Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG            |                 www.ninh-hoa.com


LIÊN KHÔI CHƯƠNG


Cựu học sinh
các trường Trung học:
 

* Bán Công:
Đệ Thất-Tứ, NK. 1961-1965

* Trần B́nh Trọng:

Đệ Tam-Nhị, NK. 1965-1967

* VT/NT: Đệ Nhất (67-68)
* TTPT/SG : HH/PT(68-70)

 



Hiện sinh sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ


 

 

 

 

 

 

NGỤY BIỆN
Là PHƯƠNG TRẬN

Liên Khôi Chương

 

  

 

Lời nói đầu: Bài viết được tổng kết từ nhiều email các niên trưởng và bạn bè gởi đến, được viết bởi Phan-nhật-Nam, Nguyễn-văn-Tín, Tướng Ngô-quang-Trưởng, Tướng Nguyễn-ngọc-Sang, Mũ xanh Pham-văn-Tiến và Vương-hồng-Anh, tôi nhận định  theo quan điểm cá nhân mà viết lên bài.   LKC 

 

 

PHẦN 1:

 
 
Đây là cách thức tŕnh bày quan điểm cá nhân hay tập thể để chứng minh và dẫn giải một sự thât, hoặc chỉ biện minh việc làm của ḿnh không có sự sai. Ngụy biện không hẳn là nói dối mà để tŕnh bày dẫn giải tạo niềm tin đối phương, nhưng trong "ngụy biện" lại mang nhiều điều không thực tế, do đó "ngụy biện như một "phương trận" trong bài toán đại số để t́m trị số của "x", vậy "x" có thể là "+x" hoặc "-x" tùy người nghe "chấp nhận" hay không "chấp nhận".

 

 Do đó... . Ông Nguyễn-văn-Tuấn phân tích:
1. -Ngụy biện tấn công cá nhân (ad hominem): Là một thói ngụy biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại, v́ công chúng thích nghe chuyện đời tư cá nhân hơn là động năo suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân.
2. -Nguỵ biện ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói ngụy biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Như cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là “conventional war”, mà nếu dùng nó để giết người th́ phải xem đó là tội phạm, chứ không phải là "tội phạm chiến tranh". Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được.
3. - Thói ngụy biện hay thấy ở người Việt là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là “dốt”).
4. -Thói ngụy biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng th́ t́nh h́nh cũng thế”, và hàm ư là “t́nh h́nh tồi tệ hiện nay là chấp nhận được”.
5. -Ngụy biện do sự lười biếng suy nghĩ. Những người lười suy nghĩ thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ th́ họ cho là “phản động”.
6. -Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay v́ lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay v́ thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ không rơ ràng nhằm mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay v́ cung cấp cho họ một sự thực.
 Qua nhận xét ở phần 6 chúng ta thấy:"ngụy biện" và "biện chứng" như tương đồng nhưng thực ra có khác.
 a. -Ngụy biện chỉ nhầm để lôi cuốn người nghe/đọc. 1/ngụy biện tấn công. 2/ngụy biện ví von bất xứng. 3/ngụy biện thiếu bằng chứng. 4/ngụy biện đảo ngược điều kiện. 5/ngụy biện hồ đồ, cố chấp do những người lười biếng suy nghĩ.

 Tất cả những loại ngụy biện này chỉ nhầm để tấn công, do đó có nhiều chỗ hở trong lời "ngụy biện".
 b. -Biện chứng th́ cần có một sự thực để chứng minh.


 Trong tháng 4/2015 chúng ta đều có nhận nhiều email liên quan đến TT Thiệu với cách "ngụy biện tấn công cá nhân" là "Mỹ phản bội Đồng-Minh" và "QĐ/VNCH bắn hết đạn mà thua".
 Theo phỏng vấn năm 1979 kư giả Đức Spiegel có một câu hỏi:

