Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG            |                 www.ninh-hoa.com


LIÊN KHÔI CHƯƠNG


Cựu học sinh
các trường Trung học:
 

* Bán Công:
Đệ Thất-Tứ, NK. 1961-1965

* Trần B́nh Trọng:

Đệ Tam-Nhị, NK. 1965-1967

* VT/NT: Đệ Nhất (67-68)
* TTPT/SG : HH/PT(68-70)

 



Hiện sinh sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ


 

 

 

 

 

 

ĐẤT HIẾM LÀ G̀?

Liên Khôi Chương

 

  

 

Trước tiên cần phải biết đất hiếm như thế nào ? 

Theo như báo cáo của tập đoàn Masan/TQ cho Bản-Việt/VN biết:

Đây là khoáng sản gồm phần lớn là Fluorine (F), Bismuth (Bi) gọi là Voframn.

-F là chất khí có ptl F2 m= 38 

-Bi là kim loại có ntl Bi m=209.

-Voframn theo tôi là kim loại có đặc tính Vanadim, ntl V m= 51.

 Vậy "Đất hiếm" là quặn mỏ đặc biệt có khí F2 bảo hòa kim loại Bi, thông thường kim loại được trui trong chất khí thì có có độ cứng cao và chịu nhiệt độ rất cao, ", vậy đất hiếm là bảo hòa F và Bi.

Bảo hòa này viết theo hệ thức:

 (1. V+13. Bi+171. F2) với trọng khối V có m=38+13=51 

phân tích thành phẩn gồm: 0, 6% V, 70, 1% Bi và F2 chiếm 29, 3%.

Kết qủa Bi và F đủ để kết luận bảo hòa là nguyên tố Vanadium, 0, 6% V chỉ để chứng minh một "Định lý bảo hòa":

Để có một bảo hòa vững bền, phải có ít nhất 1% nguyên tố thật trong nguyên tố bảo-ḥa".

Đây cũng là định luật "Bảo-ḥa trong Vũ trụ" để chúng ta tái tạo nguyên tố mới.

 

Ngày nay khoa học đã sáng tạo ra nhiều nguyên tố mới như: 

Technetium (Tc) m=98, Promethium (Pm) m=147, Neptunium (Np) m=237, Plutonium (Pu) m=242,

Armericium (Am) m=243, Curium (Cm), Berkelium m=249, Califonium (Cf) m=251, Einteinium (Es) m=254,

Fermium (Fm) m=255, Mendelevium (Md) m=256, Nobellium (No) m=254, Lawrencium (Lr) m=257,

đây là những kim loại hiếm do con người tạo thành, không phải đất hiếm.

 Người Nhật đã nhiều lần tuyên bố họ chế tạo được đất hiếm, sự tḥật chỉ là nguyên tố nhân tạo vừa trình bày ở trên.

 Trong bảng "Tuần hoàn nguyên tố" ghi "Synthetically created" là do người tạo thành, những tên gọi cho nguyên tố có cả tên địa danh và tên người, tôi nghỉ nếu có người Việt nào tìm được thì sẽ có tên Sapa/VN (Sapavium) hoặc Deji/VN (Dejivium), cố tìm hiểu về hệ thức bảo hòa không khí Địa cầu, chúng ta sẽ tìm ra nguyên tố mới.

 

 Không khí Địa cầu (1. O2 + 4. N2 có m=b+1=29) viết ra hệ thức:

 M(A+B)= a+ (a-b)b m=b+1 (1).

Đây là nguyên lý bảo hòa trong ngành hóa học.

Mở rộng hệ thức sẽ thành:

 M(A+B) = n. a + (a-b)b với m=b+n (2)

 a là phân tử lượng A, b là phân tử lượng B, n là số phân tử A.

Hệ thức (2) chứng minh qua "nước muối bảo-ḥa 360g/lít" như sau

- nước muối bảo hòa cần có:

 7. NaCl + 41. H2O m=18+7=25

 7. NaCl trong 41. H2O, kết qủa như sau:

-7. NaCl =7(58, 5)=410g muối trong 41. H2O=738cc 

-410g NaCl có thể tích 410/1, 07=383cc

vậy tồng thề tích dung dịch khỏang 738cc+383cc=1. 121cc.

