Trang Thơ & Truyện: Lê Thị Thanh Tâm                     |                 www.ninh-hoa.com

Lê Thị Thanh Tâm
 

Bút hiệu:
Gia B́nh Vân Nga,
Lê t. Thanh Tâm

Sinh trưởng: 
Gia Định,
B́nh Hoà, Sài G̣n.

Nghề nghiệp:
Dạy Việt ngữ 

 

 


Hiện sinh sống tại

Ḥa Lan (Holland)
.



 

 

 

 

 Lời nói đầu.

 Tôi viết xong đoản văn du kư này vào lúc Âu-châu của chúng tôi c̣n an b́nh, chưa bị cơn dịch Corona tấn công mạnh mẽ như bây giờ. Thế nên tôi đă may mắn được ngồi viết hết về chuyến đi này.

Dù rằng lúc ấy các tin tức về dịch bệnh này ở China vẫn loan truyền cho toàn thế-giới biết, nhưng có lẽ mọi người đều thờ ơ, nghỉ rằng chỉ xảy ra ở Wuhan chứ không thể xảy ra trên đất nước ḿnh.

Tôi cũng không khác ǵ số đông ấy. Nhưng từ từ cơn dịch bùng phát mạnh mẽ, khiến toàn thế giới bắt đầu cấm vận và cấm túc, th́ mọi người mới vỡ lẽ ra rằng :

 Con virus bé nhỏ hơn cả đầu kim này, lại có sức mạnh kinh hồn, nó đă thay đổi toàn diện cuộc sống của thế giới con người, cũng như nhân sinh quan của họ.

 Tôi cũng như các bạn, mỗi ngày c̣n khoẻ, c̣n sống để thở, đều trân quư từng ngày và thương cho tất cả nạn nhân trên thế giới, đang oằn oại trong cơn thập tử nhất sanh, đánh nhau với con virus mới mẽ này.

 Cầu mong ác mộng này qua mau.

 o0o

 

PHẦN II

 

Cuộc thiêu xác chết bên bờ sông Bagmati, cạnh các đền thiêng.

 

 Vừa mới đến chưa làm quen với phong tục và tín ngưỡng của Nepal, mà chúng tôi đă được đưa đi xem cuộc thiêu xác chết, th́ thật là thú vị và không kém phần hồi hộp.

 

Đấy là vùng Pashupatinath nổi tiếng là khu chùa đền thiêng nhất ở Kathmandu.

 

 

Bên tả ngạn sông, dăy miếu nóc trắng và nhọn,

bên trong thờ tượng h́nh đầu dương vật đàn ông.

 

Đi lên hết quả đồi cao th́ đến nơi ấy, cạnh gịng sông nhỏ Bagmati, chi nhánh của sông Hằng. Nơi đây là trung tâm cổ kính của đạo Hindu và đây cũng là nơi thánh tích của dân sùng đạo đi hành hương, nên du khách đi lại tấp nập dù không phải ngày cuối tuần hay ngày lễ.

 

Dọc một bên bờ sông nhỏ và cạn, có nhiềubực thang ciment và bệ cao để hành lễ đốt xác chết, rồi răi tro đó xuống gịng sông này. Phía bên sông này, là nơi dành cho người có đạo hindu mới được vào các đền chùa ấy mà thôi.

 

 Bên bờ sông chúng tôi ngồi có một dăy các miếu nhỏ trắng thờ đầu dương vật, biểu tượng sự sinh tồn con người, của các nước có nền văn hoá cỗ, như tôi đă thấy ở Ai-cập, Hy-lạp, miền bắc V. N…v.. v..

