhưng người này bắt ông phải trả công bằng một cây đàn guitar. Lúc c̣n nhỏ làm ǵ có tiền! VG về nhà t́m ṭi tự học lấy và chỉ một thời gian sau, ông vượt qua tài nghệ của ông "thầy hụt" kia và ông này phải nhờ VG chỉ lại cho. Nhờ có biệt tài như vậy mà nhạc sĩ VG có thể xử dụng rành rẽ nhiều nhạc khí cổ kim, trở thành một nhạc sĩ tài giỏi và đào tạo rất nhiều môn sinh có tŕnh độ sau này.

 

Không những chỉ trong lănh vực âm nhạc mà thôi, nhạc sĩ Văn Giảng c̣n nổi bật trong lănh vực văn hóa. Mọi thứ, mọi việc ông đều tự học như vừa làm giáo sư âm nhạc ở Huế, ông vừa tự học để rồi sau đó lặn lội vào Saigon thi lấy bằng tú tài và bằng cử nhân. Ông tốt nghiệp Anh văn ở Hội Việt-Mỹ và trúng tuyển cuộc thi tuyển sinh viên nghiên cứu về âm nhạc ở ngoại quốc, được xuất dương du học tại trường Âm nhạc lớn của Hoa Kỳ ở Hawaii và Bloomington. Ở Hoa Kỳ, VG đă tốt nghiệp với lời khen của Ban Giám khảo và được cấp thêm học bổng để nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm Giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế.

 

Nhạc sĩ VG nổi tiếng với bài hành khúc "Lục Quân Việt Nam" ra đời vào năm 1950 mà mọi người Việt Nam, từ cậu học sinh đến anh tân binh ở quân trường cũng như tất cả quân nhân QL/VNCH đều biết. Bài hát khi được đồng ca bởi một số đông người, đem lại cho người nghe một cảm giác hăng say cương quyết, nung chí anh hùng.

 

Cũng theo NS Lê Dinh, một giai thoại khác khá lư thú như sau: Trong thập niên 1940, 1950, ở Huế ai cũng biết ông Tăng Duyệt (TD), giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế chuyên in ấn và phát hành một số nhạc phẩm ít oi của thời đó. Là nhạc sĩ, VG chơi thân với ông TD v́ một số hành khúc của ông đều do nhà xuất bản của ông TD ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông TD có ngụ ư bảo rằng nhạc sĩ VG chỉ viết được những bài hùng ca thôi c̣n về t́nh ca không phải sở trường của VG. Không cần trả lời, nhạc sĩ VG về nhà, âm thầm lấy giấy bút viết bài "Ai Về Sông Tương", đề tên Thông Đạt, một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc VN thời đó. Bản "Ai Về Sông Tương" được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon và cả nước đều nghe "Ai Về Sông Tương" của Thông Đạt.

 

Sau nhiều lần được nghe bài "Ai Về Sông Tương" quá hay trên làn sóng điện, qua các đài phát thanh, ông Tăng Duyệt gặp VG và hỏi ở trong giới nhạc, VG có biết Thông Đạt, tác giả bài "Ai Về Sông Tương" là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩm này nhưng VG tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai! Rồi một hôm có hai người bạn trẻ của VG là NS Đỗ Kim Bảng, tác giả bài "Mùa Thi" và nhà văn Lữ Hồ t́nh cờ đến nhà VG chơi và thấy bản thảo bài "Ai Về Sông Tương" với tuồng chữ và lối chép nhạc của nhạc sĩ VG trong xấp nhạc trên bàn viết nên nói cho ông TD biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà VG và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một ca khúc với thể điệu "Blues" tha thướt trong tay để mà ngân nga những khi trái tim rung động v́ một bóng h́nh nào đó. Nhạc phẩm "Ai Về Sông Tương" đă chiếm kỷ lục tái bản thời đó với 6 lần in thêm trong tháng đầu tiên và được thính giả Đài Phát thanh Pháp Á chọn là bài nhạc hay nhất trong năm 1949.