Suy ra 1 lít dung dịch có 366g muối, có hơn 6g (0, 02%) để bảo chứng dung dịch cố định theo nguyên lý bảo hòa.

Những dẩn chứng trên cho thấy hệ thức (2) là công thức tổng quát cho ngảnh tái tạo các nguyên tố mới.

 

 Nguyên tắc làm máy chiết muối ra khỏi nước biển.

 Địa cầu nóng do ảnh hưởng của bức xạ, ở Bắc bán cầu hướng nam nóng nhất, ở Nam bán cầu hướng bắc nóng nhất, bởi thế các tấm thu năng lượng Mặt trời hầu hết đều xoay về đường Xích đạo vì nơi đây nhiệt bức xạ rất cao cả ngày lẩn đêm, chứng tỏ bức xạ là nguồn nhiệt chính cho các hành tinh TDH.

 Muối trong nước biển có khoảng 75g muối/lít không ngừng thu nhận bức xa là nguyên nhân tạo ra nước muối bảo hòa, trong 100 lít nước biển trở thành 20, 8 lít nước muối bảo-ḥa 360g NaCl/lít, chiếm khỏang 21% thể tích nước biển.

 

 Từ nhận xét này chúng ta có thể chiết xuất muối ra khỏi nước biển bằng máy tạo "bức xạ", v́ bức xạ liên tục tiếp diển quanh Địa cầu, mang nước muối bảo-ḥa tụ tại những bờ biển Việt-Nam như muối Ḥn Khói/Ninh-Ḥa, muối Deji/Phù-Cát, muối Mũi-Né/Phan-Thiết và vùng trời Âu có Biển Chết (Dead-Sea).

 

 Chúng ta có thể tạo nguồn bức xạ để mang lượng nước muối bảo hòa lên mặt nước trong máy, rối chiết dẩn 25% dung dịch trên mặt qua ống thoát ra ngoài, như thế 75% nước phần gần đáy máng sẽ là nước uống nguyên chất 100%.

 

 Một mô h́nh tạo "Bức xạ" có thể làm như sau:

(A). oo oo oo oo

(B). Ddvào... Bx+nước biển+DdBH(360g muối/l đi ra. .

(C). Ddvào... nước... nước. . nước. . nước đi ra... .

 

 I-Máy tạo bức xạ

"A" là mô hình giàn máy tạo bức xạ:

- "O" lớn là một bộ phận phát nhiệt, thân tṛn dài 10 dm đường kính 3 dm đặt cách mặt nước khoảng dm và được xoay thuận với nguồn nước cho vào. Để có nhiệt bức xạ 1040o C thì trục phát nhiệt cần có 1. 812o C.

-"O" nhỏ là ống dẩn khí lạnh dài khoảng 10 dm, có thể là bình gío 85o C có áp suất cao.

 

 Nguyên tắc này theo kết qủa vòng Bảo Mặt trời (1. 040o C) với nguồn nhiệt từ Mặt trời (3. 624o C) và Mercury (170o C), nhiệt độ này so với Địa cẩu chì cần 3. 624/2 = 1812o C và 170/2 = 85o C, vì áp suất không khí Địa cầu chỉ bằng 1/2 áp suất không khí Mặt trời-Mercury, như thế vận tốc bức xạ sẽ là 1, 6 triệu km/gìơ.

 Tại Địa cầu chỉ cần nguồn nóng 600o C và nguồn lạnh 30o C thì máy sẽ sinh nhiệt bức xạ 347o C với 533. 333 km/giơ = (148 km/sec). Nhiệt 600o C (kết qủa 1/3 vòng Bảo Mặt Trời) là nhiệt độ thường dùng trong công nghệ để trui kim loại bền chắc hơn, và nhiệt độ 500o C sẽ làm kim loại cứng chắc trở lại, khi trục phát nhiệt biến thiên giữa 600o C đến 500o C sẽ giữ trục kiên cố và nhiệt bức xạ không thay đổi.

 

 II-Bộ phận truyền dẫn nước biển.

