Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG            |                 www.ninh-hoa.com


LIÊN KHÔI CHƯƠNG


Cựu học sinh
các trường Trung học:
 

* Bán Công:
Đệ Thất-Tứ, NK. 1961-1965

* Trần B́nh Trọng:

Đệ Tam-Nhị, NK. 1965-1967

* VT/NT: Đệ Nhất (67-68)
* TTPT/SG : HH/PT(68-70)

 



Hiện sinh sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ


 

 

 

 


 

 

Chế biến
nước uống từ nước biển.


Liên Khôi Chương

 

  

 

Ngày 22/3/2015 Quốc tế biểu dương là "Ngày của Nước", được tổ chức đều đặn từ năm 1994, ”Ngày nước quốc tế” nhắc nhở cho chúng ta biết: ”Hiện c̣n hằng tỷ người chưa tiếp cận đến nguồn nước sạch". Theo báo cáo thường niên của Liên-Hiệp-Quốc: ”Nhu cầu về nước trên thế giới tăng vọt, hiện có đến 20% lượng nước ngầm đă bị khai thác qúa mức, nếu không có biện pháp chúng ta sẽ bị thiếu nước nghiêm trọng từ nay đến năm 2030.

 

Xét về phương diện vệ sinh, hiện có đến 2, 5 tỷ người không có điều kiện vệ sinh ổn định, tác động này gây ô nhiễm cho nguồn nước, dù rằng có xúc tiến nhiều chương tŕnh, nhưng t́nh h́nh vẩn chưa cải thiện đáng kể. Để vượt qua các thách thức trên, Liên-Hiệp-Quốc đề nghị những hành động cụ thể là: ”Hạn chế sử dụng các nhà máy nhiệt điện phí dụng qúa nhiều nước phải được thay thế vào các nguồn năng lượng bền vững không ô nhiễm đến nguồn nước, cần lựa chọn các hệ thống tưới, tiêu dùng lượng nước hiệu qủa để t́m cách thức chống lăng phí nước". (rfi)

 

 Trong tương lại nhu cầu nước uống là một mối lo của con người, v́ nguồn nước sạch từ lục địa trở nên khan hiếm hơn không những bởi thời tiết khắc nghiệt mà c̣n do con người tạo nên bởi sự ô nhiểm từ các công xưởng. Đây là một đề tài đă có nhiều người đề cập đến, không những là nước uống mà c̣n là nước cần thiết cho việc sản xuất hoa màu trồng trọt nông nghiệp. Nó rất quan trọng trong lănh vực môi sinh, nước cần tinh khiết và đảm bảo sức khỏe của con người. Bởi thế việc”Chế biến nước uống từ nước biển”là nguồn cảm hứng cho nhiều người nghĩ đến.

 Nói về sáng kiến của Kỹ sư Vương-xuân-Điền”Lọc nước biển thành nước ngọt", đă được chính phủ Hoa-Kỳ cấp bằng sáng chế năm 2005, nhưng dự án của ông không được chính phủ Mỹ thuận chi cho kế hoạch”giải quyết nạn hạn hán ở California", người viết phân vân một dự án rẽ tiền như thế mà chính quyền California không xúc tiến để giải quyết vấn nạn này sắp sẽ đến nay mai, email bài viết này hầu hết mọi người đều nhận được đă vài lần, nên tôi xin có lời tŕnh bày theo ư riêng của tôi, xin mời đọc bài viết về kỹ sư Điền như sau:

 

 Kỹ sư Vương-xuân-Điềm tŕnh bày:

“Chế biến nước ngọt từ nước biển đă có từ rất lâu đời rồi, người ta cứ việc đem nước biển đun nó lên bốc thành hơi nước rồi cho qua chỗ lạnh th́ hơi nước đọng lại thành nước ngọt". Phương pháp này đă có cả ngàn năm rồi. Khoảng năm 1950, các quốc gia vùng sa mạc Ả Rập, họ dùng máy chưng cất nước biển khổng lồ nhờ một phát minh gọi là Multiple Effect Distillation, viết tắt là M. E. D. Trong phương pháp này họ sử dụng nhiệt lượng tỏa ra do hơi nước đọng lại thành nước ngọt để chưng cất nước biển mới, cứ như thế lập đi lập lại nhiều lần (khoảng 15 lần). Phương thức này làm cho người ta lấy được nước ngọt tương đối rẻ, v́ nếu đun một lần th́ tốn kém nhiều nhưng đun rồi đọng lại và cứ tiếp tục như vậy th́ giá thành nó sẽ hạ xuống.

