Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG            |                 www.ninh-hoa.com


LIÊN KHÔI CHƯƠNG


Cựu học sinh
các trường Trung học:
 

* Bán Công:
Đệ Thất-Tứ, NK. 1961-1965

* Trần B́nh Trọng:

Đệ Tam-Nhị, NK. 1965-1967

* VT/NT: Đệ Nhất (67-68)
* TTPT/SG : HH/PT(68-70)

 



Hiện sinh sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ


 

 

 

 


 

Tuần hành chống biến đổi khí hậu tại công viên Rizal, Manila, ngày 02/10/2014. REUTERS/ Romeo Ranoco

 

"Địa công nghệ" trong quản lư
chống biến đổi khí hậu 


Liên Khôi Chương

 

  

 

Chúng ta không thể tin được "Giải pháp làm giảm nhiệt độ Địa cầu" lại dùng phương pháp phun các nguyên tử lưu huỳnh vào tầng khí quyển b́nh lưu, việc này có khác ǵ khí carbonic từ các xưởng kỹ nghệ của các quốc gia công nghệ phát triển mạnh, CO2 bay vào khí quyển là sự vô t́nh trong khi phun các nguyên tử lưu huỳnh (S) là sự cố t́nh của một vài khoa học gia Âu Châu, trong công tŕnh "Địa công nghệ". Để t́m hiểu sự kiện này, LKC tôi đưa lên bài viết của Đức-Tâm trong bản tin từ đài tiếng nói quốc tế Pháp (rfi) như sau:

 

Trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu đang đe dọa toàn hành tinh, giới chuyên gia và luật gia Mỹ lưu ư cần phải thiết lập một cơ chế quản lư có hiệu quả « địa công nghệ - géo-ingenierie », cụ thể là các công nghệ làm thay đổi khí hậu một cách nhân tạo.

 Trong cuộc họp hàng năm của Hiệp hội v́ sự tiến bộ của khoa học Mỹ - AAAS, tại California, Hoa Kỳ, ông Edward Parson, giáo sư về luật môi trường tại Đại học California, cho biết « hiện nay, không có một định chế hoặc hiệp ước nào có khả năng điều tiết một cách hiệu quả các công nghệ này ».

Ngành khoa học « địa công nghệ », hiện vẫn trong giai đoạn thử nghiệm và gây nhiều tranh căi, ví dụ phun các phân tử lưu huỳnh (soufre) vào quyển b́nh lưu (vùng khí quyển nằm ở độ cao từ 50 đến 100 km) để giảm bớt tia bức xạ của mặt trời.


Theo chuyên gia Parson, « nếu một nước quyết định tiến hành thí nghiệm đầy rủi ro về địa công nghệ, th́ không có ǵ để ngăn cản được họ ». Do vậy, « trước khi dự tính, phát triển và sử dụng công nghệ này, cần phải có một định chế quốc tế có thẩm quyền và khả năng để đưa ra các quyết định ».
Một nhóm bao gồm 16 chuyên gia, được thành lập theo đề nghị của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ, đă đưa ra hai báo cáo về vấn đề « địa công nghệ ». Nhóm này khuyến nghị nên tiến hành các nghiên cứu, đồng thời bác bỏ việc tiến hành các thí nghiệm có « những rủi ro nghiêm trọng ».


Theo các nhà khoa học, các kỹ thuật trong lĩnh vực « địa công nghệ » không thể thay thế cho các nỗ lực giảm đáng kể việc phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu và coi đây là biện pháp chắc chắn nhất, hiệu quả nhất, để ngăn chặn hiện tượng hâm nóng trái đất.


Bà Marcia McNutt, trưởng ban biên tập tạp chí khoa học Science, nguyên là Giám đốc Viện Vật lư địa cầu Mỹ, hiện là chủ tịch nhóm chuyên gia, đề nghị, cơ chế quản lư « địa công nghệ » phải minh bạch, rộng mở và có sự tham gia của xă hội dân sự. Chuyên gia này cho rằng, một tổ chức phi chính phủ quốc tế hoặc một hiệp hội khoa học hoặc một tổ chức đa quốc gia có thể đứng ra đảm trách công việc quản lư. « Chủ đề này có thể lôi kéo nhiều nước khác tham gia, nếu như Hoa Kỳ bắt đầu nói tới ». Bà McNutt cho rằng, « cần phải thành lập các định chế quản lư này trước khi các thử nghiệm về địa công nghệ được tiến hành trên quy mô lớn » và bà không loại trừ khả năng tiến hành các thử nghiệm nhỏ trước đó.