- Có vấn đề bịp trong Hiệp định Paris không?
 Kư gỉa Đức hỏi, "Ông biết nhiều vấn đề hơn Mỹ, trong Ḥa đàm Paris có sự bịp trong đó, mà VNCH vẫn bằng ḷng kư Hiệp định Paris ngày 27/01/1973 ", v́ Ông biết "con bài tẩy" Mỹ không bao giờ lật lên.
 Ông Thiệu không trả lời và chuyển sang Hành quân Hạ Lào Lam-Sơn 719.
 Hành quân LS-719 (từ 8/2/1971 đến 25/3/1971) là cuộc hành quân có giới hạn thời gian, do TTL/QĐ/VNCH Nguyễn-văn-Thiệu ra lệnh, QĐ/Mỹ không tiến qua Hạ-Lào nhưng trực thăng Mỹ phụ trách tải thương QĐ/VNCH.
 Trước khi hành quân TT Thiệu có lệnh "Khi quân số tổn thất gần 3.000 th́ rút quân ".
Kư gỉa Đức Spiegel hỏi:" thế nào để biết chết 3.000 quân th́ rút quân, có phải Ông ra lệnh không?".
Ông Thiệu trả lời : TL/chỉ huy chiến trường biết và tự họ hành động.
Kư gỉa Đức: Hoa-Kỳ cho biết, cuộc rút quân VNCH không cho Mỹ biết.
Ông Thiệu : Rút 10.000 quân như vậy Mỹ phải biết, cần ǵ phải thông báo, v́ đây là cuộc hành quân của QĐ/VNCH.
 Như thế HQ/LS-719 trong đợt rút 7.000 quân không có trực thăng Mỹ trợ giúp tải thương, việc tải thương hoàn toàn do QĐ/VNCH đảm nhận.
 Đây là đ̣n bịp giữa Mỹ và TT Thiệu nhầm che mắt nhóm phản chiến ở Hoa-Kỳ, nhưng Ông Thiệu được phần lợi hơn ở chỗ: "số thương vong trong lần rút lui này đều đổ vạ do máy bay B-52 Mỹ bom chết. Dù rằng thực tế không là thật, nhưng quân nhân tham gia cuộc chiến đều tin do B-52 bom chết. Đây là lối "ngụy biện không bằng chứng" c̣n gọi là "ngụy biện ignorance", v́ Ông Thiệu biết "con bài tẩy" Mỹ không bao giờ lật lên: Đó là TT/Đệ II VNCH.
-Ông Thiệu dựa trên số quân nhân tham tử thương tuyên truyền máy bay B-52 bom chết đồng đội, dù rằng trong có cả VC.

-Thứ nữa là Ông Thiệu hy vọng sẽ tiếp tục lănh đạo CĐ/VNHN.
V́ Thiệu đang giữ 16 tấn vàng, cuộc phỏng vấn 1979 là mối chốt khởi điểm lôi cuốn các thế lực chống cộng tin rằng Ông Thiệu có thế lực làm lại cuộc cách mạng, Thiệu nhờ hồng ân này nên bày tỏ ư định lập lực lượng giao lưu với CSVN t́m giải pháp ổn định ḥa b́nh cho Việt-Nam, trong 20 năm đầu (1975-1995) sống tại hải ngoại. Thiệu cố gắng trong vấn đề này, năm 1981 có người từ Pháp sang Dallas-TX nói cùng đảng viên: "các anh phải giúp Tổng Thống để Ngài lấy công chuộc tội", rơ ràng Ông Thiệu được sự tín nhiệm các chính trị gia MNVN.
Buồn cười và mỉa mai. . đúng hơn là phiền năo cho loại chính trị vong bản này nằm, đă biết Thiệu có tội rồi mà c̣n kêu gọi đảng viên ủng hộ, họ là những người Việt yêu nước ở Pháp và Canada, họ theo Thiệu chống cộng bởi 16 tấn vàng Thiệu đang có, bởi lời nói trơ trẽn "để ngài lấy công chuộc tội", chính lời nói này làm cho Thiệu thất bại, dù rằng Ông ta đă từng là Viện trưởng Học viện Quốc Gia Hành Chánh. Sau 20 năm (1995) chính quyền CHXHCNVN mới công khai 16 tấn vàng trên được nhà nước chuyển sang LBXV cất giữ, như thế ta thấy Thiệu đă "bịp" nhóm trí thức hải ngoại, v́ không nói lời thực mà c̣n bày tṛ: "Lợi dụng an ninh phi trường Canada kiểm soát Tướng Quang, v́ ăn cắp tài liệu mật "Đệ II/VNCH" trốn chạy qua Canada.


 Thế mà vẫn có người minh oan cho Thiệu là trong sạch, là người chịu nhiều nỗi hàm oan trong suốt 20 năm đầu ở hải ngoại và Thiệu vẫn được ḷng tin của Người Việt Hải Ngoại, v́ ngụy biện là phương trận, có nhiều chi tiết sẽ bị đánh tráo trong "ngụy biện cá nhân", nên chúng ta cần rơ ràng hơn trong những trận chiến có Thiệu trực tiếp điều động như:
 Chiến dịch Lam-Sơn 719 bị sa lầy, hành quân chấm dứt kết thúc ngày 25/3/1971, SQ/PVCT Phan-nhật-Nam ghi nhận : Một Thiết Đoàn Kỵ Binh; một Liên Đoàn Biệt Động Quân; một sư đoàn bộ binh hàng đầu của quân lực; hai đơn vị tổng trừ bị quốc gia: Sư Đoàn 1 Bộ Binh; Sư Đoàn Nhảy Dù; Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đồng bị đem làm vật thí nghiệm cho những “chiến lược gia hạng ba, hạng tư”, những tướng lănh bất tài, vô dụng. Lẽ tất nhiên không thể không kể những viên “tướng” gọi là “Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia; Chủ Tịch Hội Đồng Quân Lực; Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Quốc Gia; Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; Bộ Trưởng Quốc Pḥng; Tổng Tham Trưởng. ” Những kẻ xây dựng “công danh” trên máu xương Người Lính – của rất nhiều Người Lính. (PNN).


