Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG            |                 www.ninh-hoa.com


LIÊN KHÔI CHƯƠNG


Cựu học sinh
các trường Trung học:
 

* Bán Công:
Đệ Thất-Tứ, NK. 1961-1965

* Trần B́nh Trọng:

Đệ Tam-Nhị, NK. 1965-1967

* VT/NT: Đệ Nhất (67-68)
* TTPT/SG : HH/PT(68-70)

 



Hiện sinh sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ


 

 

 

 


 

 

Bảo Ḥa Liên Kết
Mạng Vũ Trụ


Liên Khôi Chương

 

  

 

PHẦN 3:
________________________________________

 

D.-Bảo-ḥa trên Địa cầu liên kết cùng Vũ trụ .

Nh́n từ Địa cầu chúng ta,3/4 bề mặt là đại dương phủ bởi nước mặn bảo-ḥa 75g muối/lít và gần bờ có nước biển bảo-ḥa 360g muối/lít cho bởi hệ thức :
7.NaCL+41.H2O  có ptl  m=25   được tính như sau:
*7.Nacl =7(58,5)=409,5g  trong 41.H2O  (738cc).
*409,5g NaCl (có thể tích 383cc) trong 1.121cc (738cc+383cc) nước muối bảo-ḥa ,suy ra 1lít nước muối bảo-ḥa có 366g muối,vậy 6g muối/ lít khoảng 0,06% trọng lượng ,điều này đúng với định lư bảo-ḥa từ Địa cầu, với 3/4 mặt nước biển kết liền bầu khi quyển dày trên 65.000 km và kết liền vùng bào hộ Ozone được "năng lượng tối" thấm thấu không ngừng.


Sự bảo-ḥa trên mặt biển do nguồn nước từ dưới độ sâu 300m đại dương thấm thấu vào phần nước mặn bên trên do muối từ những mỏ muối theo mạch nước ngầm chảy vào .Nước từ đáy biển trồi lên do bởi nhiệt trong ḷng đất làm thể tích nước lớn lên (tỷ trọng < 1),do đó nước biển có 75g muối/lít

 

Gió (không khí) trên mặt biển đẩy đưa nước biển vào bờ, qua 7 lần bảo-ḥa liên tục tạo thành bảo-ḥa 360g muối/lít tại những bờ biển mặt đất nóng hơn, như Biển Chết (Dead Sea),


 Mặt biển kết liền bầu khí quyển và vùng Ozone (N2), vùng khí bảo hộ ̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣ cho Địa cầu, được "năng lượng tối" thấm thấu vào.


 "Năng lượng tối" đối với các nguyên tử tự do th́ có khuynh hướng thấm thấu vào như sự về nguồn cội, v́ "năng lượng tối" được sinh ra rất nhiều lần bởi giao động lượng tử trong "vật ảo", "năng lượng tối" làm nên màng nối kết đến các hành tinh khác, tạo thành lực chằn kéo liên mạng với các tinh cầu có riêng bầu không khí quanh ḿnh, bởi thế chúng ta thấy các Hành tinh như ở một vị trí cố định trong Vũ trụ.


 Trong trường hợp "năng lượng tối" bảo ḥa hoàn tất với nguyên tử, nguyên tử được no dầy năng lượng như ở 0° K th́ lớp khí bảo hộ tinh cầu này sẽ trở thành "siêu năng lượng" có thể mang cả tinh cầu chuyển động tự do với vận tốc không định được rồi bay ra khỏi qũy đạo hoặc có thể hướng về "Black hole". Đây có thể là năng lượng dùng trong "Vật bay trong Vũ trụ. UFO".


 Vậy "siêu năng lượng có thể là : " Năng lượng tối + nguyên tử khí ".
 
 E. -Đất hiếm (V+Bi+F2):
 Bảo-ḥa trong ḷng đất chứng minh cho chúng ta thấy thực tế về sự liên kết bảo-ḥa.


 Tại Núi Pháo Việt-Nam có trữ lượng quặng voframn đến 21 triệu tấn, về Flo khoảng 19, 2 triệu tấn. Khi khai thác mỏ này có khả năng cung cấp 15% vonfram, 20% bitmut và 7% florit lượng cung toàn cầu. Đây là dự đoán do Tập đoàn Masan (TQ) cho công ty Bản Việt (VN) biết để độc quyền khai thác tài nguyên này tại VN với trị gía 200 triệu đô la.