 

 Về phần này, thật t́nh LKC tôi không hiểu là làm thế nào để”sử dụng nhiệt lượng tỏa ra cho hơi nước đọng lại để xử dụng chưng cất tiếp nước biển mới", đây là vấn đề trong”phương pháp M. E. D”với kỹ thuật khá tân tiến, thật t́nh người thường khó hiểu được, làm thế nào để tái sử dụng nhiệt từ 100 ˚C (312 ˚F) hạ xuống 21 ˚C (70 ˚F).

 LKC tôi là một sĩ quan được đào tạo từ Trường HQSQ/NT có nghe giảng qua về cách”Chưng cất nước uống từ nước biển”nhưng cũng chưa nghe qua”phương pháp M. E. D”là như thế nào, nhưng qua bài viết trên cho tôi một quan niệm”Tái sử dụng năng lượng”từ sự chưng cất nước biển.

 Thông thường động cơ tàu được làm nguội bằng nước biển, nước biển ra khỏi động cơ thường có độ nóng 80 ˚C (176 ˚F), người ta cho nước nóng này vào ḷ nung tiếp tục nung và bốc hơi ở độ sôi 100 ˚C (312 ˚F).

 Chúng ta cần phân biệt”độ sôi của nước”là 100 ˚C, nhưng”độ bốc hơi”th́ bất cứ nhiệt độ nào cũng có”sự bốc hơi", sự bốc hơi càng mạnh khi nhiệt độ ở 100 ˚C. Ḷ nung là ḷ có trang bị những thanh điện trở nằm ở bên trong ḷ nung chính, ḷ càng nhỏ th́ điện trở làm sôi nước bốc hơi càng nhanh. (Thông thường xung quanh ḷ nung chính thường bao bọc bởi lớp cách nhiệt, insurlation, để không cho nhiệt thoát ra ngoài không gian trong pḥng chứa ḷ nung). Ở đây chúng ta tiết bị xung quanh ḷ chính có nhiều ngăn chứa nước biển chảy vào từ động cơ máy tàu để ngăn cách nhiệt thoát ra từ ḷ chính và kế tiếp với ngăn cách nhiệt ṿng 2. . ṿng 3. . 4. . 5. . 6 v. v. . . Ḷ nung chế biến nước uống theo cách này sẽ tái xử dụng nhiệt năng từ ḷ chính. Như thế nhiệt độ nước biển trong các ṿng ngăn ở ṿng ngoài sẽ có độ nóng khác biệt theo từng ngăn và thấp dần đến độ nước biển 80 ˚C từ động cơ tàu chảy vào ḷ chính. Ḷ nung được cách nhiệt theo nhiều ngăn như thế này ngăn gần ḷ nung nhất sẽ có nhiệt ˚Cao hơn những ngăn nằm ở bên ngoài, ngăn ngoài cùng ở nhiệt độ 80 ˚C (176 ˚F) của nguồn nước nóng thoát ra từ máy tàu. Ḷ nung này có thể chạy liên tục bởi sự tiếp nước biển liên tục từ động cơ tàu, các ngăn được thông nhau bởi một cửa nhỏ ở thành bên trong giữa các ngăn, cửa này sẽ có lưu lượng nước vào bằng lượng nước tạo thành do sự bốc hơi để trở thành nước uống, các cửa thường nằm ở phần trên của ngăn nhưng dưới mặt phẳng mực nước của ḷ nung (khoảng 1/10 chiều cao của cột nước trong ḷ chính). Chỉ riêng 2 cửa nằm ở phần gần đáy ḷ, đó là cửa dẩn nước biển từ động cơ vào thành ngoài cùng của hệ thống ḷ nung (cửa này cao hơn đáy ḷ 1/10 cột nước) và cửa thứ 2 là cửa nằm trên vách ngăn giữa ḷ nung chính và vách ngăn cách của ṿng ngăn thứ nhất (cửa này phải nằm khoảng cách đáy ḷ 1/4 cột nước).