*"B" là mặt phẳng máng dẩn nước biển nằm ở trên mặt được phân thành 2 nguồn nước khác nhau, gồm có nguồn nước 360g muối/lít chiếm 21% thể tích, khi cho nguồn nước trên mặt thoát ra 25% nước thì 75% nằm phần dưới đáy sẽ là nước uống trong sạch.

Nước muối bảo hòa phải nằm ở phần trên mặt nước theo cách tạo máng dẩn nước như sau:.

a. Máng dài 20 dm, rộng 10 dm, cao 1 dm.

b. Máng dài 20 dm, rộng 8 dm, cao 2 dm.

c. Máng dài 20 dm, rộng 5 dm, cao 4 dm.

d. Máng dài 20 dm, rộng 2 dm, cao 8 dm là máng cuối cùng, phần trên có trang bị ống thoát nước muối bảo hòa.

 Nối liền 4 máng với nhau, mặt máng sẽ là 8m, trong độ sâu 1 dm thì thể tích nước biển có được 500 lít trong tổng thể tích khoảng 1240 lít. Như thế nước muối bảo hòa nằm trong khoảng một dm sâu này.

-Tách ly 300 lít nước trên mặt thì 21% nước muối bảo hòa sẽ trong khoảng 300/1240 = 24% lượng nước toàn máng, như thế cũng đủ để bảo chứng phần đáy là nước nguyên chất, để an toàn hơn chúng ta cằn tháo ra 25% để giữ 75% nước ngọt ở phẩn đạy máng là nguồn nước ngọt cần thiết.

 Quan niệm bảo ḥa bức xạ với vật thể bảo-ḥa là hiện tượng tự nhiên trong Vũ trụ, bởi tính kết nối day chuyền nên giữ được bào-ḥa 360g muối/lít trên mặt nước biển, phương pháp này cần lưu ý bởi nhiệt bức xạ 347o C với 148 km/sec so với nhiệt bức xạ ánh sáng 14o C với 300. 000 km/sec gấp 25 lấn về nhiệt độ là điều chúng ta cần lưu ý để tránh tai nạn.

 

 III. -Chưng cất nước biển.

-Trước kia ngươi Á-Rập đã dùng cách chưng cất nước biển đ̉ể lấy nước nguyên chất bằng cách MED (multiple effect distillation) qua lần15 chưng cất, nhưng không rõ cách làm của họ như thế nào.

-Trong các tàu xuyên đại dương ngày nay thường tái xử dụng nước biển (180o F) đã làm nguội máy để nung tiếp đến 312o F, làm lạnh hơi nước để có nước uống được.

-Theo 2 cách chưng nước này chúng ta có thể làm máy chưng cất nhiều ngăn, ngăn trong cùng trang bị những thiết bị nung giữa khoảng 1/3 gần mặt nước, nước ở đây sẽ đạt 312o F trước và bốc thành hơi, lý luận này nằm trong "vật thể dãn nở tùy theo nhiệt độ", nước ở độ sôi có thể tích lớn nhất nên tỷ trọng nhỏ nhất, lần lượt như thế các ngăn ngoài sẽ có nhiệt độ nhỏ dần đến 80o F, lần lượt qua các lổ thông ở gần đáy thành ngăn cách để lắp số nước bị bốc hơi, như thế hệ thống này như bình thông nhau và liên tục bố hơi không ngừng, dưới ngăn chính tại đáy có ống thoát 1/4 nước muối bảo hòa trong ngăn thoát ra ngoài.

Tương lai các ghe thuyển đánh cá sẽ dùng cách chưng cất nước này để có chuyến ra khơi dài hạn hơn.

Tại California Sở Thủy Cục có hệ thống lọc muối ra khỏi nước biển để có nước nguyên chất, năm 1969 họ đã dùng film lọc "bán thấm thấu" để lọc muối, phương pháp "Reverse osmosis Membranes" làm bằng cellulose acetate, còn gọi là phương pháp CA, đến năm 1980 họ thay bằng Thin Film Composite, TFC làm bằng polyamide một phó sản từ dầu hỏa. Đến năm 2012 kỹ sư Vương-Xuân-Điến đưa ý kiến cần thay sớm thêm một film lọc hàng tháng, công suất cao và giảm gía thành, Ông được bằng khen thành phố Long-Beach/CA, đến năm 2015 trong tuổi về hưu Ông lại có sáng kiến "dẩn nước biển từ đáy sâu 300 m về để lọc" thì không được chấp nhận.