 Nh́n vào báo cáo này chúng ta thấy:"Tập đoàn Masan đă lừa bịp Bản Việt, v́ 7% florit không thể là 19, 2 triệu tấn florit trong 21 triệu tấn "đất hiếm".
 Nhưng báo cáo trên cho chúng ta biết được sự thật đất hiếm tại Núi Pháo gồm có :
 V(vanadium) m=51, Bi(bismuth) m=209 và F2(florine) m=38.
 Ta thấy "Đất hiếm V+Bi+F2" có thể viếtdưới dạng bảo-hóa : V+(13. Bi+171. F2).
 Bảo-ḥa 13. Bi+171. F2 là kết qủa 13 lần bảo-ḥa của Bi+171. F2 có m=39.
 Sau 13 lần bảo-ḥa, 13. Bi+171. F2 đủ để trở thành một V (vanadium) ảo ( m=38+13=51).
 Nhưng trong đất hiếm lại có thêm vanadium thật, vậy có bao nhiêu vanadium thật :
 "1. V+13. Bi+171. F2".
 Phân giải hệ thức này chúng ta có kết qủa:
 0, 6% Vanadium + 29, 3% Bismuth + 70, 1% Florine.
 (đem so với kết qủa Masan 15% vonfram, 20% bitmut và 7% florit th́ ta thấy thực ra Masan t́m được 1, 5% vonfram, 29% bismut và 70% florit. Đây là cách bịp Masan với công ty Bản Việt).


 Kết quả 29, 3% Bismuth + 70, 1% Florine cũng đủ để nói lên bảo-ḥa 13. Bi+171. F2 là Vanadium, nhưng trong đất hiếm lại có thêm 0, 6% V thực, điều này nói lên:
 Muốn bảo-ḥa trở thành thật th́ phải có "một lượng nhỏ 0, 6% thật, th́ đủ để xác nhận bảo-ḥa đó là chất thật 100%.


 Từ đây cho ta một "Định lư Bảo-ḥa" : 
 "Để có một bảo-ḥa vững bền, cần phải thêm ít nhất 1% nguyên tố thật trong nguyên tố bảo-ḥa".
 Đây là luật tự nhiên về "Bảo-ḥa hợp kim trong ḷng đất".


 Hiện tượng đất hiếm cho chúng ta thấy :chất khí (F2) bảo-ḥa với kim loại (Bi) trong ḷng đất, vậy trên mặt đất có sự bảo-ḥa ǵ ? 


 Như chúng ta biết cuộc sống con người bắt đầu từ thời đồ đá, khi biết dùng lửa sưởi ấm để cải thiện đời sống, phát hiện trên đất có những vật cứng rắn màu vàng nên xử dụng nó làm thành đồ vật, v́ Sắt (Fe), Đồng (Cu), Kẻm (Zn) lộ thiên trên mặt đất trong dạng bảo-ḥa :


 8. Cu+8. Fe có m=64 (đồng thau)
 và 9. Zn+9. Fe có m=65 (sắt thép)
 trong trạng thái bảo-hoa Fe không bị rỉ, nên con người biết dùng đồng thau trước tiên rối sau đó mới tiến qua thời sắt thép.
 các kim loại Sắt (Fe m=56), Cobai (Co m=58. 9), Nickel (Ni m=58. 7) có trọng khối gần bằng nhaư, nên hiện tượng bảo-ḥa của Fe vớ́ Đồng (Cu m=64) hoặc kẻm (Zn m=65) có thể có tiến tŕnh ở Cobal hoặc Nickel :
 -bảo-ḥa M(Zn+Fe)=65+9(56) m=57 thành M(Zn+Fe)=4. Zn+9. Fe có m=59
 -bảo-ḥa M(Cu+Fe)=64+8(56) m=57 thành M(Cu+Fe)=3. Cu+8. Fe có m=59
 Kim loại m=59 có thể là :Co(cobalt) m = 58, 9 hoặc Ni(nickel)=atm. w 58, 7.
 Thật ra đây cũng là dạng đất hiếm, muốn chúng trở thành Co hoặc Ni thật th́ chúng ta cần thêm 1% lượng Co hoặc Ni thật vào.
 Trên thực tế những bảo-ḥa này khởi đầu từ mỏ sắt trong dạng 
 Fe là nguyên tử nhỏ nhất nên dễ kết bảo-ḥa với Co, Ni, Cu và Zn tại ḷng đất :
 Co+3. Fe có m=57
 Ni+3. Fe có m=57
 Cu+8. Fe có m=57 
 Zn+9. Fe có m=57