 Song song với HQ/LS-719 tại chiến trường Campuchia, sau ngày Tướng Đỗ-cao-Trí tử nạn máy bay (ngày 23/2/1971).

 

 Bắt đầu ngày 8/3/1971 VC pháo kích tấn công Thiết đoàn 9 đóng tại Snoul-Campuchia, bối cảnh cho thấy HQ/LS-719 thất bại đợt đầu, giữa cuối tháng 2/71 đến đầu tháng 3/71 và cuộc triệt thoái 7.000 quân tạo thế VC pháo kích tấn công Snoul.

 Như thế giữa HQ/LS-719 và trận chiến Snool-Campuchia có liên hệ mật thiết với "con bài tẩy", hắn điều quân làm rối loạn quân t́nh HQ/LS-719 và tạo thế để VC bao vây Thiết đoàn 9 tại Snoul-Campuchia.

 Sự trở về Tướng Đỗ-cao-Trí từ Pháp về VN và ngày 4/1/71 chiến dịch "điệu hổ ly sơn bắt đầu" cho thấy : thời điểm này là lúc Mỹ đề nghị với TT Thiệu "mở cuộc hành quân sang Hạ Lào".
 Trong bài phỏng vấn kư gỉa Đức ghi nhận: Mỹ có đề nghị lên TT Thiệu nên có cuộc hành quân sang Hạ Lào như thế trận ở Campuchia, Thiệu trả lời: "kế hoạch tôi đă có từ lâu, nay Mỹ đề nghị nên tôi quyết định Chiến dịch Lam-Sơn 719.

 Như thế chúng ta thấy rơ HQ/LS719 chỉ có 1 tháng chuẩn bị (từ ngày 4/1/1971đến ngày 8/2/1971).


 Những ngày đầu tháng 2/1971 miền Bắc có vài nơi xuống tuyết, thời tiết này bất lợi cho QĐ/VNCH), trong thời tiết này :
1. -HQ/LS-719 gây nhiều bất lợi cho QĐ/VNCH, như 3.000 quân hy sinh đầu được thấy rơ có sự chỉ đạo của Bọn nằm vùng.
2. -Triệt Tướng Đỗ Cao Trí để khỏi gây bất lợi cho VC ở Campuchia. Đây là kế hoạch cho VC mở màng tấn công Snool-Campuchia và Quảng-Trị năm 1972.

 V́ biết kế hoạch hành quân sang Hạ Lào của Mỹ mục đích để giải vây Khe Sanh, nên TT Thiệu tự nhận ḿnh đă có kế hoạch và chỉ 1 tháng chuẩn bị, thấy rơ HQ/LS-719 dễ bị thất bại, sau đợt hy sinh 3, 000 quân và rút lui 7, 000 quân làm trận thế hổn loạn, TT Thiệu đề cử Tướng Trí làm TL/HQLS-719 thay Tướng Hoàng-xuân-Lăm, ngày 23/2/1971 là ngày thị sát mặt trận Campuchia cuối cùng để bàn giao t́nh h́nh cho TL mới nhưng cũng là ngày cuối cùng của Tướng Đổ-cao-Trí. TT Thiệu đúng là tướng tài giỏi trong kẻ thù bí ẩn của QĐ/VNCH.

 Nh́n lại cuộc rút quân "Bảo toàn lưc lượng" của TT Thiệu trong tháng 3 và 4/1975 đem so sánh với cuộc rút 7.000 quân của HQ/LS-719 năm 1971 có cùng một chiến thuật tạo nhiều lợi thế cho VC:

-Ngày 10-3-1975 QĐ/Bắc Việt chiếm Ban-mê-Thuột.

-Ngày 12-3-1975 TT Thiệu, TT Khiêm và Tướng Quang họp tại Dinh Độc Lập, TT Thiệu quyết định rút quân khỏi Ban-mê-Thuột.