Một thành viên trong nhóm chuyên gia, bà Linn Russell, khuyến nghị nên bắt đầu các nghiên cứu về việc sử dụng « địa công nghệ » trong việc làm thay đổi hệ số phản chiếu tia bức xạ của mặt trời vào trái đất (từ chuyên môn là Albédo), bởi v́ trong giai đoạn hiện nay, chưa có đủ các nghiên cứu khoa học để có thể biết được xem liệu việc dùng địa công nghệ có cần thiết hay không.


Ông Riley Duren, chuyên gia tại Cơ quan Hàng không không gian Mỹ NASA, nói đến việc tập trung nghiên cứu các đợt núi lửa phun trào trong tương lai v́ lĩnh vực này gần gũi nhất với « địa công nghệ »để giúp giảm các tia bức xạ của mặt trời và hiện tượng hâm nóng trái đất. Thế nhưng, các nhà nghiên cứu chưa đủ khả năng để « hiểu và đánh giá được các tác động đối với tầng nhiệt – lớp khí quyển cao », trong lúc « các kỹ thuật của địa công nghệ lại có thể rất cần thiết cho ngành khoa học khí hậu, giảm được những yếu tố bấp bênh trong các mô h́nh về tiến tŕnh biến đổi khí hậu ».


AFP cho biết, khác với một số nước Châu Âu, Hoa Kỳ không có chương tŕnh nghiên cứu riêng biệt về « địa công nghệ ». Năm 2010, lĩnh vực này chỉ được tài trợ 100 triệu đô la, trong tổng ngân sách 4 tỷ đô la dành cho việc nghiên cứu chống biến đổi khí hậu. (Tin rfi).

 

 Sau đây là nhận xét LKC :

 

Theo Ông Riley Duren:"Các nhà nghiên cứu chưa có đủ khả năng để : "hiểu và đánh gía. . . . "đồng thời cũng nói:"các kỹ thuật Địa công nghệ lại có thể rất cần thiết cho ngành khoa học khí hậu. . . ".

 Ngành khoa học "Địa công nghệ" hiện vẩn là giai đoạn thí nghiệm và gây nhiều tranh cải, như phun phân tử lưu huỳnh (S) vào quyển b́nh lưu (50km-100km) để giảm bớt tia bức xạ của mặt trời.

Như tôi nhớ không lầm bầu khí quyển chúng ta là 65km. vậy "bầu khí quyển b́nh lưu" sẽ chiếm 35km ở bên ngoài không gian của vùng ozone (N2) và 15km của không gian vùng không khí ngoài cùng của địa cầu.

 

Khí có chứa lưu huỳnh tồn tại trong 2 dạng SO2 và SH2 (acít này mùi rất thúi, là một hơi độc dễ gây choáng váng và nhức đầu), như thế ngành "địa công nghệ" mà một vài quốc gia Âu Châu đề nghị có an toàn không ?Đây đúng là một ư tưởng không an toàn cả nhân loại thế giới, v́ "địa công nghệ" này là ư của một vài khoa học gia AC, nên qua nhận xét của 16 chuyên gia của Mỹ, họ rất dè dặt khuyến nghị : "nên tiến hành các nghiên cứu đồng thời bác bỏ việc tiến hành các cuộc thí nghiệm có nhiều rủi ro nghiêm trọng này".

 

 Đúng địa cầu chúng ta đang chịu sự bức xạ của mặt trời, nhưng bức xạ này rất an toàn, đây là quan niệm của cá nhân tôi qua dẩn giải trong bài "Thái dương hệ dẩn chứng thuyết bảo ḥa", sức nóng từ mặt trời ra đă bảo ḥa độ nóng ngay từ ṿng đai Mercury, và độ lạnh từ ngoài vũ trụ vào đă bảo ḥa độ lạnh từ ṿng đai Saturn, 2 nguồn nóng lạnh gặp nhau ở Địa cầu là nguồn bức xạ bảo ḥa.