 Những bảo-ḥa này có cùng phân tử lượng m=57, đây là sự bảo-ḥa tự nhiên trong ḷng đất, đến khi con ngưới khám phá ra mơ than (C) khoản thời Xuân Thu Đông-Chu 500 năn tcn, dân nước Việt (Phạm-Lăi)rèn được binh khí sắc bén và bảo kiếm nhờ thế mới đánh được nước Ngô, như thế Co và Niđă phát hiện được từ thời này mà con người chửa hay biết. hiện tượng bảo ḥa bao trùm cả lục địa.


 Đồng(Cu) và sắt(Fe ) là 2 kim loại có tính sinh ra điện khi gần kề nhau, nên việc kết tụ vớ́ Co và Ni, bảo-ḥa 4 kim loại này có thể là "huyền thép" mà người xưa thường nói. Nếu giữa Cu và Fe có màng nhựa th́ trở thành một tụ điện. Đây là đặc tính tự nhiên trên Địa cầu này.


 Những dẫn chứng bảo-ḥa từ ḷng đất (đất hiếm, bảo-ḥa Fe) đến mặt đất, từ đáy biển sâu đến bầu trời tiếp nối vùng Ozone được "năng lượng tối" vào tạo thành mạng liên kết các Hành tinh trong Vũ trụ.
 Những nhận thức này có được đều từ : Hệ thức bảo-ḥa không khí Địa cầu có sự liên kết mật thiết với nhau trong Vũ trụ.
 
 F. - Bảo-ḥa giữa 2 chất khí.
 Hai chất khí hợp với nhau không có phàn ứng hóa học nhưng có dặc tính bảo-ḥa, như dẩn chứng ở trên, chất khí có phân tử nḥ thấm thấu vào khí có ptl lớn, điều này dẩn chứng từ không khí : Nitrogen (N2) thấm thấu vào Oxygen (O2) để giữ khômg khí luôn luôn là 1. O2+4. N2 được tŕnh bày theo hệ thức dưới đây:
 M(A+B)= a + (a-b)b (1) và m=b+1 (2) thực ra b<m<b+1.
 V́ chất khí không có hiện tượng ḥa tan như chất lỏng mà chỉ có sự thấm thấu, sự thấm thấu hoàn tất là sự bảo-ḥa.
 Sự bảo-ḥa xác đinh phân lượng rơ ràng cho một sự thấm thấu hoàn tất như :
 -Không khí ở Địa cầu gồm có 1 thể tích O2 và 4 thể tích N2.
 Kết qủa do sự chuyển động có thu năng lượng như kết qủa của "C + D" cũng nhận năng lượng: 
 A + B cho ra C + D :
 A + B đánh vở phân tử ( sinh nhiệt) để kết thành C + D ( thu nhiệt).
 Không khí không cháy được mặc dù O2 là chí cháy, muốn không khí cháy th́ phải phá vỡ bảo-ḥa tách rời O2 và N2 ra.
 -Muốn đánh vở một bảo-ḥa th́ cần đến năng lượng dương phủ trùm xung quanh không khí, đây là nguyên lư trong kỹ nghệ hàn gío (Trước tiên đốt cháy gas butan sau đó chỉnh không khí đi giữa ngọn lửa để có ngọn lửa màu xanh, ngọn lửa màu xanh là do O2 trong không khí thiếp vào).
 -Sự đánh vỡ không khí c̣n nh́n thấy ở đống lửa than hồng, xung quang bên ngoài vẩn c̣n vệt than đen, nhưng bên trong than hồng rực sáng v́ bảo ḥa không khí bị đánh vỡ cho ra O2 giúp bào sự cháy.
 Nhờ đặc tính bảo-ḥa này mà các vật thể Vũ trụ từ dạng vô h́nh dần dà kết thành thiên hà, tinh tú và Thái-dương-Hệ thành mạng liên hệ thiên nhiên tạo sự sinh tồn vạn vật, con người cũng không ngoài định luật này.
 Hệ thức M(A+B)=a+(a-b)b và m=b+1 b (b < m < b + 1 ) có thể coi như là "nguyên lư bảo ḥa " vật thể trong Vũ trụ :
 