 Tại sao cửa thông ở đây phải ở vị trí 1/4 cột nước tính từ đấy ḷ (như sự giải thích trong bài dùng”bức xạ tách muối rời khỏi nước b́ển", LKC tôi có giải thích 100 lít nước biển (75g/lít) sẽ có kết qủa 21 lít nước muối (360g/lít), để an toàn chúng ta để”bức xạ tách rời khỏi hệ thống hết 1/4 nước ở phần trên để chúng ta có 75 lít nước ngọt tinh khiết), nghĩa là 1/4 nước muối nằm bên dưới đáy ḷ là dung dịch nước muối 360g/lít chiếm 21/100 nằm ở đáy ḷ, chúng ta sẽ tháo nước muối này trở lại biển cả. Ḷ nung kiểu này sẽ liên tục hoạt động không ngừng, chúng ta sẽ tính được bài toán này, vài ḍng để các bạn cùng để tâm vào trong công nghệ”Chế biến nước uống từ nước biển", v́ chỉ cần có”Ḷ nung”và năng lượng đốt ḷ.

 

 Kỹ sư Vương-xuân-Điền tŕnh bày tiếp :

 Đến khoảng năm 1969, Hoa Kỳ phát minh ra một dụng cụ gọi là màng bán thẩm (Reverse Osmosis Membranes). Đầu tiên màng bán thẩm này làm bằng Cellulose Acetate (CA), người ta dùng áp lực ép nước đi ngang màng bán thẩm đó, chỉ có nước đi ngang c̣n muối đọng lại, đó là một phát minh mới lấy nước ngọt từ nước biển tương đối dễ dàng. Đến đầu thập niên 1980 họ lại có một phát minh mới. Thay v́ dùng màng bán thẩm CA th́ họ dùng Thin Film Composite (TFC) làm bằng Polyamide (PA) tức là một phó sản của dầu hỏa. Từ khi phát minh ra cái này, giá thành lại rẻ hơn trước, và do đó sản xuất nhiều hơn trước, và từ đó đến nay phương pháp này được ứng dụng nhiều hơn phương pháp đun sôi nước để đọng lại. Tuy nhiên, dù giá thành đă hạ xuống nhưng vẫn c̣n khá đắt. Thường thường người ta phải dùng 30 KW điện mới làm được 1, 000 gallon nước ngọt. Dần dần họ cải thiện và bây giờ giảm xuống c̣n khoảng 12 KW cho 1, 000 gallon, tương đối nhiều và rẻ.

 

 Phương pháp ở đây chỉ nói lên sự tiến bộ của ngành lọc nước, con người có thể lọc muối ra khỏi nước biển để có”nước uống”cần dùng, cũng như lọc tất cả các chất bẩn từ nguồn nước cặn bả, đây là một tiến bộ lớn trong ngành lọc nước hiện nay. Một điều chúng ta cần để ư : Đó là nguồn nước ô nhiểm hóa chất, không đề cập đến, điều này nói lên việc lọc nước c̣n nằm trong giới hạn nhỏ chưa được phổ biến trong công tŕnh lớn, chúng ta đọc bài viết tiếp sau đây trong cùng tác gỉa đă viết về kỹ sư Điền.

 

 Sáng chế máy lọc nước biển rẻ tiền

Sau khi mời chúng tôi uống nước, kỹ sư Vương Xuân Điềm nói tới kỹ thuật mới do ông sáng chế. Ông cho biết, vào năm 2002, khi nghiên cứu phương pháp ép nước biển thành nước ngọt, ông nghĩ nếu bây giờ ḿnh đưa nước biển vào ép một lần th́ nó sẽ đắt tiền hơn là ḿnh làm thành nhiều giai đoạn. Do đó, ông chia phương pháp của ông thành hai giai đoạn. Sáng kiến này được thành phố Long Beach kiểm nhận và sau đó ông được chính phủ Hoa Kỳ cấp bằng sáng chế vào năm 2005. Phương pháp làm hai giai đoạn của ông khiến giá thành rẻ đi 15%.