 

Hôm ấy rất may mắn là có một lễ đốt xác. Khi đến nơi, chúng tôi đă thấy thân nhân để xác chết quấn vải trắng, nằm trên bệ ciment cạnh bờ sông Bagmati. Họ đang chờ thầy lễ tụng kinh cầu nguyện trong các đền cạnh đó. Và mọi người nơi đây cũng đứng, ngồi khắp nơi để chờ theo gia đ́nh có người chết này. Đứng, ngồi dưới nắng nóng và chờ măi cũng sốt ruột, nên chúng tôi vừa quay về, th́ thấy họ bắt đầu làm lễ, bèn mừng quá quay lại xem tiếp.

 

 

 Họ bắt đầu trăi lên xác chết nhiều khăn liệm màu trắng hay màu vàng của các người đến phúng điếu. Theo đạo Phật, khóc lóc sẽ làm người mất lưu luyến, khó giải thoát. Tôi không thấy ai khóc cả. Bỗng dưng một cô gái trẻ vừa mới đến, xà vào bên xác bà khóc om x̣m. Người nhà nhẹ ngăn lại và d́u cô đi chổ khác. Nhiều người đến, quăng ném ít tiềnlên xác chết và các ṿng hoa vạn- thọ màu cam tươi sáng, phủ lên ḿnh bà.

 

Người nhà lấy nước sông này rưới lên mặt xác vàkhiêng để trên một cái dốc tuột, gần mé nước như để rữa sạch tội cho bà.

 

 Công việc này phải làm rất cẩn thận v́ xác tuy cột chặt trên cái giá tre, nhưng cũng suưt bị tuột rơi xuống nước hai lần, làm ai cũng sợ hăi nín thở theo dơi. Cuối cùng họ khiêng xác đến nơi bệ khác gần đó, nơi để củi đốt.

Bấy giờ ông chủ tŕ lễ, đi thu nhặt hết tiền lẻ lúc nảyđă quăng lên xác, đó là quyền lợi nhỏ bé của ông.

 Cái xác chết bấy giờ không c̣n gầy mỏng quấn vải trắng như lúc đầu nữa, mà là một đống vải khá to, phủ lên trên hết là tấm vải vàng tươi của đạo. Ông con trai cả quá đau buồn nên có người đi sau lưng, giữ cho ông khỏi ngả. Ôngđi ṿng quanh xác mẹ mấy ṿng, và sau đó chính tay ông châm lửa đốt xác mẹ ḿnh.

 

Chung quanh đấy có thật nhiều người hồi hộp nín thở theo dơi, họ đứng nh́n ngọn lửa bắt đầu cháy, mà không ngửi thấy hôi thối của xác chết sao?

 

 Từ đầu, chúng tôi đă v́ ṭ ṃ mà phải chờ đợi suốt một giờ để mong xem họ đốt xác này. Tôi cũng đă xem các cuộc lễ đốt xác chết ở sông Hằng của Ấn-độ, trong các film tài liệu.

 Nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy tận mắt, mủi ngửi mùi của hương khói nhang và của mùi dầu hoả, cùng mùi đốt xác chết này. Mặc dù cả nhóm đă đứng bên kia bờ sông nhỏ, cách xa một khoảng mà c̣n thấy ghê ghê. Nên tôi chỉ chờ khi ngọn lửa trên xác chết bùng cháy, là đ̣i cả bọn phải quay về, không muốn xem đến cuối nữa.

 

Trên đường ra xe, có nhiều hàng bán rất nhiều rau trái, và đồ gia vị đủ loại, nếu mua th́ không biết mua loại nào, nên chả ai mua ǵ cả. Chỉ có tôi

 

mua bưởi và chục quả hồng, tưởng ngon như hồng ḍn Israel ( saron, kaki) nên chia cho mọi người cùng ăn, ai cũng vui thích lắm. Thế nhưng sau đó có người phác giác ra là nó chát vô cùng, cũng may là tôi chưa kịp ăn thử nó nữa.. Thế mà có vài người cũng ăn hết, và lịch sự không chê ǵ cả. Bây giờ ḿnh phải cẩn thận khi mua trái cây ở đây.