-Ngày 13/3/1975 gọi Tướng Ngô-quang-Trưởng vào Dinh Độc-Lập Thiệu lệnh: "Quân Đoàn I rút quân đêm ngày 13/3/1975, Quân Đoàn II sẽ rút quân ngày 14/3/1975, nhưng Tướng Trưởng cương quyết ở lại chống giữ Vùng I, nên Thiệu đành chấp nhận. Lực lượng Quân Đoàn I bố trí lực lượng pḥng thủ vững chắc măi đến ngày 22/3/1975 TT Khiêm ra thuyết phục Sĩ quan QĐ I làm áp lực, nhưng không thành công, điều này cho thấy sự đồng tâm QL/VNCH với cấp chỉ huy, nhưng cuối cùng đành phải bỏ vùng I Chiến Thuật.
-Đêm ngày 22/3/1975 Tướng Ngô-quang-Trưởng được đưa lên tàu HQ 404 cùng 2 Lữ đoàn TQLC, riêng Bộ tham mưu QĐ I rời bỏ Đà-Nẵng trên một chiếc tàu hải quân khác về Saigon và bị giam lỏng tại Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH.
-Những ngày tiếp theo... Tại bờ biển Thuận-An Pháp trường cát để QĐBV bắn chết hầu hết toàn bộ LĐ. 147/TQLC.
-Tối 24/3/1975, Bộ Tư Lệnh TP/QĐI ra lệnh cho LĐ. 147, trang bị nhẹ, đoạn chiến với những Sư đoàn của CSBV để di chuyển về tập trung tại cửa biển Thuận An. Vùng biển nước này được bảo vệ bởi 2 duyên đoàn và một giang đoàn, những 3 đơn vị này đă rút đi trước khi LĐ. 147 tới cửa Thuận An. Hải quân rút đi trước ngày 24/3/1975 nên quân truy kích của CSBV vượt qua Phá Tam Giang dễ dàng đến cửa Thuận An bao vây và tấn công LĐ 147/TQLC.
-Sáng 25/3/1975, trong khi LĐ. 147 dừng quân tại băi biển, trật tự an ninh c̣n tốt, nhưng chiếc LST 801 và một đoàn 5 chiếc LCM không một chiếc tầu nào vào đón TQLC ! Lư do ? Phải là một chỉ huy cao cấp của Hải quân/VNCH được lệnh thượng cấp. Ai ra lệnh này ? Con bài Tẩy ?---Đêm tối 25/3/1975, QCSBV bao vây LĐ. 147/TQLC. Cuộc “tàn sát” kéo dài từ chiếu tối 25/3/1975 tới rạng sáng 27/3/1975 th́ toàn bộ Lữ Đoàn 147 bị giết c̣n lại một ít bị chúng bắt ! Vậy ai đă ra lệnh từ Bộ Tư Lệnh TP/QĐI ?


Theo bài viết của Mũ xanh Phạm-văn-Tiến Arlington-TX (1999) viết:-Ngày 22/3/75, đoàn xe tiếp tế cuối cùng của đơn vị rời hậu trạm Máng Cá Huế vào vùng hành quân. Chúng tôi được biết hầu hết dân chúng đă di tản vào Đà Nẵng và hậu trạm cũng được BTL/SĐ mang tất cả trang thiết bị về cửa biển Thuận An chờ lệnh. Tôi chỉ thị cho các đại đội thu gọn lại các trang bị và phải gấp rút di tản các thương bệnh binh đi theo chuyến tiếp tế này.
-Ngày 23/3/75 vào lúc 3 giờ chiều, VC đồng loạt pháo kích dữ dội vào tất cả các vị trí, địch từ thượng lưu sông Bồ, xung phong tấn công vào các tuyến của ĐĐ2/TĐ5/TQLC. nên 2 Trung đội tận cùng cánh trái của đại đội này bị bung tuyến. Tôi (MX/PVT) liên lạc với Đại-Úy TrầnVăn Loan ĐĐT hăy cố gắng gom con cái lại và chỉnh đốn đội h́nh, đồng thời báo cáo t́nh h́nh này về BCH Lữ đoàn. Đại Tá LĐT ra lệnh là phải bằng bất cứ giá nào cũng phải chiếm lại vị trí vừa mất. Chấp nhận mọi hy sinh thiệt hại, ĐĐ4 của Đại Úy Nguyễn Văn Hai được tăng cường và đă hoàn tất nhiệm vụ vào lúc 6 giờ sáng ngày 24/3/75. Cũng trong thời gian này, hầu hết tất cả các đơn vị Biệt Động Quân, Địa Phương Quân tự động ră ngũ bỏ tuyến pḥng thủ Bắc Quảng Trị kéo về Huế thật hỗn độn. Thị xă Quảng Trị coi như bị bỏ ngỏ hoàn toàn. Tiểu đoàn 4/TQLC được điều động về làm nút chặn tại phía Nam cầu An Lỗ. Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, nhận được lệnh về tham dự cuộc họp khẩn cấp tại BCH/LĐ và nhận nhiệm vụ phải thi hành đêm nay "một cuộc di tản chiến thuật cho tất cả các lực lượng về cửa biển Thuận An", vùng đất từ Bắc đèo Hải Vân trở ra rồi sẽ lọt vào tay địch… Cũng như thành phố Quảng Trị bị vất bỏ một cách vô tội vào sáng hôm nay khi chỉ có một vài loại pháo kích lẻ tẻ đâu đó. Thế là hết.