 

 Sự nóng của địa cầu ngày nay không do bức xạ mặt trời, cũng không do khí thải CO2 từ các xưởng kỹ nghệ, v́ tôi giải thích theo quan niệm thuyết bảo ḥa đây là hiện tượng thu nhiệt, chính hiện tượng thu nhiệt này mới làm Địa cầu càng ngày càng nguội dần và vơ Địa cầu càng ngày càng dầy thêm.

 

 Trong quan niệm địa cầu nóng là do khai thác nhiên liệu trong ḷng đất, v́ nhiên liệu trong ḷng đất là chất cách nhiệt tốt, sức nóng từ đáy biển làm nóng nước biển tạo nhiều hơi nước bay lên trời, độ ẩm mặt đất cao th́ độ nóng bầu khí quyển gần mặt đất cao, đây là yếu tố chính làm cho nhà kính nóng, chứ không do bức xạ mặt trời, c̣n khí carbonic (CO2) có phần ảnh hưởng tới khí hậu, v́ khi nó bảo ḥa với hơi nước (mây) làm thành chùm mây bảo ḥa có nhiệt độ thành mưa thấp hơn chùm mây b́nh thường 4-5 ˚C  .

 

 Vậy "địa công nghệ" cần t́m cách thu hồi CO2 về để có Carbon và oxygen là phương cách tốt nhất, đàng này khoa học Au-Châu lại nghỉ cách cho phân tử lưu huỳnh vào tầng giáp ranh giữa bầu khí quyển và vùng ozone, có phải là chuyện trớ trêu cho địa cầu không ?

 

 Như nói ở trên, SH2 chắc không dùng đến, nhưng dù có xử dụng SO2 đi nữa th́ cũng không nên, v́ việc làm đó có liên quan đến hóa học cũng như phóng xạ H+ là những hiện tượng hóa học, việc đưa phân tử lưu huỳnh chẳng khác ǵ một trái bom độc ngầm.

 

 Khoa học đă viện lẽ CO2 ảnh hưởng đến bầu khí quyển, nhưng nay lại có quan niệm đưa phân tử lưu huỳnh vào thượng tầng không khí, có phải là chuyện đùa của giới khoa học Âu Châu không ? 

 Bà Marcia McNutt, trưởng ban biên tập tạp chí khoa học Science, nguyên là Giám đốc Viện Vật lư địa cầu Mỹ, hiện là chủ tịch nhóm chuyên gia, đề nghị, cơ chế quản lư « địa công nghệ » phải minh bạch, rộng mở và có sự tham gia của xă hội dân sự, một tổ chức phi chính phủ quốc tế hoặc một hiệp hội khoa học hoặc một tổ chức đa quốc gia có thể đứng ra đảm trách công việc quản lư. "Chủ đề này có thể lôi kéo nhiều nước khác tham gia, nếu như Hoa Kỳ bắt đầu nói tới ".

 

 Nếu có sự giám sát chặt chẽ này, tôi tin rằng "không riêng một cá nhân nào có thể nhân danh "Khoa học" để làm điều không có ư nghĩa về "khoa học". Những việc làm có hại cho nhân loại th́ con người có quyền lên tiếng, những tiếng nói của Họ không thể cho là "không khoa học", dù sự hiểu biết của Họ không chuyên nghiệp như những khoa-học gia rành nghề, nhưng Họ hiểu chắc chắn việc thải các khí hóa học vào không gian là việc làm không lợi cho nhân loại. Như tôi nói ở trên, bảo ḥa " CO2 + 26, H2O ", không có ảnh hưởng ǵ đến Địa cầu hâm nóng, không có nghĩa là tôi xem việc khí carbonic thải vào khí quyển là không có vấn đề. Tôi đă chứng minh trên lư thuyết bảo ḥa " CO2 + 26, H2O " là nguyên do của những trận mưa khác thường sinh ra lụt lội và những trận hạn hán trong đầu thế kỷ 21 này. Như thế chúng ta thấy vấn đề "Xă hội dân sự" là điều cần thiết cho việc tiến hành "Địa công nghệ".

 

 Điều trước mắt khoa học gia chuyên nghiệp cần khuyến cáo các quốc gia công nghệ tiên tiến phài có trách nhiệm thu hồi khí carbonic thải ra từ chính cơ xưởng của họ, những "Địa công nghệ" này cần sự cộng tác của nhóm "xă hội dân sự" chính quốc gia đó.