 

Từ hotel rộng lớn của thủ đô Kathmanduvalei, hôm sau dọn đồ đi Pharping xa 40 km..

 

 Đền Ấn-giáo Dakshin Kali ở Pharping, các tín đồ chờ đợi đến phiên dâng lễ cúng thần. Tuỳ theo lời cầu nguyện,

họ dâng lễ là con gà, hay con dê hoặc chỉ là trái dừa khô với

dĩa hoa quả. Ngày tết hay lễ, tín đồ sắp hàng chờ dài đến

cả cây số, v́ đây là đền thiêng.

 

Tất cả lễ vật đều đưa ông thầy chủ lễ làm phép (trả 100rs) xong họ mang về, c̣n con vật th́ đưa cho nhà mổ (trả tiền công) giết tại đó, rồi đem thịt về nhà. Chỗ giết thú nhuộm đầy máu đỏ tanh hôi, và nước rửa ấy chảy thành ḍng cũng nhuộm đỏ. Rất may là hôm chúng tôi đến vào ngày thường, nên không thấy cảnh giết thú dâng lễ kia.

 

 

Tu viện chùa Tibet Thaguklooster.

 

 

 Từ xa lộ, xe chạy vào ngơ nhỏ hẹp, gồ ghề, vàlỗm chổm gạch đá, mới đến chùa Tibet trên đồi cao. Đối diện chùa là guest house Neydoklooster, nơi chúng tôi sẽ trọ một đêm. Nhà trọ như hăy c̣n mới cất, rất thoáng, đẹp, các pḥng giăn dị nhưng rất rộng, và sạch sẻ, tinh khiết. Nhất là chung quanh có vườn hoa đẹp cùng giàn bí đang nở hoa thơm ngát. Đây là chu vi của chùa Tharguklooster, nên chiều 4g. và buổi sáng 5g. các sư đều cúng lễ mà chúng tôi đă xem trong t. v..

 

 Đây là chuyến đi tuyệt vời v́ được ngủ gần cạnh tu viện chùa, nơi nuôi và dạy tu các chú tiểu, hay vô cùng. Chúng tôi đến nơi, ăn trưa xong, và nhận pḥng nghỉ thư giăn được một chút th́ đến giờ cúng chiều, tất cả nhóm đều thích thú vào chùa ngồi tham dự.

 

Đạo Phật thịnh hành ở Âu châu từ hai thập niên, nhưng đặc biệt là đạo phật Tibet rất lôi cuốn họ, nên nhóm bạn H. L. chịu khó ngồi cả giờ xem hành lễ, không sợ mỏi cẳng hay đau gị ǵ cả.

 

Buổi cầu kinh thật hùng tráng, do các chú tiểu điều khiển. Thậtnhiều tiếng trống nhỏ đặc biệt, vỗ bập bùng bằng chiếc cần dài, và tiếng thổi kèn dài như chiếctù-và ồn ào, thỉnh thoảng hoà cùng tiếng phèn la. Tất cả hoà quyện nhau thật hay như tiếng nhạc, vang rền trong chùa, làm tăng thêm phần thiêng liêng và huyền bí của Mật-tông Tibet. Nhóm săi nhỏ có hơn 50 chú, mà chỉ có một vị sư trẻ hướng dẫn tụng kinh Phạn trong mico. hay vô cùng. Nếu người yêu kính đạo Phật sẽ xúc động đến khóc, c̣n người không thích tiếng tù- và thổi ồn ào, sẽ khó chịu ngay..

 

Chánh điện, có ba pho tượng Phật, to và đẹp. Ngồi giữa là phật Thích Ca, hai bên ngài là hai tượng đứng của Bồ-tát Quán-thế-Âm và Đại-thế-Chí.

 

Dĩ nhiên chúng tôi ăn chay theo chùa, nhưng ông đầu bếp trẻ nấu rất tuyệt vời, các món nóng ngon vô cùng, có cả rau muống là lần độc nhấtmà tôi được ăn ở đây. Nhưng ngon nhất là món nấm OesterZwammen chiên vàng ḍn, ngọt v́ trồng naturel.