 

Sau Tết Mậu Thân 1968, cảm thấy sinh sống ở Huế bất an - ông Tăng Duyệt, bạn thân của ông đă chết trong biến cố này - nhạc sĩ VG vào Saigon lập nghiệp từ năm 1969 và ông nhanh chóng ḥa hợp với nhịp sống âm nhạc của thủ đô, soạn ḥa âm cho hăng đĩa Asia - Sóng Nhạc, dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền h́nh. Năm 1970, ông được huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống VNCH (âm nhạc loại A) với sáng tác phẩm "Ngũ Tấu Khúc" (Quintet for Flute and Strings). Cùng năm này, ông được chỉ định làm Giám đốc Nghệ thuật điều hành Đoàn Văn nghệ VN gồm 100 nghệ sĩ tân cổ nhạc và vũ, ban vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, ban vũ cổ truyền đại nội Huế do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba điều khiển, để tham dự Hội chợ Quốc tế Expo 70 tại Osaka (Nhật Bản).

 

Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1981 mới vượt biên đến đảo Natuna (Nam Dương) và sau đó được chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây, trong 6 tháng, VG sáng tác được một số bài nói lên thân phận lạc loài của người dân mất nước mà bài đầu tiên là "Natuna người t́nh đầu" cùng một số 70 ca khúc khác.

 

Ngày 20/5/1982, VG định cư tại Úc. Nơi đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách nhạc lư như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, ḥa âm, sáng tác, học hát, học đàn v.v... kể cả sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, chẳng những dành cho thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại mà cho cả người ngoại quốc muốn học hỏi và t́m hiểu về nền âm nhạc Việt Nam. Ông là một con người giản dị, khiêm nhường, không thích phô trương với một gia tài âm nhạc to lớn như thế của ḿnh ẩn náu nơi một góc trời Đông sau ngày mất nước quả thật là một người đáng kính nể, đáng tôn thượng trong làng âm nhạc Việt Nam. NS Lê Dinh kết luận.

 

Sau đó đúng một tuần lễ, phu nhân của nhạc sĩ Văn Giảng là bà Ngô Thị Bạch Đẩu cũng đă theo chồng xuống suối vàng sau khi đi rải tro chồng ra biển, trở về nhà bà bị nghẽn tim và từ trần. Hưởng thọ 85 tuổi. T́nh yêu của hai vợ chồng đă sống và chết gần như cùng lúc. Thật là một cuộc t́nh trọn vẹn và hi hữu hiếm có trên thế gian. 

 

Nay sang đề tài khác. Trong lănh vực y khoa, tại Úc, nhiều người đă được cứu sống sau khi đă qua đời đến 40 phút. Theo BS Stephen Bernard tại bệnh viện Alfred th́ kỹ thuật y khoa mới này chỉ vừa được thử nghiệm trong 2 năm qua và kết quả rất lạc quan nên ông hy vọng sắp tới sẽ có thể phát triển đến các bệnh viện khác ở Victoria.

 

Bệnh viện Alfred ở thành phố Melbourne - Úc đă dùng 2 phương pháp y khoa mới cứu sống được 3 nạn nhân xác nhận là đă qua đời trước đó. Một trong ba nạn nhân trên là ông Colin Fieldler, 39 tuổi ở thành phố Melbourne bị nhồi máu cơ tim và đă yêu cầu nhân viên cấp cứu chở đến bệnh viện Alfred. Thật may mắn cho ông v́ đây là nơi duy nhất áp dụng kỹ thuật mới trong việc hồi phục nhịp tim đập bằng cách sử dụng một máy hô hấp tự động liên tục trên vùng ngực cùng lúc với máy bơm khí oxygen vào tim và phổi để giữ sinh khí cho các phần nội tạng.

 

 Trong lúc đó th́ các bác sĩ chỉ tập trung vào phần điều trị cho tim đập lại. Nhờ vào phương pháp này, ông Fiedler đă sống lại sau khi tim ngừng đập 40 phút. Chuyện này xảy ra cho ông Fiedler vào tháng 6 năm ngoái tức đă gần một năm qua. Từ đó đến nay có thêm 7 người tại bệnh viện Alfred được cứu sống sau khi đă thật qua đời từ 40 đến 60 phút nhờ dùng cách trên. Vận động viên bơi lội Clara Carney cũng là một trong những người may mắn này. Ông Fiedler tâm sự rằng sau khi hồi sinh ông rất biết ơn các bác sĩ ở đây và quư trọng cuộc sống nên ông đă bỏ hẳn hút thuốc và không c̣n để những chuyện nhỏ trong đời gây căng thẳng vướng bận cho ông nữa.