 

 Khi về hưu, ông tiếp tục nghiên cứu và cho rằng nếu người ta mang nước biển vào nhà máy biến chế rồi thải nước mặn ra và giữ nước ngọt lại, như thế tại sao không đem những màng bán thẩm bỏ ra ngoài biển lấy nước ngọt đem về, khỏi phải mang nước biển về rồi lại phải đem đi đổ nước mặn, làm như vậy đỡ công hơn. Phương pháp này tính ra chỉ tốn có 4 KW mà làm ra được 1, 000 gallon ngước ngọt, tức là giá thành rẻ chỉ bằng 1/3 giá thành của các nhà sáng chế trước đó.


Ông cho biết thêm, California được cung cấp nước bởi hai nguồn nước, một là từ sông Colorado bơm về, một nguồn nữa là do các hồ chứa nước trên miền Bắc chuyển xuống. Nước từ sông Colorado phải cần 6. 2 KW cho 1, 000 gallon, nhưng đối với nước lấy từ miền Bắc xuống th́ xa hơn và nó phải đi qua nhiều dăy núi nên mất khoảng 9KW cho 1, 000 gallon, trong khi đó lấy nước ngọt từ biển vẫn đắt hơn. So sánh với phương pháp của ông chỉ mất 4KW th́ thật là rẻ. Nhưng phương cách của ông có hai trở ngại, một là phải mang điện ra biển để chạy máy bơm, hai là nước ngọt mang từ độ sâu khoảng 300 mét ngoài biển về làm sao để không bị nhiễm nước biển, tức là phải tốn kém về đường ống v́ phải đi xa và thật kín, nước biển không lọt vào nước ngọt được, và như thế, theo ông phải là dự án lớn mới có thể thực hiện được. Ông đă thử màng bán thẩm ở độ sâu như vậy và thấy nước ngọt rất OK, nhưng vẫn chưa khắc phục hai trở ngại như đă nói.

 

 Bài viết trên là lời giải thích rơ ràng nhất của Kỹ sư Vương-xuân-Điền, Ông chỉ hy vọng sáng kiến của Ông sẽ được thực dụng sau này, chắc Ông cũng hiểu lư do tại sao chính quyền California và chính phủ Liên bang Hoa-Kỳ không tài trợ ngân qũy để phát triển kế hoạch, sáng kiến th́ hay nhưng tổn phí xây dựng tốn kém qúa nhiều, không thể v́ giảm được 1/3 gía thành về điện (năng lượng)  mà  điên rồ trong một ngân khỏang khổng lồ khó có thể bù đắp được trong tương lại, trong khí gía điện ở Mỹ th́ quá rẽ. Như chúng ta thấy: phương pháp lọc lại lần nữa, nghĩa là phải dùng thêm 1 màng lọc nữa, điều này đương nhiên lượng nước 1000 gallon cần thời gian ít hơn nên kết qủa giảm 15/100 giá thành, như thế việc giảm chi gía thành rất nhỏ, nhưng đồ án của Kỹ sư Vương-xuân-Điền tốn ngân khỏang qúa lớn. Người viết bài có nghỉ đến vấn đề này không?Người viết chỉ trích chính quyền California và Chính phủ Liên-Bang Mỹ không làm tṛn trách nhiệm, ư nghỉ này có phải hẹp ḥi không ?

 Chúng ta cần trung thực với cục diện thực tế để tŕnh bày vấn đề, đây mới là”Nguyên tắc chính để hành động", vậy những phương pháp vừa kể như trên có phải là phương pháp”Chế biến nước uống từ nước biển”không ? Thành thật mà nói, chỉ có”Cách làm nước biển bốc hơi để thành nước uống”là hợp lư nhất, (v́ dụng cụ trang bị chỉ có ḷ nung và nguồn điện), c̣n phương pháp dùng màng lọc th́ cần liên tục thay màng lọc và chỉ là phương pháp lọc nước, v́ nó không có tính cách phổ quát lâu dài, sự chi phí các dụng cụ trang bị cần thiết cho sự sản xuất th́ qúa cao, không lẻ chỉ cần xử dụng 10 năm. . 15 năm rồi ngưng.