 

Các bạn H. L. cũng thích đạo Phật Tibet, nhưng 5 giờ sáng hôm sau th́ không ai thức dậy nỗi để cúng nữa cả, chỉ có chúng tôi đi thôi. Nhưng lại ngủ quên cũng bị trể giờ, nên hụt cúng sáng. Trời c̣n tối ẩm sương lạnh cóng, cố gắng chạy qua chùa th́ buổi lễ đă xong, các sư săi kéo nhau ra khỏi cửa rồi. Chúng tôi chỉ c̣n biết lễ và ngắm tượng Phật, xong từ giă ra về, v́ chuyến đi c̣n dài sau lưng.

 

 

 Mandala của Mật tông Tibet

  

 

Tượng Phật Thích -Ca.

  

 

T́nh bạn trong tour.

  

Điều vui mừng nhất là t́nh thân mật của nhóm dành cho nhau rất cảm động, xem như bạn từ lúc nào. Như lúc đi chùa Tibet có các quả chuông đồng khắc các câu kinh, treo từng giải dài theo bờ tường. Mỗi người muốn cầu nguyện, đi theo chiều kim đồng hồ, lắc xoay các chuông ấy một ṿng, th́ có may mắn.

 

Buồn cười, Niki nghe tôi nói thế, vội làm theo, có lẽ anh cầu cho được xuống cân chăng, như anh có vẽ buồn khi tâm sự với tôi rằng, hai mươi năm trước anh chưa bị bịnh béo ph́ này, nhưng từ khi anh cai thuốc lá, bỗngtừ từ phát bịnh lên cân nhiều quá.

 

Nik. đang làm ở nhà bank, phụ trách phần đ̣i nợ khách hàng.

Công việc này thật là nhiêu khê hơn nghề của tôi nhiều.

Kỳ này anh thay vợ đưa con gái đicho nó xem tận mắt và hiểu cuộc sống ở xứ nghèo khó này, và cũng là phần thưởng cô bé sẽ ra trường vào năm tới. Cô bé Sas. đẹp, và rất nhu mỳ, ai cũng thương mến.

 

 

 Lúc chúng tôi gặp những nhân công khuân đá bằng thúng, gùi đeo sau lưng, có dây quàng lên đầu, nghĩa là sức nặng hơn 50 kg. đá đó, chỉ có cái cổ và lưng chịu đựng thôi. Thấy Nik. có quỳ cầu nguyện ở đền chùa, nên tôi ái ngại hỏi Nik. có biết tại sao ḿnh sung sướng, mà họ phải khổ nhọc như vậy không ?. Anh hoàn toàn không biết, tôi nói theo thuyết nhà Phật nguyên nhân cảnh sống con người như thế này do nghiệp quả và luân hồi mà con người phải chịu như vậy.

 

Nik. chăm chú nghe và tôikhông biết có hiểu hết không, nhưng nhờ đó anh sẽ t́m hiểu về đạo Phật hơn.

Vợ chồng Rob. và Ger. cũng rất thân mật, theo chúng tôi nói chuyện đùa, nhiều nhất là Rob. anh rất cở mở, chân chất, làm nông trại. C̣n Ger. làm nghề y tá, nói luôn mồm và khéo léo, ngọt ngào vô cùng. Có một lần đi chùa Tibet, thấy trời nắng nóng, tôi bỏ áo khoát và khăn choàng lại trên xe. Không ngờ đi một lúc trời lại lạnh v́ gió nhiều quá. Thấy tôi lạnh co ro, lúc nàoRob. cũng đeo balo to tướng sau lưng, nên anh có ngay áo gió rất tốt cho tôi mượn tạm. Được ấm áp, tôi mừng quá và không cần phải t́m mua thêm khăn hay áo ấm ǵ nữa cả, cám ơn Rob. vô cùng. Hôm trước thấy vợ chồng tôi mua bưởi để ăn chung với nhóm. Sau đó Rob. cũng bắt chước tôi mua bưởi và chia cho nhóm cùng ăn, rất vui.

