Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG            |                 www.ninh-hoa.com


LIÊN KHÔI CHƯƠNG


Cựu học sinh
các trường Trung học:
 

* Bán Công:
Đệ Thất-Tứ, NK. 1961-1965

* Trần B́nh Trọng:

Đệ Tam-Nhị, NK. 1965-1967

* VT/NT: Đệ Nhất (67-68)
* TTPT/SG : HH/PT(68-70)

 



Hiện sinh sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ


 

 

 

 

 

 

 

BỘ NĂO VÀ TRÁI TIM

LIÊN KHÔI CHƯƠNG

 

  

 

PHẦN 2
 

 

 SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI BÁN CẦU NĂO

 

Từ hơn 200 năm nay, các nhà khoa học đă nghiên cứu về sự khác biệt giữa hai bán cầu năo bộ con người. Người đầu tiên là DuPuis. Năm 1780, DuPuis đă tuyên bố là con người có bộ óc đôi, v́ có hai bán cầu. Gần một thế kỷ sau, Arthur L. Wigan đă chứng kiến cuộc giảo nghiệm một người đă chết mà năo bộ chỉ có một bán cầu. Người này lúc sống cũng đi, đứng, nói năng, và có ư thức như một người b́nh thường. V́ vậy Wigan rất hào hứng đưa ra thuyết “Con người có nhị trùng tâm”. Thuyết này gây nhiều hứng khởi cho các nhà khoa học Hoa Kỳ.Cho tới thập niên 1970, tiến sĩ Roger W. Sperry nhờ giải phẫu cắt rời hai bán cầu năo để chữa bệnh “kinh phong”, đă khám phá ra vài điều mới mẻ. Trong bài diễn văn lănh giải Nobel Y học năm 1981, tiến sĩ Sperry nhận định: “Khi hai bán cầu năo bộ bị cắt rời, đương sự sẽ hành xử khác nhau như hai con người khác nhau, tùy theo bán cầu năo Trái hay Phải được sử dụng”.

 

Những nghiên cứu và quan sát tiếp theo các bệnh nhân bị tách năo làm đôi (để trị bịnh kinh phong) cho các nhà khoa học kết luận rằng: Khi 2 bán cầu năo c̣n dính liền nhau th́ hoạt động “bổ túc” cho nhau; c̣n khi bị mổ tách rời th́ sẽ hoạt động như 2 bộ năo “độc lập”, riêng biệt. (Tiến sĩ Jekyll).

Nhờ hai bán cầu năo Trái và Phải hoạt động bổ túc cho nhau nên con người mới có những nhận xét, hiểu biết về nhân sinh và vũ trụ một cách rất độc đáo. Sự bổ túc này rất hài ḥa đến nỗi chúng ta không thể phân biệt được khi nào chúng ta sử dụng bán cầu năo Trái hoặc bán cầu năo Phải.

 

 Thông thường chúng ta có thể biết từ sự phân biệt người thuận tay Phải hay tay Trái để đoán người đó thiên về bán cầu năo Phải hay Trái. Do bởi bán cầu năo Phải điều khiển nửa phần thân thể bên tay Trái, và bán cầu năo Trái điều khiển nửa phần thân thể bên tay Phải.

 

 C̣n người thuận sử dụng bán cầu năo Phải hay Trái th́ lại khác. Muốn biết một người thiên về sử dụng bán cầu Phải hay Trái th́ hăy quan sát cách họ “nói năng” (sử dụng ngôn ngữ) và cách họ "nghe" và "hiểu" lời nói (tiếp nhận và giải mă ngôn ngữ) của người khác. Nói chung, gần như 85% dân số thuận tay Phải và thiên về sử dụng bán cầu năo Trái. Và khoảng 60% người thuận tay Trái cũng thiên về sử dụng bán cầu năo Trái. Như vậy số người thuận sử dụng bán cầu năo Phải không nhiều (40% của 15% c̣n lại là 6%).