 

 Phương pháp chưng cất ngày nay th́ c̣n chịu ảnh hưởng đến gía điện, nhưng trong tương lai gía điện sẽ rất thấp th́ kỹ nghệ”Chế biến nước uống từ nước biển”vẩn sẽ dùng trở lại, trong trường hợp này cách chưng cất tiết liệm năng lượng trong 2 phương thức vừa kể ở trên (phương pháp M. D. E và cách dùng thành nước như chất cách nhiệt) để chúng ta có ”nước uống”cần nên để ư đến chú ư đến.

 

 Theo LKC tôi nghĩ nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn trong tương lại, phương pháp dùng bức xạ để tách rời muối ra khỏi nước biển”cũng sẽ là một kỹ nghệ trong tương lai, phương pháp”Dùng bức xạ để có nước uống từ nước biển", đây cũng sẽ là một”Địa công nghệ”sau này, nó không những giúp cho nhân loại có đủ nước để dùng mà c̣n có thể làm xanh các phần đất khô cằn từ xưa đến nay, có thể biến sa mạc trở thành nơi trồng trọt. Ở đây LKC tôi chỉ gợi ư để mọi người cùng lưu tâm chung cho ngành”Địa công nghệ”này, v́ Địa cầu đang trong thời kỳ báo động mà sự quyết định chỉ nằm chờ ở các nhà khoa học quyết định trong tháng 12/2015 năm nay, như chúng ta đă thấy thật qúa mơ hồ và càng nguy hiểm hơn khi có người  đưa  đề án  quyết định phun các nguyên tử lưu huỳnh vào tầng đối lưu không khí ở thượng tầng khí quyển của Địa cầu này, trong khi con người có thể thu hồi lượng CO2 thải ra từ các công xưởng và cải biến nguồn nước biển trở thành nước uống theo phương cách dùng”bức xạ".

 

 Để nói rơ hơn về công nghệ này, LKC tôi đua ra những nhận xét thu thập được từ sự bảo ḥa của nước biển 75g muối/lít đến sự kết thành 360g muối/lít như sau:

 Chúng ta thấy nước biển 360g muối/lít thường nằm ở gần bờ, bờ biển là nơi có nhiệt ˚Cao hơn ngoài khơi, đấy biển cũng là nơi có nhiệt ˚Cao v́ nằm kề với khối nham thạch trong ḷng Địa cầu, phân tử nước từ đấy biển tiếp thu nhiệt nên trọng khối nhẹ hơn có khuynh hướng trồi lên mặt nước, sự chuyển động này sẽ mang những phân tử nước muối bảo ḥa (75g/lít) lên mặt biển và được đưa đẩy vào bờ tạo thành vùng biển có độ muối 360g/lít. Như thế chúng ta thấy trong máy”Tạo bức xạ”để tách rời muối ra khỏi nước biển th́ nguồn”Bức xạ”phải có nhiệt ˚Cao nhất trong máy, vậy nhiệt ˚Của bức xạ là bao nhiêu ? Ở đây LKC chọn 80 ˚C, nhiệt độ nước không có hiện tượng sôi nhưng vẩn ở trạng thái bốc hơi nên có sự tiếp sức cho bức xạ di chuyển càng nhanh hơn cũng giúp cho sự hấp thu chất bảo ḥa trong nước biển càng mạnh hơn, nằm trong nhiệt độ khoảng 80 ˚C th́ độ nóng”bức xạ”có thể làm tụ lại lượng nước muối bảo ḥa 75g/lít thành bảo-ḥa 360g/lít được tách rời khỏi nước biển, lượng nước biển có muối 360g/lít chỉ chiế 21/100, tuyệt đối hơn chúng ta cho nó thoát khỏi nguồn nước bảo-ḥa trên mặt là 25/100 để chúng ta có 75/100 nước uống tinh khiết. Trong cách nh́n này vẩn c̣n sự bỏ quên là”nhiệt từ đấy biển”tạo sự đưa đẩy nước muối lên mặt biển. Vậy trong máy”Tạo bức xạ”để tách rời muối ra khỏi nước biển, th́ phần đấy của máng dẩn nước biển vào cần trang bị thêm”điện trở”để có nhiệt độ khoảng 40 ˚C tiếp trợ trong sự bốc hơi, như thế máy”tạo bức xạ”sẽ được hoàn mỹ hơn.