Cuộc lui binh trong bí mật, bất ngờ. Tất cả vũ khí nặng, cồng kềnh như 90 ly, súng cối 81 ly, hỏa tiển TOW chống chiến xa, đạn dược và những trang bị nặng nề được lệnh phá hủy tại chỗ hay ném xuống ḍng sông. Đến tờ mờ sáng th́ toàn thể đơn vị đă có mặt bên này phá Tam Giang mênh mông. Ăn vội ít cơm ở bao gạo xấy c̣n lại, trong chớp mắt chập chờn, tiếng la khóc, than van c̣n măi ám ảnh trong trí tôi trên đường rút chạy sáng hôm nay. Cuộc đời khổ đến thế là cùng! Tỉnh giấc khi có lệnh cho đơn vị chuẩn bị ra bải bốc để lên tàu.


 Đó là khoảng 2 giờ trưa ngày 25/3/75. Cả Lữ Đoàn tập họp trên băi cát trắng xóa theo thứ tự sẵn sàng như một cuộc hành quân đổ bộ ngày nào. Đâu phải chỉ việc sắp hàng chờ lệnh lên tàu là xong, địch đă rượt theo ta đêm hôm qua, đă ṃ sát đít chúng tôi sáng hôm nay, địch đă có mặt bên kia bờ phà, địch đă trà trộn trong đoàn quân. Theo lệnh của mặt trời Papazulu (Trung Tướng Lâm Quang Thi, TLP/QĐ1), chiếc HQ-801 dành riêng cho TQLC đă chực sẵn cách bờ khoảng 50m. (Mũ xanh Phạm-văn-Tiến).


 Như thế chúng ta thấy: Chính Tướng Lâm-quang-Thi, TLP/QĐI ra lệnh Bộ Tư Lệnh TP/QĐI/ LĐ. 147, trang bị nhẹ, đoạn chiến với những Sư đoàn của CSBV để di chuyển về tập trung tại cửa biển Thuận An.

 

 C̣n quân đội ở Quảng-Trị tự động bỏ tuyến là do Ai chỉ thị ? Có phải sự điều quân do "con bài tẩy" tạo thế thuận lợi cho VC không ? Đây là kế hoạch đổ vạ lên đầu Tướng Lâm-quang-Thi rút TQLC về Thuận-An.

 

Chiến thuật này Thiệu vừa áp dụng cho Tướng Ngô-quang-Trưởng trong ngày 13/3/1975 lệnh Tướng Trưởng phải rút quân trước rồi Tướng Phú sẽ rút quân ngày 14/3/1975, lối đổ vạ của "con bài tẩy" lên đầu Tướng Trưởng (ngày 13/3/1975, vùng I rất b́nh yên) hèn nhát tự động bỏ Vùng I để tránh tại tiếng cho Tướng Phú cũng như tiếng tâm của Thiệu, đây là tṛ "bịp" của Thiệu, hành động lập đi lập lại của Thiệu làm lộ ra một tên Viêtcong nằm vùng.

 SQ/VNCH có thấy không ? Trí thức VNCH ở hải ngoại có thấy không ? công dân Mỹ gốc Việt trong bộ máy chính quyền Hoa-Kỳ có thấy không ? mà cứ cố chấp vạ lổi cho Mỹ là "Phản bội Đồng Minh".
-Ngày 29/3/1975 Đà-Nẵng thất thủ, Tàu HQ 404 đang hải hành th́ TT Thiệu ra lệnh Tướng Trưởng trở về tái chiếm Đà-Nẳng. Đây là lời của Tướng Trưởng, rơ thực Nguyễn-văn-Thiệu trực tiếp chỉ huy trận chiến, vậy con bài tẩy là ai ?

-HQ 404 đến Cam-Ranh, TT Thiệu lại ra lệnh một ḿnhTướng Trưởng về Saigon tŕnh diện. Tướng Trưởng trả lời :" Tôi phải ở lại cùng anh em chiến sĩ chiến đấu đến cùng, có về Saig̣n th́ về chung, tôi không về một ḿnh".
 Những ngày kế tiếp chúng ta đều biết điều động QĐ/VNCH dều do TTL/QĐVNCH Nguyễn-văn-Thiệu chỉ huy:
-Ngày 2/4/1975 TT Thiệu ra Phan-Thiết nhận tàn quân từ Vùng I và Vùng II về bàn giao cho Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, viên tư lệnh Quân Đoàn IV vừa bị mất chức bởi tội tham nhũng mấy tháng trước".
-Ngày 5/4/1975 TT Khiêm từ chức kể như giải tán Nội Các. Thủ Tướng mới Lê Bá Cẩn thành lập Nội Các mới Nghị viên Trung tướng Trần Văn Đôn làm Bộ trưởng Quốc Pḥng, kể từ ngày này TT Thiệu nắm toàn quyền điều khiển quốc gia.
-Ngày 6/4/1975 TT Thiệu lệnh Tướng Nguyễn Văn Hiếu về Dinh Độc Lập. Ra lệnh khẩn bàn giao chức Tư lệnh tiền phương QK III cho Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.
-Sáng ngày 8/4/1975, Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 23 rời bỏ Ban Mê Thuột tháng trước đây, được chỉ định chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III mang một số lính thân tín từ Quân Đoàn II đến thay thế toán quân cảnh an ninh gác bộ tư lệnh QĐ. III. (Rơ ràng Thiệu có kế hoạch để triệt hạ chủ lực toàn QK/QĐ III), các SQ/QĐ/VNCH có nhận ra âm mưu này không ?)
-Trưa ngày 8/4/1975 Tướng Hiếu bị ám sát. (trách nhiệm Tướng Tường, chỉ huy Tướng Nghi, kế hoạch Tướng Thiệu. LKC).