 

Nhưng có điều tôi hơi ngạc nhiên về bà Ger. là lúc đi lên đồi để xem đền, có thằng bé ngồi sẳn ở đó, để ăn xin. Brenda có mang theo các bao “chip, snak” cho nhóm cùng ăn cho vui. Thằng bé này mon men đến gần và nh́n chúng tôi ăn mà thèm lắm. Tôi bảo cho nó ăn với, nhưng Ger. vội xua tay la lên đừng cho nó ăn, rồi trừng mắt nh́n thằng bé như xua đuổi và khinh ghét, khiến nó sợ lấm lét đi ra xa.

 

Tại sao bà làm nghề y tá th́ thương yêu mọi người chứ!

Đến cuối cùng “chip” cũng c̣n dư lại, anh nhà tôi lên tiếng là cho thằng bé hết đi, bà Ger. không chống đối nữa, nên Brenda đưachip c̣n thừa cho nó, và bắt phải vứt bao vào đúng chổ bỏ rác. Nó mừng lắm, ôm mấy bao chip sắp hết mà ăn ngon lành rồi nó phóng nhanh xuống mấy chục bậc thang để vứt baovào nơi bỏ rác, đúng như lời đă dặn.

 

Vợ chồng ông Wim và Ans. nghiêm trangít nói hơn, nhưng cũng rất hoà hợp. Có lẽ v́ bà Ans bị nghĩ việc, do hăng du lịch lớn nơi bà làm, đă bị phá sản. Bà có vẽ buồn lo, và tâm sự nhiều với riêng cô Brenda thôi. Ans đi du lịch nhiều nên có đem theo 2 cây gậy đi bộ. Lúc đến Bandipur đi bộ đường dốc khá nhiều, tôi không có gậy, Ans đưa tôi mượn một cây, dù sự thực cũng không cần gậy, nhưng nếu có th́ tốt hơn.

 

 Wim thật hiền, tôi thấy anh rất dễ ăn, ở các buổi cơm anh ăn rất ngon lành, nên hỏi anh có thích ở đây luôn không? Wim nhũn nhặn bảo đă quen sống ở Âu châu rồi, nếu ở đây chắc khó khăn lắm. Tôi hiểu anh muốn nói về tất cả mọi thứ nhất là về tôn giáo nữa, tôi đồng ư và nói thêm là ḿnh chỉ đi du lịch vài tuần th́ rất thích và mến thương đất nướchiền lành này, nhưng nếu ở luôn th́ tôi sẽ t́m công việcphụ giúp cho các nhà nuôi trẻ mồ côi chẳng hạn, như trong các film tài liệu tôi đă xem. Wim đồng ư.

 

Các bạn (trái qua phải) Rob. , Nik. và Jim

 

Phố cổ ở Bhakpatapur

 

Từ Kathmanduvallei đi 25 km. về phía đông bắc là huyện Bhakpatapur. Thế mà chúng tôi phải mấtgầnhai tiếng đồng hồ, v́ phải trở ngược qua thủ đô Kathmandu luôn luôn bị kẹt xe vào giờ cao điểm.

 

Trên đường xe cũng đi qua huyện Patan, lúc xưa là thành phố lớn và cổ hơn Kathmandu đến bốn thế kỷ. Đó là vào thờithịnh trị củahoàng-đế A-Dục cho xây nhiều đền chùa và bảo tháp thờ xá-lợi Phật. Phố rất thịnh vượng hơn phố Kathmandu. Nhưng qua thời gian từ từ phố Kathmandu trở nên phồn thịnh ngày một lớn, vượt hơn cả phố Patan.