 

Để kết hợp 2 phương pháp mới này, BS Bernard cho biết bệnh viện phải luôn luôn có 3 bác sĩ kinh nghiệm về hồi sức túc trực và máy móc th́ sẵn sàng trong tư thế hoạt động bất cứ lúc nào. Hiện nay chỉ có 3 máy tại bệnh viện Alfred và công ty chế tạo máy này đang chuẩn bị để sản xuất thêm.

 

Về vụ anh Nick Vujicic, người Úc - là một thanh niên không tay, không chân đă đến Việt Nam nói chuyện đời về ư chí và nghị lực của một con người bị tàn tật hoàn toàn và cảm nhận của anh sau 2 ngày ở đất nước VN. Cuộc nói chuyện của anh đă gây nhiều tranh luận kẻ bênh người chống. Nhưng trước hết chúng ta hăy nghe những suy nghĩ của anh qua cuộc phỏng vấn với hăng thông tấn xả Vỉa Hè ở VN để có thể t́m hiểu sự kiện một cách khách quan.

 

Khi hỏi anh thấy ǵ và cảm nhận ǵ sau 2 ngày ở đó, anh cho hay chẳng thấy ǵ ngoài dây điện và đầu người. VN thật dễ chịu với sự cuồng nhiệt. Anh bảo anh đă chứng kiến những giọt nước mắt ở khắp nơi trên thế giới, nhưng không ở đâu người ta khóc khi đi xem xiếc thú cả. V́ anh là người tàn tật hoàn toàn nên anh nh́n thấy sự ṭ ṃ trong mắt nhiều người. Trong chương tŕnh của anh ở khắp nơi trên thế giới, anh đồng ư để những người khuyết tật được ôm ḿnh, để họ cảm nhận bằng xương bằng thịt ư chí và nghị lực. Nhưng ở đất nước VN, rất nhiều người lành lặn chỉ muốn đến gần để chụp ảnh với anh như chụp ảnh với ngọn tháp Eiffel. Hơn nữa, anh không thích việc nhiều người đến chỗ cái bàn của anh, cúi người và định… xin lỗi. Bởi điều mà một người không chân tay như anh muốn nói với họ là các bạn hăy đứng trên đôi chân của ḿnh và đừng bao giờ cúi đầu. Khi người ta đă cúi đầu có phải là người ta sẽ phải gập gối không?

 

Hỏi về lư do tại sao anh lại có ư tưởng nói chuyện với giới doanh nhân Việt. Anh cho hay ban đầu anh chỉ định tiếp xúc với sinh viên và khoảng 9,000 trẻ em đường phố. Nhưng sau đó, phía VN đề nghị anh tiếp xúc với giới doanh nhân. Họ đưa ra số liệu là hàng trăm ngàn doanh nhân phải bỏ trốn, tự tử, hoặc vào nhà thương điên. Họ nói doanh nhân Việt giờ c̣n tuyệt vọng hơn những người khuyết tật. Và v́ thế anh đồng ư nói chuyện và chủ đề đưa ra là “Đừng bao giờ bỏ cuộc”. Nói thật, anh không tin việc cứ lao đầu vào rọ là một giải pháp khôn ngoan. Nhà giàu tuyệt vọng nguy hiểm hơn nhà nghèo, bởi người ta sẽ bị "sốc" nặng và suy sụp rất nhanh khi không quen với sự tuyệt vọng. Anh nghĩ sự tuyệt vọng nào cũng cần được giúp đỡ, nhất là sự tuyệt vọng của những người b́nh thường. Anh tin là anh có đủ kinh nghiệm thương trường để nói chuyện và thuyết phục giới doanh nhân Việt? Câu đầu tiên mà anh nói với họ là các bạn hăy nh́n xem: “Tôi đă kiếm được 1,6 triệu USD ở một đất nước đang suy thoái kinh tế. Hăy t́m mọi cơ hội trong mọi hoàn cảnh”.