 

 Cách làm máy”bức xạ”tách muối ra khỏi nước biển hoặc máy chưng cất nước biển là loại máy kỹ thuật rất đơn giản mà hầu hết quốc gia nào cũng có thể làm được, những loại máy này có tính cách vĩnh viển (v́ chúng ta có thể xử dụng nguyên lư bảo ḥa để làm thành những kim loại cần thiết cho máy), khi máy xử dụng chỉ tốn điện duy nhất, nhưng điện ngày nay chúng ta có thể dùng đến”Điện mặt trời", trong cách nh́n này nhóm”xă hội dân sự", có thể trực tiếp điều hành để khuyến khích chính quyền tiếp tay, khi chính quyền tham gia vào th́ quốc gia đó không c̣n sợ thiếu nguồn nước sạch để uống cũng như nước để trồng trọt.

 

 Một lư giải cuối cùng về ”Máy bức xạ chế biến nước uống từ nước biến” để chúng ta tin tưởng là máy sẽ hoàn tất công việc này từ”Nguyên lư Bảo-ḥa”:

 *Bảo-ḥa lần đầu, (m=19)

*NaCl(59) + 41. H2O(18) 

ta có 59g. NaCl + 738g H2O(18) 

suy ra : 59g muối/(59cc+738cc)

 hoặc 74g. muối/lít nước muối bảo-ḥa (m=19).

Trong cách tính này, tôi xem thể tích trọng lượng muối có cùng thể tích như số đă ghi cho trọng lượng (gần đúng, chỉ nhỏ 1 chút), tiếp tục trong cách tính này chúng ta sẽ có :

 *Bảo-ḥa lần hai, (m=20)

*NaCl(59) + 40. H2O(19) + H2O(18)

ta có 59g NaCl trong 760g. H2O(19)+H20(18)=778cc

suy ra tổng thể tích 59cc+778cc=837cc 

vậy tổng lượng muối: 59g muối + lượng muối trong 760cc H2O(19) là : 74g/1000cc x 760cc = 56g

vậy tổng cộng lượng muối 59g + 56g = 115g muối trong 837cc 

suy ra: 1 lít nước muối bảo-ḥa (m=20) có 137g/lít.

 *Bảo-ḥa lần ba, (m=21)

*NaCl(59) + 39. H2O(20) + H20(19) + H2O(18)

ta có tổng thể tích: 59cc+780cc+19cc+18cc=876cc

-lượng muối trongNaCl(59)=59g

-trong 780cc H2O(20)=780x137/1000=107g 

-trong 19cc H2O(19)=2g

vậy tổng lượng muối: 59g+107g+2g=168g muối trong 876cc 

suy ra : 1 lít muối bảo-ḥa (m=21) có192g/lít.

 *Bảo-ḥa lần tư, (m=22)

*NaCl(59) + 38. H2O(21) + H2O(20) + H2O(19) + H2O(18).

ta có tổng thể tích: 59cc+ 798cc+20cc+19cc+18cc=914cc

-lượng muối trong NaCl(59)=59g 

-trong 798g. H2O(21)=798x192/1000=153g

-trong H2O(20)=20X137/1000=3g

trong H2O(19)=19X74/1000=2g

vậy tổng lượng muối: 59g+153g+3g+2g=217g 

ta có 217g muối trong 914 cc nước 

suy ra: 1 lít muối bảo-ḥa (m=22) có 237g/lít.