 Sau ngày 8-4-1975 QCS/Bắc Việt tấn công ào ạt thị xă Xuân-Lộc Long Khánh bị QĐ/VNCH anh dũng mănh liệt chận đứng không thể tiến quân.

-Ngày 18 và 19/4/75 cộng quân thất bại thảm khốc ê chề.

-Ngày 21/4/1975 TT Thiệu từ chức làm náo loạn ḷng dân, Xuân Lộc Long Khánh thất thủ, kể như QK III sắp mất về tay địch.
-Ngày 25/4/1975 Thiệu-Khiêm-Quang rời VN đi Đài-Loan. Từ ngày này 3 người họ đều là đào binh.
-Ngày 28/4/1975 Thiệu viết thư cho TT Mỹ Gerald R Ford yêu cầu viện trợ 1 tỷ đô-la quân viện (youtube 30/4 ở phút 28 đến 35 rơ chi tiết).
Thiệu đă là đào binh mà vẫn lấy tư cách TT/Đệ II VNCH yêu cầu Mỹ viện trợ 1 tỷ đô-la quân viện và thề : "lấy danh dự bảo đảm, nhân dân MNVN sẽ hoàn trả món nợ này với bất cứ lăi suất nào Hoa-Kỳ muốn", đúng là lời thề của một đào b́nh mà không một ai nhận thấy là những lời "ngụy biện bịp bợm", lấy danh dự một tên đào binh vay nợ để nhân dân Việt Nam chịu trách nhiệm, thế mà vẫn c̣n nhiều người lầm tưởng Thiệu là TT/Đệ II VNCH.

 Mỉa mai cho nhóm trí thức mê muội, bởi lư do này tôi không viết TT Thiệu mà chi viết TT Thiệu (tiểu tốt Thiệu, một lính đào binh).
 Đó là diễn tiến cuộc rút quân "bảo toàn lực lượng "của Thiệu, những ai thật là SQ/QĐ/VNCH sẽ nh́n thấy chính TT Thiệu mở đường cho bộ đội Bắc-Việt tiến vào Sai-G̣n làm sụp đổ Việt Nam Cộng Ḥa, thế mà có người bảo tôi là đồ phản bội và "ngụy biện ngây ngô":"Hồ-chí-Minh có lỗi tầy trời, VC c̣n bao che ông ta, c̣n anh lănh tụ của ḿnh anh lại bôi bác gọi ông ta là " kẻ nằm vùng, có phải anh làm lợi cho CS không" ? Câu hỏi rất ngộ nghĩnh, cách này là lối "ngụy biện đảo ngược điều kiện ", người không là quân nhân cũng thấy được.


 Để thêm chi tiết chúng ta nghe bài viết của Tướng Nguyễn-ngọc-Sang TL/SĐ6QK yểm trợ chiến trường vùng Tây-Nguyên, sau ngày bàn giao tàn quân từ Vùng I và Vùng II cho Tướng Nguyễn-vĩnh-Nghi ngày 2/4/1975, Tướng Sang trở thành phụ tá Tướng Nghi ở lại Phan-Rang trách nhiệm pḥng tuyến đầu của MNVN, c̣n Tướng Nghi trở về nhận bàn giao chức TLTP/QĐ III thay cho Tướng Nguyễn văn-Hiếu,. Tướng Sang bị VC bắt ngày 16/4/1975 và ở tù đến ngày 11/2/1992, 17 năm trong trại tù, là người tù QĐ/VNCH cuối cùng của "trại tù cải tạo" viết:
"Ông vẫn c̣n nhớ như in trong cuộc họp tham mưu tại văn pḥng tướng Phú, cú điện thoại gần như độc thoại từ đầu dây bên kia và phía đầu dây bên này chỉ có những độc âm…dạ, dạ, dạ, …rồi ngưng, không kịp để phát thêm một lời xin giải thích và nhu cầu thời gian cho một cuộc di tản chiến thuật vô tiền khoáng hậu. Mặt buồn như người đưa đám, người tư lệnh cấp cao hơn ông (Tướng Phú) chỉ đạo các đơn vị tự lo lấy phương tiện chuẩn bị băng qua con lộ 7, mà mấy ngày sau thành tử lộ trên đường rút về Tuy ḥa, một thị trấn gần Nha Trang, nơi chưa đầy một tuần trước ông Thiệu và đoàn tùy tùng có cả đại tướng Cao Văn Viên đă có mặt tại đây. Chưa đầy một tháng sau, bản đồ miền Nam được vẽ lại, Phan Rang trở thành tuyến đầu của lănh thổ cộng ḥa". (Tướng Nguyễn Ngọc Sang)
 Như vậy chúng ta thấy sau cuộc rút quân theo QL-7 (ngày 17/3/1975) đến ngày 16/4/1975 (Tướng Sang bị bắt) Phan Rang thất thủ cũng có bàn tay "con bài tẩy". Những bằng chứng như thế nhưng SQ/QL/VNCH vẫn tin là QĐ/VNCH thua v́ "không c̣n đạn để bắn" mà không tin là do lệnh "cần trang bị nhẹ để rút lui" bởi "con bài tẩy", và vạ lổi cho "Đồng minh phản bội". Những lời "ngụy biện ignorance" này làm những trí thức không tham gia cuộc chiến cùng đồng quan điểm với TS Nguyễn-tiến-Hưng cho rằng "Mỹ phản bội Đồng-Minh" và QĐ/VNCH thua bởi "không c̣n đạn để bắn", mà không thấy TS Nguyễn-Tiến-Hưng cũng "Ngụy biện ignorance". Một chính tri gia, luật gia mà không biết luật quốc tế th́ thật đúng là "Ignorance". Đây là điều sai lầm và mị dân, đánh trận sa mù làm lợi cho cộng sản nằm vùng.