 

Được hỏi sao số tiền trả cho anh trong vài buổi diễn thuyết lại lớn đến thế? Anh bảo chắc quư bạn cho là đắt?! Anh nói cựu tổng thống Mỹ từng được trả 750 ngàn dollar cho một bài diễn thuyết ở Hồng Kông, nhưng bài diễn thuyết đó không thể truyền niềm tin và nghị lực sống. Hơn nữa, cứ 4 năm, hoặc cùng lắm là 8 năm nước Mỹ lại cho ra đời thêm một diễn giả, trong khi trên thế giới chỉ có một Nick. Anh cho là anh có giá hơn Bill (Clinton) bởi v́ anh không đứng diễn thuyết bằng chân. Anh bảo các bạn thấy đó, tôi cũng không có tay. Nhưng liệu ai có thể mở ch́a khóa trái tim và niềm tin bằng tay bao giờ.

 

Được hỏi ở VN cũng có những người khuyết tật nhưng sao họ lại không thể thành công như anh? Anh bảo rằng nếu anh ở VN có lẽ anh cũng sẽ phải lê la đầu đường xó chợ nào đó bởi các ṭa nhà và phương tiện công cộng ở VN thật khủng khiếp đối với người khuyết tật.

 

Nhưng khi được hỏi tại sao anh đă khuyên các bạn trẻ hăy học tập gương "Uncle Hồ"? Anh cho đây là bí quyết kinh doanh mà đáng lẽ anh không nên chia sẻ. Đại khái là mỗi khi đến một quốc gia nào đó anh thường nh́n vào tờ giấy bạc. Tờ giấy bạc in h́nh của ai anh chắc chắn sẽ t́m hiểu về người đó. Có người nói với anh ở VN đang có phong trào học tập "tấm gương đạo đức" của người có chân dung trên tờ giấy bạc và anh nghĩ nếu nói điều ǵ về lănh tụ của họ có lẽ họ sẽ thích. Ví dụ như nếu sang Bắc Triều Tiên, anh sẽ nói với họ cần học tập theo gương Kim Chính Nhật, Kim Chính Vân v.v...

 

Khi hỏi anh sẽ c̣n trở lại Việt Nam? Anh trả lời "Có lẽ là không. Tôi đă nh́n thấy sự thất bại của ḿnh. Thần thánh ǵ cũng không thể truyền niềm tin và nghị lực cho những người bại năo mà không biết ḿnh bại năo".

 

Đó là những câu trả lời của anh Nick. Về phần những người không đồng ư với anh ta th́ họ cũng có những nhận định riêng.

Trong bài viết Chuyện bạn tôi và chuyện đất nước của một tác giả nọ, ông ấy viết: "Hôm nay người tàn tật nổi tiếng nhất hành tinh - Nick Vujicic được chính quyền cho nói chuyện với nhân dân về khả năng và nghị lực vượt lên chính ḿnh. Tự nhiên họ nhớ đến câu chuyện của bạn bè c̣n lại ở VN. Ở nước Việt hiện tại đâu thiếu những tấm gương đáng kính để làm cho thế hệ trẻ noi theo. Sao không lấy nó làm h́nh ảnh cho cuộc sống mai sau. Có phải v́ những tấm gương ấy đă không c̣n phù hợp với mục đích dân vận?"

 

Nick Vujicic được tiền hô hậu ủng được thuê giá hơn 30 tỷ đồng Việt Nam tương tương 1,5 triệu đô la chỉ 3 ngày đến nói chuyện ở Việt Nam để làm công tác dân vận chỉ lối doanh nhân Việt bằng tinh thần ông Hồ, th́ họ cũng thấy rợn người cho cái kiểu kiếm tiền vô nhân đạo của Nick Vujicic. Họ cho rằng cậu Nick Vujicic kiếp này bị không tay không chân, tật nguyền là do quả báo của kiếp trước. C̣n với những kẻ đă bỏ tiền ra thuê Nick để làm công tác dân vận trong khi kinh tế suy sụp, nhân dân đói khổ để làm chuyện mà đảng cầm quyền đă không c̣n ḷng tin ở dân nữa, th́ quá nhẫn tâm và đừng ḥng có một tương lai tử tế. Hăy chống mắt mà xem. Trời luôn có mắt."

 

Đó là lời kết luận của một người không đồng ư với chuyến đi nói chuyện của người hoàn toàn tàn tật Nick Vujicic./-

 

 

 

 

 

 

 

* NXVẠN

 (Úc Châu)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 thơ & truyện Nguyễn Văn Sanh                       |                 www.ninh-hoa.com