 

 Khi các dữ kiện (ánh sáng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác, ư tưởng) hằng ngày không ngớt tràn ngập năo bộ con người qua các giác quan, th́ bán cầu năo Phải tiếp nhận các dữ kiện này bằng h́nh ảnh được dán chồng lên nhau theo thứ tự không có thời gian và không gian thật sự...“Nỗi buồn” hay “thất vọng” cũng được năo Phải lưu giữ bằng h́nh ảnh trong một bối cảnh nào đó. Những h́nh ảnh này được lưu giữ cho dù sự kiện đă xảy ra cách nhiều năm, khi hồi tưởng lại, chúng ta vẩn tưởng như đang “thấy” trước mắt, nhất là những h́nh ảnh đó ngày xưa đă gây quá nhiều ấn tượng.

 

Với năo bộ Phải, sự ghi nhận không có thời gian với đầy đủ cảm giác rất sống động. Năo bộ Phải không bị g̣ ép phải “suy tưởng” theo một nguyên tắc hay khuôn khổ lề luật nào, đó là năo bộ của các nghệ sĩ, tu sĩ, nhà đạo đức, các nhà khoa học lo cho tương lai nhân loại, chuyên nghĩ đến những việc mà người “b́nh thường” không hề nghĩ đến.

 

 Năo bộ Phải, phần trước trán, cũng làm cho chúng ta nghĩ đến t́nh nhân loại, nghĩa đồng bào, biết thương yêu nhau, giúp đỡ, nhường nhịn, sống chung hay chết chung với nhau.

 

 Năo bộ Trái th́ ngược lại trong việc ghi nhận các dữ kiện. Tiếp nhận những sự kiện từ năo bộ Phải như là h́nh ảnh của một tổng thể, năo bộ Trái đem ra phân tích, phê phán và sắp xếp theo h́nh dáng, màu sắc, âm thanh, mùi vị, thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai), t́nh cảm (thương ghét, vui buồn), khối lượng (nặng nhẹ, lớn nhỏ)...

 

 Nói chung là năo bộ Phải nh́n mọi sự dưới dạng toàn cảnh và tổng thể; c̣n năo bộ Trái th́ dùng ngôn ngữ để mô tả từng chi tiết, theo thứ tự thời gian, theo phân biệt t́nh cảm. Thí dụ: Năo bộ Phải khi gặp một người th́ ghi nhận ngay h́nh ảnh người ấy gặp trong một khung cảnh nào đó. Năo Trái sẽ ghi chi tiết: nam nữ, chủng tộc, cách ăn mặc, nói năng, học vấn, cá tính... (Ở điểm này, ta gọi là óc nhận xét). Hay nh́n một đóa hoa. Năo bộ Phải chỉ ghi nhận: đóa hoa và bất cứ hoa ǵ th́ cũng thấy đẹp. C̣n năo Trái sẽ ghi hoa ǵ, màu ǵ, mùi ǵ, cánh hoa, đài hoa, cuống hoa, xấu, đẹp như thế nào.

Nhờ thu nhận h́nh ảnh người, vật, cảnh nên năo bộ Phải nh́n chung điều ǵ cũng đẹp, dễ thương, độc đáo, biết tôn trọng vật hay người đă nh́n thấy, và thấy cá nhân ḿnh chỉ là một phần trong toàn phần, không có sự kỳ thị, phân biệt hơn kém, thương ghét.

Trái lại "Năo bộ trái" tạo ra nhiều dễ dàng trong đời sống, nhưng cũng từ đó làm cho đời sống thêm phức tạp hơn lên, với chức năng phân tích để phân biệt theo gía trị và xếp loại theo hạng mục. Thêm nữa, "Năo bộ trái" có khả năng ngôn ngữ nên biết diễn tả mọi sự mọi vật thật chi tiết, rơ nét, dễ hiểu, làm cho sự hiểu biết của loài người được tích lũy và lưu truyền càng ngày thêm phong phú, khiến cho con người càng ngày một thông minh, tiến bộ qua quá tŕnh tiếp thu kiến thức hàng ngàn năm. Với những kiến thức được phân loại theo hạng mục, con người cũng tiên đoán được những ǵ sắp xảy ra, tránh được phần nào tai họa (thời tiết, giông băo, động đất, sóng thần...). Nhưng cũng chính với những khả năng đặc biệt của năo bộ Trái, con người, và chỉ có loài người mà thôi, đă tạo ra biết bao khốn khổ cho chính ḿnh và người chung quanh.

 

"Phiền năo từ trái tim".

 Nội chụm từ này cũng đă cho chúng ta thấy cái nguyên nhân của sự phiền năo, làm phiền cái năo từ trái tim, không phải đơn giản như "phiền phức" thông thường.