 Trong tầm nhận định chung, ở thời điểm năm 2015 là thời điểm cần ngưng ngay những việc khai thác nhiên liệu tại ḷng biển (đại dương), như thế với sức nóng tỏa ra từ dung nham trong ḷng đất dư thừa tạo nên hơi nước bay lên trời đủ để răi đều trên không trung, và Địa cầu chúng ta sẽ có những trận mưa b́nh thường (70 ˚F), nước mưa sẽ đổ xuống nhiều vùng đất và tạo Địa cầu thêm màu xanh hơn, khi "Địa công nghệ" thu hồi CO2 được tiến hành trong sự trợ giúp của "Xă hội dân sự", nguồn trí thức khoa học thực tiển trong công cuộc bảo vệ môi sinh Địa cầu sẽ có hiệu qủa tốt đẹp hơn.

 

 Vấn đề "Địa công nghệ" không phải chỉ trong phạm vi khí thải đi vào không trung mà c̣n liên quan đến những công nghệ khai thác nhiên liệu trong ḷng đất, như khai thác quặn mỏ có thể làm ô nhiểm môi sinh nguồn nước, như khai thác bauxít để lấy nhom (Al), hoặc phương pháp "fracking" trong khai thác đầu hỏa có nhiều ảnh hưởng đến "động đất" và hồi sinh những núi lửa đă từng ngũ yên, hiện tượng này ở ngoài khơi sẽ tạo nên trận "Sóng thần", những vấn đề này đều cần có tiếng nói "Xă hội dân sư".

 

 Như LKC tôi cũng có tŕnh bày trong bài "Báo động về Địa cầu" có nói : Dùng "bức xạ" để tách rời muối khỏi nước biển, nếu quan niệm này khả thi được th́ phương cách này cũng là một "Địa công nghệ" v́ đă dùng đến "bức xạ", vậy "bức xạ" này có ảnh hưởng đến môi sinh Địa cầu không ? Ư kiến nhóm "xă hội dân sự" là nhận xét chung của toàn thể nhận loại, một ư thức trung thực và vô tư, v́ họ là những khoa học gia chân thật.

 

 Sau đây LKC tôi xin ghi lại môt phần trong bài viết "Báo động về Địa cầu" như sau : .

 

Trong quan niệm "Bức xạ" là sự giao tiếp của nguồn "Nóng" cùng khí "Lạnh" và Hợp chất "Bảo-ḥa" là chất thu năng lượng.

 

LKC xin tạm tŕnh bày một mô h́nh tạo "Bức xạ" nhỏ như sau:

(A). oo oo oo oo

(B). Ddvào. . Ddvào. . Bức xạ+Dd. . . BX+DdBảoḤa. . DdBH đi ra. .

(C). Ddvào. . Ddvào. . . Ddvào. . . nước. . . nước. . nước. . nước đi ra. . . .

 

*(A) là giàn máy 4 th́: O là một bộ phận phát nhiệt, thân tṛn h́nh vành khăn dài 10 dm đường kính 3 dm được xoay ngược với chiều quay kim đồng hồ. Thân tṛn là khối kim loại có 2 ṿng h́nh vành khăn dày 0. 4 dm, chính giữa 2 ṿng h́nh vành khăn là 0. 4 dm là khoảng không được thiết bị những  điện trở (resistan, element, điện cực tụ nhiệt  được gắn chặt trên mặt ngoài thành vành khăn nhỏ) để làm nóng 2 ṿng h́nh vành, h́nh vành khăn nhỏ có bán kính ngoài là 0. 7 dm và bán kính trong là 0. 3 dm. Bên thân trong h́nh vành khăn nhỏ có những lổ thông nhau đến một trục cố định đường kính nhỏ hơn 0. 6 dm để giữ thân h́nh vành khăn có thể chuyển động theo chiều ngược với kim đồng hồ, các lổ trên h́nh vành khăn nhỏ đồng thời cũng là mạch điện dẩn vào làm nóng các điện trở bên trong, điện vào được bên trong ở dưới dạng tiếp xúc giữa ṿng trong h́nh vành khăn nhỏ và trục cố định.

Nhiệt độ cần thiết cho khối kim loại này là 970˚F (521˚C , có độ nóng nhưng kim loại không thấy sáng, có tính cứng chắc hơn), 1140 ˚F (615 ˚C , kim loại có chút sáng và có tính mềm bền), 1850˚F (1010˚C, kim loại sáng đỏ, có tính cứng không bền).