Trong cách "ngụy biện "tấn công cá nhân", Thiệu nhắm 3 mục tiêu:
1. -"Mỹ phản bội Đồng-Minh".
2. - Mỹ không viện trợ súng đạn cho Đệ II/VNCH như Nga-Tàu.
3. -Mỹ không đ̣i hỏi Bộ đội BV rời khỏi MNVN sau Hiệp định Paris.
Ba cách này nằm trong "ngụy biện đảo ngược điều kiện" để Thiệu có cớ nói Mỹ bắt buộc Thiệu kư Hiệp định Paris nhầm bảo toàn sinh mạng tù binh Mỹ và rút quân trong "danh dự".
 Thiệu chỉ trích báo chí Mỹ đưa lên tấm h́nh người lính/VNCH đu trên chân đáp trực thăng, Thiệu giải thích "báo chỉ Mỹ nhầm nói lên sự hèn nhát của QĐ/VNCH để che dấu tinh thần sút kém quân đội Mỹ trên chiến trường VN".
 Những lời vừa nói đây là loại "ngụy biện ví von" của Thiệu, nhưng vô t́nh cho chúng ta thấy: chính miệng Thiệu nó́ lên "QĐ/VNCH hèn nhác", bức ảnh trên chỉ qua là h́nh ảnh của "The last days in Vietnam" là một dữ kiện lịch sử không ngụ ư chỉ trích QĐ/VNCH, Thiệu dùng "1 người lính/VNCH để so sánh cả QĐ/Mỹ" nhầm sỉ nhục quân đội Hoa Kỳ và chê trách Mỹ sút kém tinh thần trên chiến trường Việt-Nam, đồng thời nhầm gợi lên tinh thần dân tộc VN để chống Mỹ sau này, Thiệu phấn chấn tinh thần dân tộc một dân tộc đă từng chiến thắng 3 quân đội lớn nhất thế giới, đây là loại "ngụy biện của cái búa", cái búa giết người của VC... . Thiệu rất tự tin trong cuộc phỏng vấn của kư gỉa Đức năm 1979, v́ sau cuộc phỏng vấn này, nhiều người Việt hải ngọai rất tin lời Thiệu măi đến ngày nay, hơn 40 năm qua vẫn c̣n tin tưởng Thiệu, v́ CĐNVHN chỉ nhớ Thiệu là TT/Đệ II VNCH mà không ai biết đến Thiệu đă giết biết bao nhiêu người trong những lần rút quân ở trận Hạ Lào, Ban-mê-Thuột và sau ngày 25/4/1975 Thiệu đă là đào binh, Thiệu đă chạy trước khi QĐ/VNCH sụp đổ.

 TT Thiệu kư Hiệp định Paris không do Mỹ bắt buộc mà tự "con bài tẩy", nó nghe lệnh Hà-Nội cho nên cuối tháng 12/1972, Mỹ ồ ạt dội bom Hà-Nội và Hải-Pḥng buộc Hà-Nội phải kư Hiệp định Paris.

 Chúng ta ghe lại lời nói của  Kissinger : "Những thập niên trước cuối năm 1972, rơ ràng Miền Nam VN và Hoa Kỳ đang thắng Chiến Tranh VN. Đó không chỉ là quan điểm của riêng tôi mà đó là quan điểm của những viên chức chính phủ Bắc Việt. Chiến thắng rơ ràng khi Tổng Thống Nixon ra lệnh cho không lực Hoa Kỳ dội bom những mục tiêu kỹ nghệ và quân sự ở Hà Nội thủ đô Bắc Việt và Hải Pḥng hải cảng chính của họ. Chúng ta sẽ ngưng dội bom nếu Bắc Việt tham dự Hội Đàm Paris mà họ đă rời trước đó. Bắc Việt không trở lại bàn hội nghị, chúng ta sẽ không ngưng dội bom như đă hứa".