 *Bảo-ḥa lần năm, (m=23) 

*NaCl(59) + 37. H2O(22) + H2O(21) + H2O(20) + H2O(19) + H2O(18).

ta có tổng thể tích: 59cc+ 814cc+21cc+20cc+19cc+18cc=951cc

-lượng muối trong NaCl(59)=59g 

-lượng muối trong 814g. H2O(22)=814X237/1000=193g 

-trong H2O(21)=21x192/1000=4g

-trong H2O(20)=3g

-trong H2O(19)=2g 

vậy tổng lượng muối: 59g+193g+4g+3g+2g=261g

ta có 261g muối trong 951cc nước

suy ra : 1 lít muối bảo-ḥa (m=23)có 275g/lít.

*Bảo-ḥa lần sáu, (m=24).

*NaCl(59)+36. H2O(23)+H2O(22)+H2O(21)+H2O(20)+H2O(19)+H2O(18).

ta có tổng thể tích: 59cc+828cc+22cc+21cc+20cc+19cc+18cc=987cc.

-lượng muối trong NaCl(59)=59g

-lượng muối trong 828g(H2O(23)=828x275/1000=227g

-trong H2O(22)=22x237/1000=5g

-trong H2O(21)=4g

-trong H2O(20)=3g

-trong H2O(19)=2g

vậy tổng lượng muối: 59g+227g+5g+4g+3g+2g=300g

ta có 300g muối trong 987cc nước

suy ra: 1 lít muối bảo-ḥa (m=24) có 304g/lít.

*Bảo-ḥa lần bảy. (m=25).

*NaCl(59)+35. H2O(24)+H2O(23)+H2O(22)+H2O(21)+++H2O(18).

ta có tổng thề tích: 59cc+840cc+23cc+22cc+21cc+20cc+19cc+18cc=1004cc.

-lượng muối trong NaCl(59)=59g

-lượng muối trong 840gH2O(24)=840x304/1000=255g

-trong H2O(23)=23x304/1000=7g

-trong H2O(22)=5g

-trong H2O(21)=4g

-trong H2O(20)=3g

-trong H2O(19)=2g

vậy tổng lượng muối: 59g+255g+7g+5g+4g+3g+2g=335g

ta có 335g muối trong 1004cc nước

suy ra: 1 lít muối bảo-ḥa (m=25) có 334g/lít.

 

 Như thế Bảo-ḥa 360g NaCl/lít sẽ bước sang bảo-ḥa lần tám cho chúng ta biết có phân tử lương nằm giữa m=25 và m=26 vẩn c̣n nhẹ hơn không khí m=29. như thế 21/100 của 360g muối/lít được tách cùng 25/100 dung dịch trên mặt máy bức xạ là an toàn cho 75/100 nước c̣n lại ở phần dưới của máng chứa, đó là nước uống được.

 Qua bảo-ḥa lần thứ bảy chúng ta thấy: ”Bảo ḥa lần thứ bảy rất lư tưởng cho việc tách rời muối khỏi nước biển, v́ đây là kết qủa của sự bào ḥa bền, nó sẽ thu năng lượng rất mạnh từ bức xạ, với lực chuyển động bức xạ mạnh hơn ở nhiệt độ 80 ˚C sẽ lôi muối trồi lên mặt nước của máng dễ dàng, tạo điều kiện tốt cho sự phân chia nguồn nước chứa muối (360g/lít) và nguồn nước uống được. Sự lựa chọn Bảo-ḥa lần thứ bảy với m=25 là hợp lư, hy vọng mọi người đặt niềm tin ở đây : Địa cầu này sẽ hóa xanh trong Địa công nghệ”. Chế biến nước uống từ nước biển”qua phương thức”dùng bức xạ nhân tạo”mà tôi đă tŕnh bày.  

 

 LKC xin tạm tŕnh bày một mô h́nh tạo”Bức xạ”nhỏ như sau:

(A). oo oo oo oo

(B). Ddvào. . Ddvào. . Bức xạ+Dd. . . BX+DdBảoḤa. . DdBH đi ra. .

(C). Ddvào. . Ddvào. . . Ddvào. . . nước. . . nước. . nước. . nước đi ra. . . .