 Lý do ở vài nguyên nhân như:Tổn phí cho các đường ống dẩn cao vã lại các phó sản dầu hỏa để làm TFC sẽ không còn nữa sau này, dù rằng nước biển ở độ sâu 300 m có muối rất ít, công suất lọc có cao hơn nhiều, nhưng trên thực tế không cần thiét, có thể tiểu bang CA có công trình mới về lọc nước biển.

 

 IV. -Carbon trong khói đen đến từ đâu ?

 Qua những trình bày trên, chúng ta thấy "đất hiếm" đã hiếm, nhưng nước trong tương lai cũng sẽ hiếm vì con người càng lúc càng đông, dù rằng ngày nay mưa lũ thất thường gây nên lụt lội nhưng hạn hán cũng khũng khiếp không kém gì, hiện tượng này được giải thích theo hệ thức: 

 CO2 + 26. H2O, bảo hòa này sẽ thành mưa dưới 15o C 

lý do khoa học đưa ra là từ khí thải (CO2) thật không đủ để giải quyết vấn đề, vì họ chưa tìm hiểu nguyên nhân các cột khói đen từ ống khói kỹ nghệ có lẩn lộn nguyên tố carbon (C) từ đâu đến ? Nó đến từ CO2 chứ không phải từ lò đốt, carbon có độ thăng hoa ở 3. 624o C, nhưng lò nhiệt điện không đạt đến nhiệt độ này, cho thấy tại lò nhiệt điện chỉ CO2 và CO, CO có được bởi sự đốt carbon chưa hoàn tất trong lò.

 Hiên tượng carbon trong cột khí đen có thể giải thích như sau: 

- CO2 + 2. CO cho ra C + 2. CO2.

CO là phân tử có m=28 (như N2 có m=28) sẽ kết hợp với O2 trong CO2 cho ra C, nhờ CO2 qúa nhiều nên như chất xúc tác cho sự kết thành này, tương tự như: 

- CO2 + 2. N2 sẽ cho ra C + 2(O2+4. N2).

Không khí ở đây sẽ thoát ra ngoài ống khói, chúng ta có thể dùng Al bảo hòa thay cho N2, Al bảo hòa và không khí có cũng m=28, alumium kim loại này sẽ gĩư O2 trong CO2 trên Al, đỗng thời gữa C lại trên alumium, để hoàn tất giai đoạn này cần lượng không khí làm chất xúc tác, không khí này sẽ trung hòa O2 trên thanh alumium để hoàn lại tính Al kim loại m=28, như thế khí thoát ra ngoài là không khí thuần túy không có CO2, như thế mây trên trời chỉ là hơi nước và nhiệt độ mưa sẽ ở khoảng 21o C (312o F), Địa cầu sẽ tránh nạn mưa lũ hạn hán.

 Cách kiểm soát CO2 trong ống thóat khói xe hơi dựa trên kỹ thuật số m=29, là phân tử lượng không khí.

 Theo quan niệm dùng nhôm bảo hòa để giữ C lại, không là ý nghỉ tào lao, phương pháp này có hãng xe đã xử dụng, nhưng lại dùng sofwave m=30 nên bị cáo buộc là gian lận thương trường, thực ra sofware này chỉ để thông qua khí NO có m=30 là khí không màu không độc. Vì C sẽ là kim loại cần thíết cho các hợp kim bảo hòa sau này, năm 2010 giải Nobel vật lý cho 2 nhà vật lý học người Nga với phát minh Graffy (Pb + 195. C) là điều để chúng ta cần lưu ý kỹ thuật công nghệ cao, hãy vì Việt-Nam mà phải quan tâm hành động trong tương lai.

 

 Được-Lời (LKC)
Liên-khôi-Chương
Ngày 12/8/2019.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG               |                 www.ninh-hoa.com