 Như vậy chính cái tim gây nên "phiền năo" bởi "Hỷ Nộ Ái Ố", 4 trạng thái này làm trái tim cảm xúc mạnh từ bộ năo, như vậy "Hỷ Nộ Ái Ố" bắt đầu từ phần nào của bộ năo đây?

 

 Bà Jill Taylor ghi lại: "Ngày đầu tiên bị xuất huyết năo với nỗi hăi hùng cay đắng nhưng ngọt ngào, khi năo thùy trái không c̣n hoạt động b́nh thường được nữa, tôi mất đi ư thức về giới hạn của thân thể vật chất". Nỗi "hăi hùng cay đắng" là cảm xúc của năo trái, nhưng "ngọt ngào" là cảm xúc của năo phải, theo như Bà phân tích ở phần trên, "năo phải" như một cái máy chụp h́nh, nên mọi cảnh đều là đẹp cả, c̣n "năo trái" thu nhận những h́nh ảnh của "năo phải" đem phận tích và tổ chức lại thành hệ thống, nhờ có khả năng ngôn ngữ nên diễn đạt một cách hoàn mỹ hơn.

 

 Như vậy chúng ta thấy "năo phải" chỉ có h́nh ảnh đẹp, nghĩa là chỉ có "Hỷ và Ái". Thật vậy đó là ư thức ban đầu của đứa trẻ mới sinh, khi nó biết nh́n thấy, nên chúng ta chỉ thấy nó mĩm cười (vui), c̣n khi nó khóc chỉ là một trạng thái tự nhiên v́ nó đói, cũng như khi nó khóc mới lọt ḷng mẹ là v́ nó bắt đầu cuộc sống mới khác với cuộc sống trong bụng mẹ, thân thể nó nhận được sự khác biệt này, cảm giác này cũng là vấn đề tự nhiên. Khi người mẹ cho nó bú sữa, v́ nó thích (yêu, thương) cái vú của người mẹ nên mỉm cười. Do đó chúng ta thấy đứa bé mới sinh chỉ có "vui và thương" từ bộ năo của nó, phải nói rơ hơn là "Năo thùy phải" của nó bắt đầu hoạt động, "Nhận chi sơ tính bổn thiện" là ở chỗ này.

 

 Chính cái tâm quá cảm xúc sinh ra phiền năo, v́ đây là những cảm xúc không phù hợp với sự mong muốn của chúng ta làm nên chướng ngại tâm tư rồi nhiễu nhương đến tri thức (năo thùy phải), rồi năo thùy trái tiếp nhận với sự bày biện phán đoán đă vạch sẵn làm tim đập dị thường tạo nên gịng máu có tầng số khác biệt, "Hỷ, nộ, ái, ố" không gióng nhau, khiến năo bộ quyết định hành xử tạo nên trạng thái con người bất ổn, cứ thế năo phải tiếp nhận rồi năo trái lại ghi nhận phát sinh tín hiệu nhiễu nhương đến con tim. Vậy "Hỷ, Nộ, Ái, Ố" là nguyên nhân của bệnh tâm thần do chính năo trái làm nên t́nh trạng "Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố".

 

 "Tham Sân Si" là hiện tượng trầm lặng không gây động đến nội tâm, nên chỉ có hiện tượng trầm cảm, cho nên chúng ta không thể nói nó phát xuất từ con tim mà phải thấy rơ nó bắt đầu từ năo thùy trái, chính năo thùy trái vạch sẵn quy tŕnh sinh hoạt của từng cá nhân. "Hỷ, Nộ, Ái, Ố" là hiện tượng bộc phát rơ rệt, nó hiện rơ ra ngoài trên nét mặt, lắm khi c̣n có hành động, v́ trái tim qúa kích động.

 

 Để hiểu tường tận những điều trên, trước tiên chúng ta phải nh́n nhận "Tất cả mọi việc đều do chính bộ năo mà nên, như thế mới từ từ giải quyết được phiền năo.