 

Phố cổ Bhakpatapur khá rộng có hai cửa thành kiểm soát, người ra vào phải mua vé. Vé bán ở các tụ điểm du lịch giá chênh lệch rất nhiều, người nước ngoài giá rất cao hơn người trong nước và các nước thuộc Cộng-hoà Liên- bang Nepal( SAARC. Hiệp Hội hợp tác khu vực Đông-Nam-Á)

 

Đường vào cổng thành cổdốc cao, hai bên lề lỡm chổm gạch đá vụn, nhà cửa nhô ra thụt vào hổn tạp đủ kiểu. Ấy vậy mà ngập đầy người và xe gắn máyra vào tấp nập, lề đường hẹp tép mà nhiều xe honda c̣n lấn vào, người đi bộ chen chân khó khăn lắm mới vào được bên trong cổng thành. Riêngxe hơi th́ không được vào.

 

Chúng tôi đến nhà trọ antiek Bhagaon guest House, ởngay đầu phố. Đấy là căn nhà rất cổcao từng bằng gỗ, bên trong kiến trúc đẹp mỹ thuậtvà nằm ở vị trí khá tốt, chắc rằng kháchtrọ đi đâu cũng không sợ lạc.

 

Chỉ tiếc là nhà đang xuống cấp trầm trọng, chỉ dùng được một phần phía mặt tiền, c̣n phía sau th́ hư hoại bị cấm dùng. V́ nhà thuộc hội bảo vệ di tích lịch sử quốc-gia, nên không được sửa chửa theo ư muốnhay sửa thành hotel, đành để phần sau nhà bỏ trống như vậy.

Chúng tôi mới đến, đang đứng lớ ngớ trước nhà trọ, th́ có người đến chào hàng bán chuông và dao quắm kurkri. Dù dao này là vật du khách thích mua làm kỷ niệm, nhưng chúng tôi không mua, v́ nh́n nó đă thấy sợ rồi.

 

Bắt đầu từ đây, khi đi đến nơi nào mới, th́ chúng tôi lại có thêm guid địa phương nữa, v́ luật du lịch cô Brenda phải thuê thêm.

 

Nơi đây nổi tiếng với những các ngành nghề thủ công cổ truyền và những di tích lịch sử. Tuy nhiên, hiện nay khi tới nơi, chúng tôi hơi thất vọng một phần lớn v́ Bhaktapur bị hủy hoại nặng nề trong trận đại địa chấn của bốn năm trước (2015). Với tâm địa chấn ấy nằm phía tây Kathmandu, th́ một tháng sau lại bị trận động đất thứ hai, với cường độ không kém tại phía đông là huyện Bhaktapur, đă làm sụp đổ phần lớn các cung điện, đền chùa đang c̣n rung rinh.

 

V́ vậy đi đến đâu cũng thấy họ đang chấp vá sửa chửa tùm lum, nhưng vấn đề quan trọng là khó t́m thợ tu bổ cho các kiến trúc xưa, từ mấy trăm đến mấy ngàn năm trước. V́ vậy họ cứ nhẫn nại mà làm thôi.

 

 Gần nhà trọ là ḷ làm đồ gốm, trên sân phơi bày la liệt các lọ nhỏ, lu hủ bằng đất nung nâu sậm theo kiểu cổ truyền. Do đó thợ nặn rất công phu, cả ngày phơi đầu ngoài nắng hay canh ḷ nướng nóng mấy ngàn độ suốt hai, ba ngày. Vậy mà lại bán rất rẻ, v́ du khách nào ai muốn mua những thứ nặng nề, cồng kềnh như thế.

 

Có tiệm bán kem yaourt rất ngon, đựng trong cái chun đất bé xinh xinh. Vậy mà ăn xong th́ vất bỏ cái chun ấy đi, v́ họ cần làm cái mới hơn là dùng lại cái cũ. Tiếc của, tôi đem về làm kỷ niệm.