 Như thế chúng ta thấy Hà-Nội đă rời Hội Đàm Paris trước ngày Mỹ dội bom, trong cùng lúc ở Miền-Nam TT Thiệu không chịu kư Hiệp Định Paris, 2 dữ kiện tuy khác nhau, nhưng mục đích nhầm kéo dài Hội Đàm Paris để gây thêm áp lực cho Mỹ.

 

 Thật ra thông điệp cho Bắc-Việt : "Nếu Hội Đàm Paris không thành, chúng tôi sẽ không ngưng dội bom như đă hứa", lời nói này bắt buộc Hà-Nội ra lệnh "con bài tẩy" phải kư Hiệp định Paris.

Bí mật này Mỹ giữ lời không bao giờ lật ngữa "con bài tẩy".
 Để giữ bí mật "con bài tẩy", Tướng William-C-Westmoreland sau này cũng không hề vạch mặt hắn, Ông chỉ có lời trước quân nhân VNCH:"Chúng ta không thua ở VN, chúng tôi không giữ đúng lời cam kết đối với QĐ/VNCH, thay mặt cho QĐ/Hoa-Kỳ, tôi xin lổi các bạn cựu Quân nhân QĐ/MNVN v́ chúng tôi đă bỏ các bạn. (On behalf of the United State Armed Forces, I would like to apologize to the Veterants of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys".

 

 Những điều trên cho thấy chính Hà Nội buộc "con bài tẩy" kư Hiệp định Paris, v́ CS nắm chắc sau ngày kư Hiệp định Paris Mỹ sẽ không can dự vào chính trường Việt-Nam, như thế đủ để nói lên thất bại QĐ/Mỹ ở VN.
 Nhằm để bảo đảm cho chiến lược lâu dài, tiếp sau đó Hà-Nội đánh công điện cho pḥng an ninh Mỹ bằng ḷng chịu "Đầu hàng vô điều kiện với Mỹ".

 

 Thông điệp "chịu đầu hàng vô điều kiện" chỉ có Mỹ nhận được thế mà Thiệu vẫn biết, công điện này gây ảnh hưởng mạnh đến nhân dân và QĐ/VNCH. Tại sao VC chịu đầu hàng Mỹ mà Mỹ không chấp nhận để rồi chịu cảnh thất bại ngày 30/4/1975. V́ VC không đầu hàng QĐ/VNCH, như thế Việt Nam càng thảm hại hơn.

 

 Chiến lược này nhầm cách ly QĐ/VNCH với Hoa-Kỳ sau này. Đây là đ̣n tâm lư Hà Nội đánh vào trí thức Việt-Nam không am hiểu về chiếm trường Việt-Nam đồng thời để QĐ/VNCH câm thù Mỹ v́ đă "phản bội Đồng minh".
 Nếu Mỹ đồng ư, th́ Việt Nam như đă ḥa b́nh, QĐ Hoa Kỳ phải rút lui, thế th́ chiến trường VN sẽ trở về t́nh trạng như "sau trận chiến Điện-biên-Phủ", VC vẫn chiếm giữ vùng nông thôn, núi rừng, MNVN sẽ trở về thế trận như thời Mặt trận B3-B5 của cộng sản đă đánh bại "Chiến đoàn lưu động 100" viển chính Pháp trong tháng 6/1945. Các vùng quanh QL-14 và QL-19 sẽ thuộc quyền kiểm soát của VC, kế hoạch này là chiến lược Phạm-văn-Đồng sau trận ĐBP áp đảo Pháp và Bảo-Đại để tạo vùng "da beo" nhầm để VC tiếp tục kháng chiến sau này. Sự kiện sau Hiệp định Genève là một chính phủ chống cộng, nhưng châấp nhận Hà Nộiđầu hàng th́ t́nh h́nh có khác là Đệ II/VNCH do bọn nằm vùng Lănh đạo MNVN, vậy VN kể như do CSBV cầm quyền, kế hoạch ngăn chận Cộng sản Mỹ thất bại.

 Như thế CSQT thắng lợi trong thế "không chiến mà thành".
 Trong thế "không chiến mà thành" Mỹ buộc dùng thế "thua là thượng sách" mà chúng ta thường gọi "Dĩ đào vi thượng". Đây là cách "ngụy biện đảo ngược điều kiên", theo tôi đây là "ngụy biện biện chứng", lấy cái không có thể mà chứng minh đó là sự thật.

 

 

 

Xem PHẦN 2

 

 

 

Liên-khôi-Chương

4/2019
 

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG               |                 www.ninh-hoa.com