 

 Phiền năo do xúc động bởi "Hỷ, Nộ, Ai, Ố" từ tâm mà sinh ra, nguyên do này khiến năo thùy trái mang đến với ư thức "Tham, Sân, Si" ích kỷ của từng người, trong trường hợp không giải quyết được th́ sinh trầm cảm, xa lánh tất cả mọi thứ, chỉ sống về nội tâm, lâu dần trở thành uất ức, trở nên giận hờn (Nộ, Ố) từ cái tâm. Con người có "Hỷ Nộ Ái Ố" cực độ, th́ ảnh hưởng đến bộ năo bởi những mạch máu có tầng số chuyển động khác nhau qúa mức b́nh thường, từ đó sinh ra bệnh, nặng lắm là bệnh tâm thần (tâm và năo) sinh ra khờ khạo, nhẹ hơn là tai biến mạch máu năo (chỉ cái năo bị thương tích, lắm khi cũng nguy kịch đến tính mạng). Bà BS Jill Yaylor cho biết trên bộ phận vỏ năo liên quan đến thị giác, Bà nhận ra đa số những người mắc "Bệnh tâm thần phân liệt" thường có cái nh́n bất thường khi quan sát những vật chuyễn động...“Nỗi buồn” hay sự “thất vọng” cũng được năo Phải lưu giữ bằng h́nh ảnh trong một bối cảnh nào đó. Những h́nh ảnh này được lưu giữ cho dù sự kiện đă xảy ra cách nhiều năm. Như vậy chúng ta thấy: "Năo thùy phải là kho lưu trử kiến thức của con người, c̣n năo thùy trái là tổng tham mưu của từng cử động của con người". Do đó việc hành xử của mổi người có khác biệt nhau.

 

 Đă biết năo thùy trái là nơi phát sinh ra mọi hành động, th́ những lời nói "Tha thứ hay khoan hồng" không c̣n có nghĩa là bắt nguồn từ con tim, như vậy làm sao chúng ta phải nhận tất cả để rồi tha thứ và khoan hồng, chúng ta thấy rơ "Phiền năo" là nguyên trạng của con tim bị rối loạn từ con người dễ cảm xúc bắt nguồn từ năo thùy trái, sau khi bộc phát ra ngoài th́ được ghi lại ở năo thùy phải, v́ t́nh tiết có khác nhau trong mỗi lần hành động, nên năo thùy trái quyết định hành động khác nhau trong ư thức riêng của từng người.Nếu nhận được điều này chúng ta mới dễ dàng giải trừ "phiền năo".

 Để giải trừ "phiền năo", đó là bỏ đi tạp niệm (ư thức quy định bởi năo trái) th́ tâm mới được yên ổn. Đừng nghe những lời những ai đó khuyên: "Hăy đón nhận chướng ngại, không cần trốn tránh nó nữa..phải tha thứ tha nhân.." Một câu nói qúa dài nhưng không trọn ư, phiền năo không những chỉ từ tha nhân mà đến lắm khi nó cũng tự minh gây cho chính ḿnh. 

 Có nhiều vấn đề chúng ta không nhận được minh bạch, mà chỉ nghĩ thoáng qua, rồi tự ḿnh thấy là đúng cứ thế chuyển qua t́nh tiết khác, cho nên sự việc cứ thế chồng chất lên nhau, đến khi gặp trở ngại tạo thành phiền năo thêm, làm cho con người trở nên bực nhọc tinh thần mà không sáng suốt.

 

 Bản tính của tâm là cảm xúc do bởi nhận thức của bộ năo, v́ ư thức đó đă ghi nhận từ năo thùy phải, qua năo thùy trái trở thành quan điểm cố định rồi tự sinh ra giao động truyền đạt khiến tâm cảm ứng sinh ra Hỷ Nộ Ái Ố hiện ra bên ngoài, c̣n Tham Sân Si không phát xuất từ "Tâm" mà từ "Năo", đó chính là sự "cố chấp" và "đam mê" chúng ta có cảm nhận rơ ràng là ở ngay bộ năo, c̣n "Vui Giận Thương Hận" th́ thực sự có tương quan đến con tim, hộp th́ Vui Thương, nghịch th́ Giận Hận, c̣n "Tham Sân Si, Nộ, Ố" là do bởi ư thức từ năo trái tạo nên quan điểm của chúng ta đối với tha nhân, chung quy nh́n lại tất cả mọi sự "Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố " đều từ quan điểm nhận xét riêng của từng người, đó chính bộ năo.