 

 Phố cổ khá rộng, các hàng quán tiệm tùng đủ loại quần áo, nhiều nhất là khăn len casmere (lông dê xoăn) hay len Pashmina ( lông dê dài). Tất cả sản phẩm đa số là từ anh China làm ra, nên chúng tôi không mấy tin tưởng đấy là lông casmere hay pashmina. Tuỳ theo giá tiền đắt rẻ, tôi chọn chiếc khăn trắnglen mà lại mền mơng như vải “phin”và có h́nh voi màu nâu cánh dán rất đẹp.

 

 

 Suốt ngày ở đây đều có chợ bán rau quả tươi, dưới đất hay trên xạp, giống hệt các chợ chồm hổm ở các làng quê ḿnh, tôi thấy chỉ có một hàng cá tươi, trông rất hấp dẫn. Nhưng khi vào restaurant gọi món cá th́ đừng mong được ăn cá ngon, mà c̣n ngược lại mới lạ. Th́ ra cá ở đây chỉ có vài loại cá thịt nhăo nhẹt bắt ở sông hay hồ, chứ không có cá ngon như ở sông, biển vùng Noordzee của Âu châu.

 

Loanh quanh đi qua các con ngơ nhỏ hẹp và đầy gạch đá. Nơi này sửa đường xá đấp mô nước chảy tràn lan, nơi kia đền chùa sửa chửa bừa bải tùm lum. Nhưng chúng tôi rất thích thú nh́n ngắm các di tích lịch sử, nhất là chung quanh du khách đi lại tấp nập vui như tết. Nhờ vậy nơi đây lại có các bà bán đồ nử trang model, chạy theo chào mời khách rất khéo léo. Do kinh nghiệm du lịch, chúng tôi không mua quà ǵ cả ngoài những món cần thiết lúc ấy. Nhưng lần này tôi không thoát khỏi, nên đành mua một colier làm bằng tay, khá mỹ thuật, có medaile hơi to h́nh mandala rất đẹp. Nhưng anh nhà tôi cười chế nhạo bà bán, là làm bằng tay hay bằng máy của “made in China”, v́ vậy anh chả mua ǵ cả.

 

Nhưng các bạn đi cùng th́ lại ṭ ṃ, muốn xem tôi mua ǵ, và khen đẹp quá làm tôi vui v́ nghĩ chắc không bị hố.

 

 

 

Cung điện ( h́nh trên) gây được nhiều thích thú là “cung điện 55 cửa sổ ” của một vị vua trong triều đại Malla. Một vương triều lớn của một vương quốc ở xứ Nepal vào thế kỷ thứ 17 - 18, khi đó Bhaktapur là kinh đô của vương quốc này. Vua có 55 phi tần, để công bằng, ngài cho xây cung điện này làm hậu cung, mỗi bà phi có một pḥng, đánh dấu bằng 55 cửa sổ có h́nh chạm trang trí khác nhau, mỗi cửa được làm từ một cây gỗ teak riêng.

 

Nh́n cảnh này tôi liên tưởng đến những đoạn thơ trong tuyệt phẩm Cung-oán-ngâm-khúc của ngài Nguyễn-gia-Thiều, mà ngày xưa phải học thuộc ḷng. Bỗng thấy ḷng rưng rưng, thương các nàng cung nữ của triều đại ngày xưa, nay hồn nơi đâu?

 

…Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió

 Áo vũ kia lấp ló trong tràng..

.. Thân này uốn éo v́ duyên

 Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời..

…Đang tay muốn dứt tơ hồng

Bực ḿnh muốn đạp tiêu pḥng mà ra..

.. Pḥng khi động đến cữu trùng

Giữ sao cho được má hồng như xưa...

 

 Cái tâm sự đau đớn của cung nữ Việt ngày xưa, có lẽ không khác ǵ nỗi ḷng các cung phi nơi đây, của chế độ phong kiến ngàn năm trước, đă đối xử phủ phàng với các cung tần. V́ ngoài 55 bà phi này ra, biết các vua kia c̣n có bao nhiêu bà thiếp nữa??