*"O" nhỏ là ống cố định dài khoảng 10 dm, đây là nơi sẽ bắn ra những "hơi lạnh" dọc theo đường ống và song song với trục "phát nhiệt" từ một máy điều ḥa không khí.

*(B) và (C) là một máng (tray) cho dung dịch chạy vào máy. Khi "Bức xạ" được bắn ra sẽ lướt nhanh trên mặt dung dịch và kéo những "Chất bảo ḥa" lên phần trên mặt dung dịch, ta gọi lớp dung dịch "Chất bảo ḥa" này là (B) và lớp dung dịch phần dưới là (C), (C) chính là lớp nước (H2O). Phần cuối cùng của máng là một khóa phân chia (B) và (C) thành 2 nguồn phân biệt rơ ràng.

 Sau đây là máng chứa dung dịch điển h́nh:

a. Máng dài 20 dm, rộng 10 dm, dd vào cao 0. 5 dm.

b. Máng dài 20 dm, rộng 7 dm, dd vào cao 0. 8 dm.

c. Máng dài 20 dm, rộng 4 dm, dd vào cao 1. 4 dm.

d. Máng dài 20 dm, rộng 2 dm, dd vào cao 2. 5 dm.

Thật ra 4 máng nối liền với nhau để có một máng liên tục dài 8 m . Mỗi máng có dung tích khoàng 100 lít dung dịch, chiều cao của máng có sự khác biệt về chiều sâu để giữ mặt phẳng bên trên không chênh lệch tạo điều kiện thuận tiện cho "bức xạ" di chuyển trên mặt dung dịch. Từ mặt phẳng dung dịch vào đến nắp che kín máng khỏang chừng 0. 1 dm đến 0. 2 dm, không gian càng nhỏ "bức xạ" di chuyển càng mạnh và nhanh hơn.  

 Vậy nhu cầu năng lượng trong tương lai là "Băng cháy tái tao từ H2 + H2CO3"dùng trong các động cơ nổ. Điện Mặt trời, Điện từ sức gío và Điện từ sức sóng biển dùng cho điện kỹ nghệ, ngoài ra c̣n có điện từ pin (battery) do các nguyên tử và phân tử kết hợp phát sinh ra điện. Đây là những năng lượng sạch ngoại trừ "Băng cháy" c̣n chứa Carbon th́ vẩn sinh ra CO2, nhưng sự hiện diện CO2 trong lúc này rất ít v́ Bao-Ḥa CO2+26. H2O trở thành tuyết trong mùa đông, đây là diển biến khí hậu tự nhiên của Địa cầu trước năm 1700 .

 Con người cần giảm thiểu tối đa lượng thải CO2 vào không trung từ thời điểm này (2015-2017) th́ Địa cầu c̣n có cơ may cứu vảng trở lại, như thế lượng mây trên không nhiều gấp 10-20 lần hơn thời trước năm 1700, đây là lượng mây b́nh thường không bảo ḥa với CO2, nên Địa cầu sẽ có nhiều trận mưa trong thời tiết trời 21 ˚C  (70 ˚F), cái nhiệt độ đă gây nên hạn hán trong đầu thế kỹ 21 này v́ có nhiều mây bảo ḥa nên nhiệt độ mưa thường xẩy ra ở nhiệt độ 15-16 ˚C , nên mổi lần mưa sẽ gấp 25 hoặc 50 lần hơn trận mưa thường mà tạo thành lụt lội.

 Vậy nguyên nhân nhà kính nóng lên là do độ ẩm của không khí cao v́ Địa cầu nóng do "dung nham" trong ḷng đất bị con người khai thác qúa tải lượng dầu thô và khí đốt tại ḷng "Đại dương" làm mất đi chất cách nhiệt giữa dung nham và vơ trái đất khiến nước biển nóng hơn bốc hơi nhanh lên bầu trời hợp với CO2 tạo thành "bảo-ḥa CO2+26H2O" rồi gây nên trận mưa như thác lũ (mưa thế kỹ 21), khoa học cần đưa lên những nhận thức trung thực này để các cường quốc kinh tế ngưng ngay việc khai thác dầu thô tại ḷng biển và giảm thiểu thải CO2 vào không trung th́ Địa cầu có thể được làm xanh trở lại do lượng mây b́nh thường (mây không CO2) nhiều hơn, như thế lục địa sẽ có được nhiều mưa hơn và sẽ giảm diện tích sa mạc hiện nay, Địa cầu sẽ có màu xanh nhiều hơn.