 Bảo-ḥa giữa 2 chất khí định trên thể tích chứ không ở trọng khối phân tử.
 Định lư : Mỗi phân tử khí đều có cùng thể tích là 22, 4 lít.
 -Bảo-ḥa giữa CO2 và hơi H2O (mây) theo hệ thức:
 M(CO2+H2O)=CO2+26. H2O
 cho thấy 1 thể tích CO2 sẽ kết hợp 26 thể tích hơi H2O, bảo-ḥa có mol. w m=19, nhiệt độ thành mưa ở 17°C hoặc lạnh hơn.
 Ban đầu hơi nước bốc lên hợp với không khi (không khí+11. H2O) trong dạng rising air, sau đó thành mây (m=18) sẽ mưa ở 21°C.
 (sự khác biệt 4°C tôi chọn ở đây dựa vào thể tích lớn nhất của nước thành băng là -4°C, ư muốn nói nhiệt độ làm mưa 2 loại mây này cao hơn 4°C).
 
 Khí carbonic CO2 thải ra từ xí nghiệp vào không khí trong dạng sinking air m=30 nên bay lên dễ dàng trong bầu trời, rồi sau đó lặn ch́m từ từ xuống hợp cùng rising air trở thành bảo-ḥa : CO2+26, H2O có m=19.


 Do đó khi nhiệt độ ở 21°C (70°F) mưa rất ít trong khi bầu trời mây vẩn c̣n mây dầy đặc, v́ loại mây bảo-ḥa m=19 cần độ lạnh 17°C (62°F), do đó 26 thể tích nước vẩn ở trên trời nên thường tạo ra hạn hán, khi thời tiết vào khỏang 17°C (62°F) th́ trận mưa có thể 26 lần mưa b́nh thường cùng lúc trút xuống tạo nên trận mưa lũ gây lụt tại đường phố.


 Đôi khi những cụm mây bảo-ḥa này có khi như một cái "nấm khổng lồ ", chân nấm là nguồn mưa, chuyên viên thời tiết gọi đây là "microburn" là vùng bị mưa rộng lớn làm nên trận hồng thủy chỉ trong vài giờ, mưa như thác nước trút xuống gấp 50 hoặc 75 lần mưa b́nh thường, v́ thế có thể làm vỡ cả đập nước. Sau trận mưa mây bảo-ḥa nguồn nước có nhiều CO3H2 (acid carbonic), là dạng CO2+H2O trong thiên nhiên, v́ thế khoa học ngày nay có khuynh hướng tái xử dụng nguồn nước này kết hợp với H2 chế biến nhiên liệu.


 Địa cầu bị hạn hán là do bởi không đủ lượng mưa và cây cối không có đủ CO2 để thở, nhiệt độ nóng lên làm nghẻn các lổ khí trong cây để cây tránh bị mất nước, bởi cây không nhận được CO2 nữa và qúa tŕnh quang hợp bị ức chế, cản trở việc tạo ra dưởng chất để nuôi cây, làm cây cằn cổi thân khô dễ bị chày, v́ rừng thiếu nước và cây không dể tiếp thu CO2" (RFA. nov/2012). Những điều này cho thấy CO2 thải ra từ các xí nghiệp bị giữ ở trên bầu trời, Giáo sư Kostas Konstantinidis, thuộc viện công nghệ Georgia phát hiện :"một số lượng rất lớn các vi khuẩn có khả năng hấp thụ các phân tử có chứa C (carbon), chủ yếu đến từ khí thải CO2, dầy đặc trên tầng khí quyển đối lưu trên độ cao giữa 6-10 km. (rfi. nov/2013).
 