 

 Tai hại của tâm tiêu cực. Ḷng "ganh tị và cố chấp" là tính năng sinh ra phiền năo, v́ lúc nào chúng ta cũng thấy mọi việc không thuận lợi sẽ xẩy đến rồi tự ḿnh sinh ra đố kị với tha nhân, đó là tính tiêu cực của con người, sinh ra bất ḥa với kẻ khác, nó không nằm trong quan điểm "Nhân chi sơ tính bàn thiện", cũng không nằm trong "Tính pḥng ngừa kẻ gian" của quan niệm: "Ta đừng có tâm hại người, nhưng chẳng đừng không có tâm đề pḥng người". "Pḥng" có nghĩa là chuẩn bị đón chận những bất trắc xẩy ra, chữ "Tâm" trong câu trên không thích hợp nữa, v́ chúng ta đă biết mọi việc đều do "Bộ năo" định đoạt, vậy "Ganh tị và cố chấp" cũng do bộ năo sinh ra, không bởi ảnh hưởng của "Tâm". Những điều trên cho chúng ta thấy:Quan điểm con người ngày xưa với thời đại bây giờ có khác biệt ở chỗ "Tính con người ảnh hưởng nhiều ở bộ năo, mà ta gọi là trung tâm thần kinh của con người, mọi hoạt động trong cơ thể chúng ta đều có liên quan đến bộ năo", nếu nhận ra thế sao chúng ta cần phải "Chuyển hóa tâm", cái tâm vô vạ đă bị lay chuyển bởi cái nh́n ích kỉ của con người từ bộ năo, trung tâm của hành động biểu hiệu ư chí. Nếu sự suy nghĩ của chúng ta trong sáng, không ganh tị cố chấp th́ tâm của chúng ta sẽ thảnh thơi an nhàn, như thế chúng ta sẽ không bị những chướng ngại tự tạo bởi tính đề pḥng của chúng ta, v́ tính "Đề pḥng" không có nghĩa là "Đối kháng" với tha nhân mà chỉ cần cẩn thận với họ để nhận xét về họ, phải ôn ḥa và từ tốn. Như thế ta thấy tính "Đề pḥng" không phải là "Ganh tị hay cố chấp" mà chỉ tạo thêm sự ôn ḥa tế nhị trong giao tiếp giữa con người chúng ta để t́m sự ḥa thân hơn, quan điểm này cũng phát xuất từ bộ năo tạo thành, nếu bộ năo được minh mẩn (Thanh) th́ sẽ không nhận sự phiền hà (Đục) khi đó com tim tự nhiên ngọt ngào và an nhàn.

 

 Quan điểm xem "Chướng ngại như niềm vui", có phải chúng ta tự khắc khổ bản thân, tự nhận thêm áp bức, bởi sự quấy rầy những người xung quanh ta.V́ tâm không có nhận thức, thuần tính của tâm thường được cảm xúc bởi những giao động cuộc sống bên ngoài bởi năo thùy trái tạo thành cấu kết những giác quan như: thấy ngửi sờ nghĩ và cả vị giác đều khiến ta bực bội, chán nản nghi ngờ rồi tự đau khổ. Tất cả sự việc trên đều do bởi bộ năo gây nên, không do cái tâm cảm nhận, nên chúng ta thấy rơ đó là cái "Tâm tiêu cực" đây là điều chúng ta cần nhận rơ, mọi cơ năng hoạt động trong con người chúng ta đều do trung tâm thần kinh năo bộ, chính sự suy tư ích kỷ về Hỷ Nộ, Ái, Ố đẩy lên ḿnh kẻ khác rồi sinh ra cái tâm bất thường, muốn trở lại con người b́nh thường, trước tiên cần xóa bỏ cái quan niệm tiêu cực cá nhân để chuyển hóa tâm, "Phải bỏ hết tạp niệm" của năo thùy trái mà cần nghĩ đến khía cạnh ḥa đồng nhân ái của vấn đề từ năo thùy phải, như thế niềm vui sẽ đến, khoang dung sẽ độ lượng, lúc đó chướng ngại sẽ không c̣n làm ta bận tâm.

 

 

 

HẾT

______________

 

 

Liên-khôi-Chương
Được-Lời (LKC)
Ngày 25-02-2014

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG               |                 www.ninh-hoa.com