 Thật vậy với kiến thức thực tại của con người ngày nay chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt về kiến thức khoa học trong 300 năm trước đây, với "Thuyết bảo-ḥa " sẽ cho chúng ta thấy:"Địa cầu vẩn c̣n nhiều năng lượng để tạo cho con người có cuộc sống tiện nghi hơn" khi con người biết ngưng ngay việc khai thác nhiên liệu tại ḷng đại dương và biết cách thu hồi lượng CO2 thải vào không trung, đây là niềm mong muốn của Liên-hiệp-Quốc và là niềm hy vọng của con người hiện sống trên Địa cầu này.  

Được-Lời (LKC) Ngày 13/12/2014  

 oo oo oo oo

 Ddvào. . Ddvào. . Bức xạ+Dd. . . Bức xạ+DdBảoḤa. . . DdBảoḤa. .

 Ddvào. . Ddvào. . . Ddvào. . . nước. . . nước. . nước. . nước. . . . . . . .  

Có thể nào mô h́nh trên đây là một h́nh thức tạo "bức xạ", v́ hiện tượng "bức xạ" theo LKC nhận thấy khác rất xa với "bức xạ" của khoa học ngày nay, nó không phát xuất từ điện từ trường do Mặt trời mà chỉ là kết qủa của Mặt trời bị va chạm của khối khí cực lạnh từ ngoài vũ trụ chụp vào mà phát sinh nhiệt năng, cũng như sự hiểu biết thường thức của chúng ta trong việc đổ ly nước lạnh vào ḷ lửa, sức nóng hực ra mà chúng ta thường gọi "bức xạ".

Chính những quan sát này. LKC mới nghĩ ra mô h́nh "bức xạ" này, máy có thực dụng hay không th́ chúng ta cần làm thử mới quyết định sau, v́ "bức xạ" cũng có cường ˚C ủa bức xạ, nhưng bức xạ chúng ta cần ở đây là "bức xạ" có thể di chuyển những "bảo-ḥa" có ptl=16 đến ptl=20 để tách rời bảo ḥa ra khỏi nước.

Bảo-ḥa H2O + 2. CH4 ptl=17

Bảo-ḥa C2H2 + 8. H2O ptl=19

Bảo-ḥa C3H6 + 24. H2O ptl=19

Bảo-ḥa NaCl + 40. H2O ptl=19 

Với những bảo ḥa của mêtan, acêtylen, propan trong nước, chúng ta có thể nhận rơ được nguyên tắc phân tích hổn hợp ra khỏi nước.

Nhưng muối trong nước th́ hiện tượng phát sinh như thế nào khi nước biển hoàn toàn được bảo ḥa theo hệ thức NaCl + 40. H2O (có 75g muối/lít nước biển) th́ hiện tượng "bức xạ" đối với nước biển ra sao ?

Trong thiên nhiên Địa cầu có nhiều bờ biển sản xuất ra muối, có Biển Chết (Death Sea) là một điển h́nh 360g muối/lít, trong mô h́nh "tạo bức xạ" có thể cho chúng ta câu trả lời :

100 lít nước biển đi vào có tổng cộng lượng muối 7500 gram muối, sau khi "bức xạ" 7500 gram muối sẽ thu gọn vào 21 lít (7500g/20. 8 lít), như thế sự tách rời muối khỏi nước biển trong cách dùng "bức xạ" vẩn là niềm hy vọng để tạo Địa cầu xanh thêm, 75/100 nước ngọt lấy từ nước biển là nguồn năng lượng rất vĩ đại, rất cần thiết cho sự làm xanh Địa cầu.

 Đây là ư riêng LKC trong quan niệm bảo ḥa là kết hợp những vật thể chuyển động, có đặc tính thu năng lượng, bởi thế nó dễ bị nguồn năng lượng mạnh kéo đi khi đi ngang qua nó.

 

Được-Lời (LKC) Ngày 11/3/2015 

______________

 

 

Liên-khôi-Chương
Được-Lời (LKC)
3/2015

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG               |                 www.ninh-hoa.com