 G. -Giải Nobel năm 2010 là một cảnh báo khoa học đang tiến vào lănh vực "Bảo-ḥa trong Vũ trụ":
 -Về Vật lư trao cho 2 khoa học Nga với phát minh graphene là hợp kim Pb+C, có thể giải thích theo hệ thức:
 M(Pb+C) = Pb+195. C có mol. w m=13
 -Về Hóa học cho 3 hóa học gia 2 khoa học gia Mỹ một khoa học gia Nhật về sự nghiên cứu Pt (platium) làm chất xúc tác để tách rời electron trong nguyên tử.
 Trong kết qủa này cho tôi sự so sánh với bảo-ḥa Pb+12. Pt cho ra nguyên tố m=196, có thể xem như Pt là chất xúc tác nhận thêm electron từ Pb ?
 Kết quả lần nh́ : 2. Pb+12. Pt trở thành nguyên tố m=197 có cùng trọng khối nguyên tử vàng (Au).
 Những kết qủa này cho thấy: Bảo ḥa gần như là một "Nguyên lư" nhưng khoa học vẩn chưa xác nhận, v́ đây là "Bí mật thương nghiệp".


 Từ những dần chứng trên chúng ta thấy trong Vũ trụ tự nhiên có 3 h́nh thức bảo-ḥa :
 1. - Bảo-ḥa trên mặt Địa cầu:
 theo hệ thức M(A+B)= a + (a-b)b với m=b+1 (b<m<b+1) như:
 -chất khí :không khí 1. O2+4. N2 (m=29) 
 -dung dịch : nườc biển NaCl+41. H2O (m=19).
 -chất rắn : có những bảo-ḥa C với kim loại nhẹ. . . . đất. . bụi. .
 2. -Bảo-ḥa dưới mặt Địa cầu (dưới mặt nước biển và mặt đất) th́ có :
 *mơ muối 7. NaCl+41. H2O có m-25 (nước muối bảo-ḥa 360g NaCl/lít)
 * đất hiếm 13. Bi+171. F2 có m=51 (vanadium ảo trong vơ đất)
 Những bảo-ḥa này theo hệ thức:
 M(A+B)=n. a + (a-b)b (n:số nguyên tố có ptl lớn, cần 0, 6% chất thật vào th́ sẽ được như thật).
 Từ đây suy ra định lư bảo-ḥa :
 "Trong bảo-ḥa cần thêm 1% chất thật th́ bảo-ḥa trở thành như nguyên tố thật".
 như vàng ảo 2. Pb+12. Pt có m=197 có đặc tính như vàng thật.
 3. -Bảo-ḥa có nhiều nguyên tố như Co, Ni, Cu, Zn và Fe th́ nguyên tố ntl nhỏ nhất liên kết bảo-ḥa từng những nguyên tố khác theo hệ thức :
 M(A+B)= a + (a-b)b với m=b+1
 (Co+3. Fe ) + (Ni+3. Fe) + (Cu+8. Fe ) + (Zn+9. Fe)
 đây là hợp kim sắt không rĩ m=57. là liên kết bảo-ḥa bền trong vơ trái đất làm vơ Địa cầu rắn chắc thêm.


 Trong 3 h́nh thức bảo-ḥa này là nguyên tắc luyện kim từ năm 1800, thời gian bắt đầu công nghiệp khoa học đă áp dụng như :
 1- Như kinh đào Pontaysyll ở Anh dài trên 18 km hoàn tất đầu thế kỷ 19 do kỹ sư Thomas-Tedpord dùng hợp kim M(Zn+Fe) làm thành thép không rĩ đă kiến tạo ṿng cầu vững chắc nối liền giữa 2 triền núi cũng như Tháp Eiffel-Paris có thểl à bảo-ḥa (M(Zn+9. Fe), Tượng "Nữ thần Tự do" Pháp tặng cho Hoa-Kỳ được đúc bằng nhôm (Al), thời này nhôm rất hiếm và qúy, v́ tính nhẹ không rĩ, có thể đây là tổng hợp kim M(Zn+37. Al) M(Cu+36. Al).
 2-Ngày 05/8/2012 Mỹ đă thành công đưa chiếc xe thám hiểm làm bằng hợp-kim M(Ti+Al+Si) đổ bộ an toàn trên Mars. Xe được kiến trúc bằng hợp kim Ti+Si+Al.