 

Ở đây có các nghề thủ công truyền thống như chạm khắc gổ, nghề dệt, nghề đúc chuông đồng làloại chuông chùa và chuông để chữa bịnh, chứ không phải chuông treo. Có nhiều tiệm bán chuông đủ loại to nhỏ. Tất cả đúc bằng đồng rất tốt, nghe tiếng thanh, cao và ngân ấm rất lâu, và h́nh dáng rất đẹp có mỹ thuật, chạm khắc chử bên ngoài. Tôi đă mua lúc trước ở tiệm Tibet ở Hoà-lan rồi, nên lần này khỏi mua mang về cho nặng. C̣n loại chuông của Tàu đúc bằng đồng pha thau, tiếng kêu không hay và khác rất nhiều với loại chuông này.

 

Họ mời chúng tôi vào tiệm để nghe nhiều loại chuông, và cách dùng chuông trị bịnh đau đầu hay đau các khớp tay, chân. Nghe thế bà Ger. bèn t́nh nguyện thử bịnh đau đầu, c̣n Nik. th́ thử đau đầu gối. Họ chụp cái chuông to tướng lên đầu Ger. rồi đánh nhè nhẹ lên, tiếng ngân vang vào tận óc bà. Sau đó, tôi hỏi Ger. và Nik. có thấy ǵ tốt hơn không, cả hai đều lắc đầu. Cuối cùng chả ai mua, mà tiệm cũng lịch sự không quảng cáo nói nhiều ǵ cả. Tôi chỉ xem bảng giá dán trên các chuông to mà le lưỡi, đắt lắm.

 

 

 Buổi tối, cả nhóm đi t́m tiệm ăn ngon như được giới thiệu. Đi qua các chùa đền có từng nhóm người trong đạo, ngồi ngoài hành lang, đốt đèn dầu trâu leo lét. Họ đàn và hát các bài kinh Phạn có ca có kệ khá hay, nhưng ḿnh không hiểu ǵ cả. Trời tối nhưng các hàng bán rau cải, trái cây ngồi bẹp dưới đất đốt đèn leo lét, nấn ná chưa dẹp hàng, chỉ có các ông bán trái cây trên xe đạp là về nhà sớm hơn.

 

 V́ thường là bụt nhà không thiêng, nên chúng tôi cứ đi loanh quanhđể t́m tiệm ăn ngon. Khi ṃ ra được tiệm ấy, vàoxem menu có vẻ chả ngon tí nào, bèn quay về ăn tại quán trọ của ḿnh, mà lại thành công.

 

 Pḥng ăn trên từng lầu cao nhất, tận sân thượng để khách nh́n bao quát quảng trường này, ban đêm đẹp vô cùng. Tuy gió rất lạnh nhưng chúng tôi trùm áo len dầy, ngồi ngắm các đền chùa, thấp sáng đèn nhấp nhánh đẹp như sao đêm. Nhà hàng nấu rất ngon, phục vụ lịch sự, kính cẩn và chu đáo vô cùng mà giá cả không đắt, chỉ bằng một nữa ở Âu châu.

 

 Ngồi đây ḿnh thấy hạnh phúc được làm người ở xứ văn minh hơn người dân nơi đây, v́ không phải bon chen kiếm sống khổ cực mỗi ngày như họ, rồi thấy thương dân Nepal vô cùng. Nhưng sự thực họ có khổ cực thật, nhưng hạnh phúc họ vẫn có, ai biết !

 

Tối đi ngủ c̣n nghỉ các bạn đi t́m nơi khác ăn, có ngon bằng nơi đây không?

 

 

 

Xem PHẦN 3

 

 

 

 

 

Lê Thị Thanh Tâm
6/2020

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: Lê Thị Thanh Tâm                  |                 www.ninh-hoa.com