 

*(A) là giàn máy 4 th́: O là một bộ phận phát nhiệt, thân tṛn h́nh vành khăn dài 10 dm đường kính 3 dm được xoay ngược với chiều quay kim đồng hồ. Thân tṛn là khối kim loại có 2 ṿng h́nh vành khăn dày 0. 4 dm, chính giữa 2 ṿng h́nh vành khăn là 0. 4 dm là khoảng không được thiết bị những điện trở (resistan, element, điện cực tụ nhiệt được gắn chặc trên mặt ngoài thành vành khăn nhỏ) để làm nóng 2 ṿng h́nh vành, h́nh vành khăn nhỏ có bán kính ngoài là 0. 7 dm và bán kính trong là 0. 3 dm. Bên thân trong h́nh vành khăn nhỏ có những lổ thông nhau đến một trục cố định đường kính nhỏ hơn 0. 6 dm để giữ thân h́nh vành khăn có thể chuyển động theo chiều ngược với kim đồng hồ, các lổ trên h́nh vành khăn nhỏ đồng thời cũng là mạch điện dẩn vào làm nóng các điện trở bên trong, điện vào được bên trong ở dưới dạng tiếp xúc giữa ṿng trong h́nh vành khăn nhỏ và trục cố định.

Nhiệt ˚Cần thiết cho khối kim loại này là 970 ˚F (521 ˚C, có độ nóng nhưng kim loại không thấy sáng, có tính cứng chắc hơn), 1140 ˚F (615 ˚C, kim loại có chút sáng và có tính mềm bền), 1850 ˚F (1010 ˚C, kim loại sáng đỏ, có tính cứng không bền).

*"O”nhỏ là ống cố định dài khoảng 10 dm, đây là nơi sẽ bắn ra những”hơi lạnh”dọc theo đường ống và song song với trục”phát nhiệt”từ một máy điều ḥa không khí.

*(B) và (C) là một máng (tray) cho dung dịch chạy vào máy. Khi”Bức xạ”được bắn ra sẽ lướt nhanh trên mặt dung dịch và kéo những”Chất bảo ḥa”lên phần trên mặt dung dịch, ta gọi lớp dung dịch”Chất bảo ḥa”này là (B) và lớp dung dịch phần dưới là (C), (C) chính là lớp nước (H2O). Phần cuối cùng của máng là một khóa phân chia (B) và (C) thành 2 nguồn phân biệt rơ ràng.

 Sau đây là máng chứa dung dịch điển h́nh:

a. Máng dài 20 dm, rộng 10 dm, dd vào cao 0. 5 dm.

b. Máng dài 20 dm, rộng 7 dm, dd vào cao 0. 8 dm.

c. Máng dài 20 dm, rộng 4 dm, dd vào cao 1. 4 dm.

d. Máng dài 20 dm, rộng 2 dm, dd vào cao 2. 5 dm.

 Thật ra 4 máng nối liền với nhau để có một máng liên tục dài 8 m. Mỗi máng có dung tích khoàng 100 lít dung dịch, chiều cao của máng có sự khác biệt về chiều sâu để giữ mặt phẳng bên trên không chênh lệch tạo điều kiện thuận tiện cho”bức xạ”di chuyển trên mặt dung dịch. Từ mặt phẳng dung dịch vào đến nắp che kín máng khỏang chừng 0. 1 dm đến 0. 2 dm, không gian càng nhỏ”bức xạ”di chuyển càng mạnh và nhanh hơn, 100 lít nước biển đi vào có tổng cộng lượng muối 7500 gram muối, sau khi”bức xạ”7500 gram muối sẽ thu gọn vào 21 lít (7500g/20. 8 lít), như thế sự tách rời muối khỏi nước biển trong cách dùng”bức xạ”vẩn là niềm hy vọng để tạo Địa cầu xanh thêm, 75/100 nước ngọt lấy từ nước biển là nguồn năng lượng rất vĩ đại, rất cần thiết cho sự làm xanh Địa cầu.

 Đây là ư riêng LKC trong quan niệm bảo ḥa là kết hợp những vật thể chuyển động, có đặc tính thu năng lượng, bởi thế nó dễ bị nguồn năng lượng mạnh kéo đi khi đi ngang qua nó.

 

______________

 

 

Liên-khôi-Chương
Được-Lời (LKC)
16/04/2015

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG               |                 www.ninh-hoa.com