 Bảo-ḥa hợp kim M(Ti+Al) và M(Si+Al) tạo thành hợp kim có tính cách nhiệt, cứng chắc và bền trong mọi va chạm.


 Ngày xưa việc rèn kiếm, trui thép có thể chứng minh có sự bảo-ḥa giữa kim loại và không khí, 1 chỉ vàng nung nóng chảy nhiều lần th́ sẽ cứng hơn không c̣n tính mềm như ban đầu và nặng hơn. Bởi lư do này các thợ bạc thường nói:"làm nghề thợ bạc Tổ hay đăi".


 Như thế chúng ta thấy quan niệm bảo-ḥa đă được áp dụng từ đầu thế kỷ 19, nhưng khoa học không tŕnh bày rơ ràng, v́ đây có tính cách bí mật thường trường, Giải Nobel năm 2010 là một cảnh báo khoa học đang tiến lên việc tái xử dụng nguyên liệu tái tạo để con người tránh việc khai thác tài nguyên trong lỏng vơ Địa cầu nhầm giảm bớt những thiên tai và ô nhiểm môi trường, t. Sự phát minh "graphene và dùng Pt làm chất xúc tác tách rời electron để cho chúng ta thấy thế kỹ 21 này con người đang hướng về việc tái xử dụng nguyên liệu phế thải để tránh sự lạm dụng tài nguyên trái đất.
 Hệ thức M(A+B)=a+(a-b)b và m=b+1 sẽ trở thành nguyên lư có liên quan mật thiết về "Bảo-ḥa liên kết mạng Vũ trụ".
 
 H. -Bảo-ḥa electrons và protons trong nguyên tử.
 Khi tách rời vài electrons ra khỏi một nguyên tử để nguyên tử đó trở thành nguyên tố mới, như thế nguyên tố mới vẩn là nhân của nguyên tử đang dùng.
 Thật ra giữa nhân và electron có sự bảo-ḥa chức năng về "trọng khối" nguyên tử để cân bằng số "protons và electrons" trong nguyên tố mới.
 Để có loại vàng ảo chúng ta có thể dùng "phóng xạ Helium" để tách rời electrons nguyên tử Pb :
 1. -khí Helium dễ trở thành chất phóng xạ ở nhiệt độ cao. (theo bài He-3 từ Mặt trăng).
 2, -Trong các nguyên tố cở size protons hầu như đều bằng nhau, nhưng electrons th́ có lớn nhỏ khác biệt, đây là căn bản chức năng về "Bảo-ḥa protons-electrons".


 Electron He2 hầu như lớn hơn electrons các nguyên tử khác, và nhỏ hơn nhân không là bao, do đó kết nối electron và nhân không vững chắc, dưới độ nóng ban ngày của Mặt trăng dễ thành He-3, đây là phóng xạ He rất dễ dàng nhận electron nguyên tử khác có cở size nhỏ hơn.
 3. -Cở size electron Pb chỉ bằng 0. 656 của size electron He, nên Pb rất dễ dàng bị He-3 lấy 7 electrons ra khỏi Pb.
 4. -Ch́ (Pb) mất 7 (125-118) electrons nhưng vẩn là nhân (nuclear) Ch́ (82 protons), vậy đă thừa 3 protons.
 Trọng khối 3 protons sẽ răi đều cho 118 electrons c̣n lại lớn thêm (3/118=0. 025), như thế electron Pb lớn bằng 0. 656+0. 025=0. 681, Pb bảo-ḥa này c̣n lại 79 protons và 118 electrons cở size 0, 681, so với trọng khối vàng thật có electron Au là 0. 669, như thế vàng ảo có electron lớn hơn 0. 012.
 Để trở thành như vàng th́ cần thêm 1% vàng thật, th́ vàng ảo từ Pb này sẽ không có ảnh hưởng phóng xạ nữa do bởi ảnh hưởng Neutron trong nguyên tử thật để hoàn Au trung tính khi con người xử dụng nó.


 Kết qủa của hiện tượng này chúng ta thấy Pb mất đi 3 protons (Z1) và 7 electrons (B1) th́ trọng khối ntl Pb mất đi 10 (A1) để trở nguyên tố có ntl là 197 (207-10), ntl m=197 chính là Au.
 Hệ thức : Z1+B1 = A1 gần như là một định luật chung để tạo một nguyên tử mới từ nguyên tử có trọng khối lớn hơn.
 Hệ thức này dựa trên gỉa thuyết trọng khối các proton đều bằng 1.
 và Hệ thức : Nguyên tử lượng (atmw)= số protons + số electrons
 Chúng ta thử t́m dùng 3 kim loại : V(vanadium), Fe và Cu.
 -atmw V(51)=23. protons + 28. electrons
 -atmw Fe(56)=26. protons+30. electrons
 -atmw Cu(63)=29. protons+34. electrons
 Vậy lấy ra 2 electrons từ Fe th́ Fe có thể thành Vanadium.
 3 protons c̣n lại bảo-ḥa 28 electrons, trung b́nh mổi electron lớn hơn 3/28=0, 107.
 cở size electron ảo này là 0. 107+0. 87=0, 977, gần bằng 1 proton như thế V ảo này dễ thành chất có phóng xạ.
 Tương tự lấy 4 electrons từ Cu th́ Cu có thể thành Fe.
 3 protons c̣n lại phân cho 30 electrons c̣n lại (3/30=0, 1).
 cở size ảo của Fe này là 0, 1+0, 85=0, 950, gần bằng 1 proton, như thế Fe ảo này cũng dễ thành chất phóng xạ.
 Như tŕnh bày Fe và Cu đều mất 3 protons để trở thành 2 nguyên tố ảo V và Fe đều dễ thành chất có tính phóng xạ cao.


 V́ Fe và Cu đều thừa 3 protons nhưng Fe chỉ mất 2 electron c̣n Cu mất 4 electron, để bảo-ḥa chức năng cho cho 2 nguyên tố V ảo và Fe ảo, sắt và đồng phải mất 3 protons, như thế nếu chúng ta đem 2 nguyên tố ảo này gần nhau th́ sẽ sinh ra ḍng điện cao hơn v́ mất 3 proton trong nhân bởi 2 nguyên tố ảo này làm từ Cu và Fe.
 Trong tự nhiên 2 kim loại Cu và Fe gần nhau th́ sinh điện, mà 2 chất V ảo và Fe ảo được tạo thành bởi Fe và Cu có tính sinh phóng xạ cao bằng cở hũy 3 protons.


 Ngày nay khoa học dùng đặc tính phóng xạ này để tạo thành năng lượng "Điện Hạt Nhân", Họ kế hoạch mang He-3 (dưới dạng tinh thể như hạt cát) từ Mặt trăng về Địa cầu và đang trắc nghiệm tại Pháp, có thể Họ đang nghiên cứu chế tạo He-3 thành He-2, như thế Helium chỉ c̣n 2 proton trong nhân, He-2 này biến thành năng lượng "Điện Hạt Nhân".


 So sánh cách tái tạo He-3 thành He-2 tốn kém rất nhiều nhưng chỉ được năng lượng bằng hũy 2 protons trong khi cách tách rời electrons từ Fe và Cu tốn kém rất ít mà vẩn được năng lượng bằng hũy 3 protons, vậy cho chúng ta thấy dùng V ảo và Fe ảo để tạo năng lượng trong tương lai là điều cầm quan tâm đến v́ chúng đều là nguyên tố tự nhiên trong Vũ trụ này.


 Đây là quan niệm cá nhân LKC nên có đôi lời cân nhắc :
 Trước khi tiến hành công việc này cần tính xem electron ảo không lớn hơn 0, 6% electron thật, như thế 1% chất thật thêm vào mới giữ được vật thể trung tính.
 -Việc làm này dễ bi tại nạn phóng xạ, tốt hơn hết cần có thiết bị an toàn và chuyên viên về phóng xạ.
 

 

 

Đón Xem PHẦN 4

______________

 

 

Liên-khôi-Chương
Được-Lời (LKC)
12
/2016

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: LIÊN KHÔI CHƯƠNG               |                 www.ninh-hoa.com